Cho em một cái tên


Bản có một sản phụ vừa mới chết.

Và một đứa trẻ sắp bị chôn sống.

Thiếu tá Trương Vỹ Lê và các chiến sỹ trong đội vận động quần chúng đồn Biên phòng Cha Lo nhận được thông tin ấy khi đang trên đường về bản Ka Ai kiểm tra tình hình đời sống của đồng bào.

Không thể để hành động man rợ này diễn ra!

Không thể để hủ tục lạc hậu tồn tại mãi!

Trong sự hối thúc của con tim, không ai bảo ai các anh đồng loạt co cẳng chạy nước rút như trong chặng cuối cuộc đua về phía ngôi nhà sàn có người mới qua đời. Dân bản đang bàn chuyện tang ma. Đứa trẻ sơ sinh cất tiếng khóc yếu ớt và tím tái vì đói và rét sắp bị người ta cột vào thi thể mẹ đem chôn. Người cha đau đớn với nỗi đau mất vợ và đang đối mặt nỗi đau mất con, bất lực chìm trong men rượu tìm quên nơi xó nhà. Thiếu tá Trương Vỹ Lê đã nghe nói về hủ tục mẹ chết chôn sống con theo từ lâu nhưng đây là lần đầu anh tận mắt chứng kiến. Đối mặt với gian nan vất vả, thậm chí hiểm nguy đến tính mạng anh không cảm thấy căng thẳng như khi cứu đứa trẻ đang nằm thoi thóp những hơi thở cuối bên thi thể người mẹ. Tự bao giờ, đồng bào các dân tộc ít người ở miền tây Quảng Bình nuôi giữ một lời nguyền nghiệt ngã: Người phụ nữ trong bản sinh nở, trong 100 ngày ở cữ mà không may bị qua đời thì đứa con cũng bị đem chôn theo mẹ. Vì trong 100 ngày ấy, đứa trẻ chưa phải là con của “Người” mà còn là con của “Giàng”. Mẹ chết phải cho nó đi theo để nó về lại với “Giàng”. Sau 100 ngày, mọi chuyện yên ổn, đứa trẻ mới được công nhận thân phận và được đặt tên.

Thiếu tá Lê và đồng đội biết rằng đánh bật niềm tin ấy ra khỏi nhận thức của đồng bào rất khó và cần có thời gian. Mệnh lệnh khẩn cấp là phải cứu đứa trẻ thoát khỏi cái chết.

Vừa cứng rắn khuyên bảo, thậm chí còn đưa cả pháp luật của nhà nước ra để áp đảo. Đồng bào không sợ, tỉnh bơ với niềm tin của mình:

- Để cho hắn sống thì mẹ hắn thành con ma trở về phạt dân bản đó!

Lại mềm mỏng thuyết phục, đánh thức tình người trong trái tim đồng bào. Đồng bào vẫn kiên quyết:

- Hắn sống thì lấy chi mà nuôi hắn. Cho hắn đi theo mẹ để hắn bú.

Cuối cùng đồng bào buộc bộ đội phải cam kết:

Một là: Nếu bản bị con ma bắt vạ, bộ đội phải đền.

Hai là: Để đứa trẻ sống thì bộ đội phải nuôi.

Một giây chững lại suy nghĩ: Từ bản lên đồn khoảng hơn 20 cây số, đường lại đèo dốc quanh co, đi xe máy nhanh lắm cũng mất gần cả tiếng đồng hồ. Trong lúc đó mạng sống của thằng bé đang tính từng giây. Xin được ý kiến chỉ huy e không kịp mất. Trương Vỹ Lê và đồng đội liều mạng nhận hết, miễn sao giữ thằng bé ở lại với cõi sống. Khi mọi chuyện đã ổn, tổ công tác trở về đồn báo cáo Trung tá đồn trưởng Trần Thanh Tâm:

Báo cáo thủ trưởng, bọn em vừa cứu được một cháu bé suýt nữa bị chôn sống theo mẹ ở bản Ka Ai.

Rất tốt! Bây giờ đứa trẻ ở đâu?

Dạ, chị nó cũng đang ở cữ, bọn em gửi lại ở bản xin cho nó bú nhờ chị nó.

Ừ! May quá. Trẻ con mà thiếu sữa mẹ thì gay. Nhưng để nó một mình, dân bản mang nó đi thì sao?

Dạ bọn em cử người ở lại cắm bản rồi ạ.

Vậy thì yên tâm rồi!

Nhưng mà…

Nhưng mà sao?

Dạ, bọn em hứa với dân bản là nếu dân bản bị con ma bắt vạ, bộ đội phải đền.

Ừ, phải cứu đứa trẻ đã. Bộ đội làm việc tốt, chẳng có con ma nào bắt được. Yên tâm đi!

Dạ, bọn em còn hứa bộ đội sẽ nuôi đứa trẻ đến 18 tuổi nữa…

Dạ tình thế khẩn cấp mà đồn xa quá nên bọn em liều…

… Không sao! Vậy cũng tốt. Tôi sẽ trích tiền lương hàng tháng để nuôi cháu.

