Rừng xanh

 

(Tổ Quốc)- Nơi tôi đang đứng là đỉnh của Tôộc Hố Đá, cái tên nghe lạ, nhưng đã có từ rất xa xưa. Đây cũng là khu lăng mộ - nơi yên nghỉ cuối cùng của tất cả những người thân trong gia đình đã ra đi về với cõi vĩnh hằng. Đồi cao lộng gió bốn phương. Có lẽ các ông, bà, cô, cha, mẹ, anh, chị… chúng tôi cũng không ngờ được nằm trên một đỉnh cao như thế. Cũng như người sống, khi đất nước chưa được đổi mới, cuộc sống cơ cực, ăn ở trong lều tranh vách đất, những người đã khuất của họ hàng chúng tôi chỉ được yên nghỉ trong những ngôi mộ bằng đất phân tán khắp những cánh đồng thấp trũng. Mùa dãy mả, chú cháu đội mưa, rẽ gió lội đồng vất vả. Bây giờ thì tất cả đã yên vị đỉnh đồi. Ông bà có thể nhìn được con cháu khắp mọi hướng, mọi nơi.

Từ đây có thể phóng tầm mắt nhìn ra đến tận núi Hòn Bung (dẫy núi Lệ Đệ). Nhìn về tận Thọ Lộc, nhìn lên tận Khương Hà, nhìn qua đường Hồ Chí Minh. Nhìn rộng khắp bốn phương, với bán kính trên 5 cây số. Càng nhìn càng đau xót và chảy cả nước mắt. Nhiều lần tôi đã hét lên “Rừng ơi!” với cao độ của những tiếng hét ấy, ngày xưa thấu tận vào rừng và rừng vọng về vang khắp cả quê tôi. Còn bây giờ, những tiếng hét ấy vừa phát ra đã tan chảy vào không gian nắng rát, hoặc mưa trào. Rừng ơi! Nơi tôi đang đứng ngày xưa là vùng rừng núi tốt tươi, rậm rạp, bạt ngàn một màu xanh mênh mông, tưởng như vô tận, với rất nhiều loại gỗ quý, đủ loài chim, thú, đủ loại hoa thơm, quả ngon. Nối liền với Tôộc Hố Đá là vùng rừng núi Mang Tang, kéo dài lên tận Việt Trung, Ba Rền. Bên cạnh là Lòi (1) Chó Đợi, Cồn Chay cây cối chen chúc nhau sum suê. Ngay giữa làng tôi còn có cả Rú Nguốn và lòi Cơn Ngấn nhỏ, nhưng vẫn đủ các loài cây rừng cao và to, có rất nhiều cây Dạ hương một người ôm không xuể, nhiều người vào bị đi lạc cả ngày. Ven rừng là một dòng sông mà người làng tôi gọi là Troong (2), có dòng chảy từ trên núi Ba Rền về tận sông Son, in đậm bóng tre xanh ngắt hai bờ. Viền quanh còn có mương nước Chó Đợi, hến như sắp lớp dưới đáy, chỉ cần vừa tắm trong dòng nước trong mát vừa xúc trong một giờ đồng hồ là được một rổ to, về nấu canh, nấu cháo, mùa hè ăn mát tận ruột… Dân làng tôi thường lên đây để chặt gỗ về làm nhà với những cột gõ, cột mít nài, cột huỵnh, có cả dạ hương… ròong to bằng cái lu. Các bà, các chị và lũ trẻ thường vào rừng nhặt hạt sót, hạt mít nài, hạt dẻ, hái bùi, hái quả nổ, quả la lả… mang về từng bao tải rang và luộc ăn rất ngon. Những thứ ấy, bây giờ nhắc lại chỉ thèm, vì nó đã trở thành đặc sản, khó tìm kiếm. Những buồng Chuối Giời và những nải Mù Tru chín đỏ như những quả chuối cau treo lơ lửng trên thân giây. Mùa nào quả ấy: Dâu, muồng, Móc, Sim chín mộng, đưa tay ra chổ nào cũng hái được. Vào rừng như vào giữa một giàn nhạc khổng lồ, với bao âm thanh, tiết tấu diệu kỳ đan xen vào nhau. Tiếng cây reo trong gió. Tiếng lá rơi xào xạc. Đủ kiểu hót véo von của các loài chim. Tiếng gà rừng gáy… Tất cả hòa chung bản tình ca rừng ngân mãi. Từ trên vùng rừng núi bạt ngàn này, thỉnh thoảng vài con nai lạc về làng, có khi có những đàn lợn rừng chạy về khắp xóm. Dân làng chặn bắt đánh chén ngon lành. Nhiều lần hổ kéo về vào tận từng nhà bắt lợn vác đi. Đêm đêm dân làng phải dùng mâm đồng, thùng, nồi đánh, gõ đuổi hổ vang rộn và đã xuất hiện người hùng nổi tiếng Mai Văn Giá dùng sức vật và giết được một con hổ to gần một tạ. Chim rừng về sống trong vườn nhà. Trong đầu mỗi người chẳng màng ý đánh bắt thú rừng giết thịt.