Sau lưng Thiếu tá Trương Vỹ Lê đã có rất nhiều sỹ quan, chiến sỹ vây quanh, ai cũng giơ tay xin ủng hộ tiền lương nuôi đứa trẻ:

Em nữa..

Em nữa…

Mấy cậu lính nghĩa vụ nhảy loi choi:

- Cho cháu với. Cháu có phụ cấp. Cháu xin ủng hộ nuôi em…

Từ đó thằng bé trở thành đứa con chung của các thế hệ cán bộ chiến sỹ Đồn biên phòng Cha Lo. Cứ đến kỳ nhận lương, không ai bảo ai, mỗi cán bộ chiến sỹ của Đồn biên phòng Cha Lo đều trích ra một khoản tiền nhỏ gửi nuôi thằng bé. Các anh đặt cho nó tên là Hồ Dưỡng. Trên đường đi địa bàn hay kiểm tra cột mốc, ai cũng dành thời gian tạt vào bản thăm nó. Cứ thấy bóng áo xanh biên phòng là Hồ Dưỡng nhào ra đòi bế. Họ là những người cha!


Ảnh minh họa (mecon.vn)

Trong các tộc người thuộc dân tộc Vân Kiều ở Quảng Bình, người Mày có nơi cư trú cao nhất. Bản Ka Ai, xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa ở bên cạnh khe nước nhỏ, đầu nguồn sông Gianh. Người Mày gọi là “Khe nước rụng”. Nhân dịp lên thăm gia đình Anh hùng LLVTND Hồ Phòm tôi đã theo chân Bộ đội biên phòng đồn Cha Lo đến đây. Ở thâm sơn cùng cốc, trời càng về chiều người tha phương càng buồn và nhớ. Một cảm giác chơi vơi dâng ngập trong tim. Trên con đường nhỏ dẫn vào bản tôi chỉ gặp đàn bà con trẻ. Phần lớn đàn ông vào rừng kiếm sống. Bản nhỏ vắng lặng giữa rừng. Những bà già ngực trần ngồi bên khung cửa nhỏ, để lộ đôi vú nhăn nhúm trôi dài xuống tận cạp váy, trên miệng trễ nải cái tẩu to. Thỉnh thoảng các bà bập bập đôi môi vào chiếc tẩu, một làn khói xám vờn lên, phả vào không gian mùi lá thuốc khô. Khét, nồng và nặng. Người lạ ngửi phải sẽ có cảm giác say rất khó tả. Gương mặt họ như đã bình thản từ rất lâu. Nhưng thấy các chiến sỹ biên phòng, những gương mặt ấy vụt sáng lên. Lũ trẻ con cũng xúm xít chạy lại. Bản có vẻ vui hơn. Về bản lần này các anh mang theo đường, sữa cho cu Dưỡng, đứa con nuôi của đồn. Trên ngôi nhà sàn nhỏ có cô gái cặp nách hai bên hai đứa trẻ. Mỗi đứa ngậm một bên vú. Những đôi mắt mở to. Những bàn tay bé nhỏ ôm lấy bầu sữa, say sưa tận hưởng. Thiếu tá Trương Vỹ Lê cho tôi biết một trong hai đứa là Hồ Dưỡng. Thấy bộ đội và khách lạ bước lên sàn nhưng cô không có ý cần phải che đậy. Đôi vú của người mẹ trẻ vẫn hồn nhiên căng nhức mở ra trước mắt tôi. Tôi chưa thấy đôi vú nào mêng mang hơn thế, tràn trề hơn thế, gợi cảm hơn thế. Mấy anh lính trẻ tủm tỉm cười, vô tư cầm lấy tay thằng bé âu yếm. Có lẽ trong các tư thế nuy, tư thế người mẹ vạch vú cho con bú không hề có tính gợi dục.

Mặc dù sự hiện hữu của Hồ Dưỡng đã trấn tĩnh tôi nhưng khi đứng trên ngôi nhà của em nhìn một vòng quanh bản tôi vẫn hình dung ra những âm vọng kinh hãi từ hủ tục mà đồng bào các tộc người trên dãy Trường Sơn phải chung sống từ bao đời nay. Mới nhận ra rằng, con người ta sống không chỉ cần có cơm ăn, áo mặc. Nhận thức là phạm trù vô hình mà lại vô cùng quan trọng. Thiếu nó, con người sẽ bị nhấn chìm trong ngu muội và độc ác. Tự hỏi: Không biết trong những tình huống ấy, nếu Bộ đội Biên phòng không nắm được thông tin hoặc đến muộn thì sẽ thế nào? Một cảm giác rùng mình chạy dọc sống lưng. Kể cả người có máu lạnh chắc cũng không dám hình dung ra những gì diễn ra tiếp theo…

*

Mùa đập trống của người Ma Coong lại đến. Tôi lặng lẽ bước đi theo dư âm của những mùa trống cũ lên đây khi bản Cồn Roàng nhộn nhịp vào hội. Một người đàn ông dáng dấp thư sinh ngồi ninh mây trong chiếc nồi đồng cổ. Một chàng trai tóc xoăn, da nâu đang chăm chút đẽo những thanh tre già. Thi thoảng họ lại nói với nhau điều gì đó, gương mặt bừng lên những nét vui. Có mối liên quan gì giữa hai con người mang dung mạo khác nhau này? Thiếu tá Trần Minh Lợi nói rằng:

Họ là hai cha con!