Rừng nguyên sinh ở biên giới Việt - Lào (ảnh: Guardian)

Rừng bao quanh làng tôi. Rừng xanh một màu tươi mát. Phía bắc là dãy Lệ Đệ. Dãy núi mà Lê Quý Đôn viết trong sách “Phủ biên tạp lục” là “một dãy núi xanh đứng chắn ngang bên trời”. Nguyễn Bỉnh Khiêm thì gọi là Hoành Sơn Thuận Hóa. Dương Văn An khẳng định trong sách Ô Châu Cận lục rằng: “Dư khí của núi Lệ Đệ tỏa ra làm cho đất và người trở thành hùng vĩ. Có trời đất thì có sông núi, có con người. Núi mọc sông chảy thì muôn vật sinh ra. Nhân tài do khí đất chung đúc nên và khí đất lại nhờ có nhân tài mà phát xuất”. Nằm giữa núi Lệ Đệ có vùng Ba Trại, được coi là một thắng cảnh tuyệt vời chẳng kém thua Đà Lạt. Bốn mùa vi vút thông reo. Khí đất, khí của rừng núi Lệ Đệ đã nâng “Con nai vàng ngơ ngác- Đạp trên lá vàng rơi”(3) lên tầm cao của nền thi ca Việt Nam.

Nhìn về Phương Nam, rừng từ quê tôi là chân của dãy Trường Sơn hùng vĩ. Nằm giữa lòng Di sản thiên nhiên thế giới vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng là dãy núi Ba Rền. Trên dãy núi ấy có đỉnh U Bò cao 1.009 mét so với mực nước biển. Đứng trên đỉnh U Bò phóng tầm mắt ra xa là ngút ngàn màu xanh của rừng núi, là những cánh đồng trải dài bất tận, là thành phố Đồng Hới lung linh ánh điện đủ màu sắc, với nhiều tòa nhà cao soi mình bên sông Nhật Lệ, là bãi cát, là dòng sông Gianh uốn lượn qua những vùng quê, là Vũng Chùa Đảo Yến, Hòn La và Đèo Ngang “cỏ cây chen lá, đá chen hoa”... Cả vùng rừng núi Ba Rền lúc nào cũng vang lên tiếng chim hót, vượn kêu... Vào mùa hè, với nhiệt độ từ 22 đến 30, không khí dễ chịu, thoáng đãng, làm cho tâm hồn thảnh thơi, không khác gì đi giữa Đà Lạt. Giữa mênh mông màu xanh ngăn ngắt, nổi lên hai dòng thác, như hai dải bạc vắt xuống. Dân quê tôi gọi là thác Ba Rền. Hai dòng thác như hai tấm gương chiếu sáng những chiến công che chở cho cán bộ và quân ta trong thời chống Pháp, gợi lên trong tôi những bước chân không biết mệt mỏi của những chú bé liên lạc, dẫn đường đưa những đoàn quân cách mạng xuyên qua rừng đi hoạt động, mà đồng chí Lê Đức Thọ đã viết: “Tuổi em vừa mới mười lăm - Người làng Cự Nẫm chắc anh biết rồi...”. Người làng Cự Nẫm quê tôi, mỗi lần nhìn lên hai dòng thác, chắp tay cảm ơn rừng đã cứu sống trong những tháng năm đói khát, tự hào với những cống hiến của mình trong thời kỳ Bình Trị Thiên khói lửa, lấy hai ngọn thác làm chuẩn để mỗi ngày thức dậy là hướng về miền Nam, để tỏ rõ trách nhiệm của “Làng mặt trận” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Quê tôi vừa sản xuất giỏi được tuyên dương “Đơn vị anh hùng lao động” trong những năm đánh Mỹ, chiến đấu giỏi được tuyên dương danh hiệu “Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, vừa là nơi đưa tiễn hàng trăm đoàn quân vào mặt trận và tiếp đón hàng trăm đoàn quân từ chiến trường ra, chu đáo chăm sóc cho từng người lính Cụ Hồ mau lành vết thương, thường xuyên mạnh khỏe đủ sức đánh thắng kẻ thù, sớm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Rừng và người thân thiện bên nhau, hỗ trợ nhau trong cuộc sống và chống giặc bảo vệ Tổ quốc. Thời chiến tranh chống Mỹ cứu nước, bên cạnh những đội sơn tràng, hàng ngày đập trâu vào rừng đốn gỗ về phục vụ công tác phòng không cho tập thể, lũ học sinh chúng tôi cũng vào rừng chặt nạng hầm về làm hầm ở trường và làm hầm cho gia đình. Hết lên lớp là lên rừng, làm chẳng biết mệt. Đói thì đã có những quả hồng leo chín đỏ treo dày trên những thân leo. Những quả mít nài chín, buột vỏ ra là thấy toàn múi. Khát thì đã có những dây sót to bằng cổ tay, chặt ra, nước trong thân cây chảy như vòi nước chảy, cứ ngửa cổ uống ưng ực, mát và ngọt như nước đường. Uống xong, sự mệt mỏi trong người bỗng tan biến. Rừng đã cống hiến cho con người tất cả những gì mình có. “Rừng che bộ đội”, che những đoàn quân và đoàn xe ra mặt trận. Rừng tạo nên những tuyến đường giao liên bí mật, an toàn. Rừng góp phần tạo ra những chiếc hầm chữ A, những căn nhà hầm, chuồng hầm… bảo vệ sự sống cho con người, cho gia súc dưới mưa bom bão đạn liên tiếp của giặc Mỹ. Rừng lát đường chống lầy, bắc qua hố bom thù cho xe ta vào chiến trường đánh Mỹ - ngụy. Rừng ngụy trang che sự xoi mói của lũ quạ Mỹ, trên những trận địa pháo, tên lửa ngày đêm sẵn sàng nã vào đầu giặc Mỹ… Có thể nói, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rừng đã phải chịu bao đau thương mất mát dưới hàng triệu tấn bom đạn, bom lân tinh, bom na pan, chất độc do giặc Mỹ tập trung đánh phá mang tính hủy diệt. Rừng còn thường xuyên bị con người tận dụng đốn chặt hàng triệu m3 gỗ về phục vụ công tác phòng không nhân dân, phục vụ chiến đấu và chi viện cho chiến trường. Giữa dãy Ba Rền, người ta còn đặt một xưởng cưa liên tục cưa gỗ. Phục vụ kéo gỗ là những chú voi, mà có những chú voi ở đây đã được Nhà nước tặng Huân chương vì đã có thành tích phục vụ. Rừng như ngày nào cũng mở hội cống hiến cho Tổ quốc, ngày nào cũng “xen lẫn tiếng rìu, tiếng cưa nhịp nhàng khắp trên non ngàn. Cây đổ rền vang như tiếng pháo. Tiếng hò nhịp theo trâu kéo gỗ…”(4). Cống hiến hết mình như thế, vậy mà sau chiến tranh, rừng vẫn bạt ngàn xanh tươi. Hình hài của những khu rừng vẫn còn nguyên vẹn. Rừng còn ở cạnh mép làng quê tôi. Những cây được phục vụ đất nước và con người trong chiến tranh, còn gốc tiếp tục đâm chồi vươn lên cùng con người hàn gắn vết thương chiến tranh!

Hòa bình. Đất nước trọn niềm vui thống nhất. Cuộc sống ngày càng phát triển nhanh chóng. Nhu cầu của con người và xã hội ngày càng vô hạn. Nhiều con đường được mở ra, cắt rừng ra nhiều mảnh. Có giao thông thuận tiện, con người lại kéo nhau lên ở ven đường, hầu mong có mặt tiền! Chí ít cũng thuận tiện đi lại. Lại san ủi rừng làm mặt bằng, làm trang trại, làm vườn, mỗi nhà vài sào đất. Có nhà đến vài héc ta. Người ta lại tìm chặt đốn những cây gỗ to, gỗ tốt về làm nhà, làm bao nhiêu việc theo ý muốn. Mỗi cây to đổ xuống, hàng chục cây chết theo. Không ít kẻ lòng tham vô đáy, biến mình thành giặc của rừng, tổ chức chặt đủ loại gỗ đem bán. Ngày xưa, một cây to, ba người chặt một ngày chưa đổ. Ngày nay, bọn họ dùng bằng máy, “xoẹt” vài giờ là cây to mấy cũng thành khối, thành súc, vuông thành, sắc cạnh. Ngày xưa, kéo từng cây gỗ bằng trâu, hoặc khiêng bằng sức người, thì ngày nay đều chất hàng khối lên xe ô tô chở. Ai cần mua là chở đến tận nơi, chở đến đâu cũng chở! Gỗ là tiền, là trên tất cả, bọn họ sẵn sàng đánh chết, đánh bị thương những người làm nhiệm vụ bảo vệ rừng và những người có ý thức bảo vệ rừng, để vào rừng khai thác lâm sản. Lâm tặc cuồng vọng. Những nhà quản lý rừng lại có quá nhiều “sáng kiến” chuyển đổi rừng thành những vùng cây-con theo ý muốn. Sự “chuyển đổi” với nhiều dự án lắm tiền ấy, đã biến hàng ngàn ha rừng thật thành rừng giả! Rừng cứ thế mà lụi dần. Rừng thiêng, rừng nguyên sinh nhanh chóng trở thành đồi trọc.

Khi chiến tranh đi qua, đoạn đường Tỉnh lộ 2 đi qua làng tôi- đoạn đường đã mang đầy chiến công và kỳ tích trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước, nối liền với cửa ngõ đường Hồ Chí Minh, từng nâng bước cho hàng trăm đoàn quân và hàng ngàn đoàn xe vào trận… bị phế bỏ, thay vào đó là mở đường mới xuyên qua rừng, gọi là đường Tỉnh 561, thì rừng hai bên đoạn đường mới từ Ba Trại đến Xuân Sơn bị biến mất. Nhà cửa san sát hai bên đường. Mỗi nhà chiếm lĩnh vài héc ta đất, bán, cho đất mặt tiền thỏa mái. Rừng rậm với muôn loài lâm sản quí, bỗng chốc trở thành những đồi bạch đàn, những đồi sắn, oằn mình dưới cái nắng chang chang…

“Rừng ơi ta đã về đây!”. Chẳng phải theo câu hát, mà ta thường xuyên về quê, mà không còn thấy bóng dáng rừng. Đứng trên đỉnh của núi rừng năm xưa mà lòng thắt lại, mà nhớ nhung. Bao kỷ niệm một thời quý giá cứ hiện lên. Nhớ rừng, nhớ cái thời mấy trăm học sinh cấp 2 xã là xã viên hợp tác xã măng non do tôi làm chủ nhiệm, ngày ngày vào rừng bứt lá về làm hàng khối phân xanh, giúp cho cánh đồng quê vang lên “Bài ca 5 tấn” át cả tiếng bom. Nhớ lại những buổi bạn bè rủ nhau đi chặt củi khô, thi nhau bó đẹp mỗi gánh to nặng hơn nửa tạ và chặt những chiếc nạng hầm thẳng đẹp. Nhớ những buổi cùng nhau vào rừng, lên đồi hái sim, hái dâu, hái muồng, hái móc… vừa hái, vừa ăn tím cả miệng. Rừng xanh, muôn sắc hoa, hương thơm ngào ngạt đã tạo nên bao mối tình tuyệt đẹp. Thuở ấy, thật là: “Rừng rừng hoa với chim ca vui tưng bừng- Suối nước trong xanh soi bóng anh và bóng em- Bên nhau cùng sống vui êm đềm…”(5).

Nhớ! Nhớ nhiều lắm! Rừng ơi!

Bút ký của Kim Cương

----------------------------------

(1): Lòi và Rú là một rừng nhỏ được khoanh gọn trong một vùng

(2): Troong là con sông nhỏ

(3): Thơ Lưu Trọng Lư

(4): “Bài ca người thợ rừng” của nhạc sĩ Phạm Tuyên

(5): Lời bài hát “Tình ca Tây bắc” của Bùi Đức Hạnh

Bản để in E-mail bài này Đưa vào Favorites
Chủ Nhật, ngày 30/4/2017