Khó tin!

Còn có những điều khó tin khác đằng sau mối quan hệ này.

Người Ma Coong ở Tân Trạch - Bố Trạch là tộc người thuộc dân tộc Bru Vân Kiều nên cả tập tục, hủ tục, phong tục tương đồng với người Mày ở Dân Hóa- Minh Hóa. Lâu nay đồng bào vẫn tin vào lời nguyền nghiệt ngã: “Mẹ sinh nở mà chết rồi thì phải chôn con theo cho họ. Nếu không người mẹ sẽ trở về tìm con và quấy phá bản làng”. Đã có rất nhiều hoàn cảnh đau đớn vì niềm tin mù quáng này. Chỉ đến khi bộ đội biên phòng đứng ra làm lá chắn và có người dám đứng lên bước qua lời nguyền thì mọi chuyện mới kết thúc.

Người đàn ông thư sinh ngồi ninh mây trên sân bản tên là Nguyễn Diệu. Ông người Huế. Những năm cuối của thập kỷ 80 thế kỷ XX tình hình đất nước ta rất khó khăn. Để kiếm sống, ông Nguyễn Diệu khăn gói ra Quảng Bình, ngược lên vùng Tân - Thượng Trạch khai thác mây về bán cho các công ty làm mặt mây xuất khẩu. Rừng thiêng, nước độc làm ông ngã bệnh. Hồi ấy Tân - Thượng Trạch là vùng núi sâu, rừng thẳm, đường 20 chưa đẹp như bây giờ. Bà con dân bản, người đi rừng mắc bệnh chỉ dùng lá thuốc tự chữa tại chỗ hoặc cúng thầy mo. Qua khỏi thì sống. Không thì chịu chết. Không thể về xuôi chữa bệnh, ông đành chấp nhận gửi xác lại với rừng. Rất may, già làng bản Cồn Roàng có bài thuốc bí truyền chữa sốt rét ác tính đã ra tay cứu sống ông, lại được con gái già làng hết lòng chăm sóc nên ông Nguyễn Diệu phục hồi rất nhanh. Tuy nhiên sau đó ông không trở về Huế theo lẽ thường tình mà tự nguyện ở lại, kết duyên với người con gái ấy như một sự trả nghĩa và trở thành người Ma Coong từ đó.

Ông Nguyễn Diệu nói năng nhẹ nhàng lịch thiệp. Chất Huế vẫn chưa có dấu hiệu phai nhạt trong thần thái của ông. Ông nói: Ai cũng hỏi tại sao tôi người xứ Huế mà chấp nhận sống ở đây, bên cạnh người đàn bà dân tộc suốt ngày hút thuốc rê khét mù, lại không đẻ cho ông đứa con nào? Một người đàn bà đen đúa, miệng ngậm con thuốc rê to, dài đi ngang qua chỗ chúng tôi: “Vợ tôi đó! Thô tháp vậy mà có tấm lòng ấm áp và cũng hiểu biết lắm!”. Biết nói răng chừ?! Con người mình ai cũng có duyên nghiệp cả. Vì duyên nghiệp mà tôi đến đây, rồi đau, rồi có ông già ra tay cứu chữa. Không duyên nghiệp với vùng đất và con người nơi đây thì tôi ở Huế, đau thập tử nhất sinh ở Huế rồi sống chết ở Huế. Tôi với Y Nhoang là duyên nghiệp. Khi con người ở giữa hai bờ sống chết thì cái tình luôn luôn thiêng liêng. Tôi với cu Đường cũng là duyên nghiệp. Y Nhoang không đẻ cho tôi một đứa con thì núi rừng này, mảnh đất này cho tôi cu Đường.

Ông kể về duyên nghiệp của ông với cu Đường rằng: 20 năm trước, Y Xoong, người đàn bà điên trong bản có thai. Cái tin đó làm chấn động đồng bào Ma Coong ở Cồn Roàng. Vật vạ góc rừng, xó núi rồi Y Xoong cũng đến ngày sinh nở. Sau 2 ngày một thân, một mình trở dạ trong đau đớn, khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời thì Y Xoong qua đời. Không thể để đứa trẻ ở lại dương gian vì mẹ nó đã chết. Mẹ nó điên, nó cũng điên thôi! Người ta quyết định chôn đứa trẻ theo mẹ nhằm cắt đứt sợi dây liên lạc của người chết với dương gian. Mấy chục năm sống ở đây, ông đã có vài lần biết rằng hủ tục này đang diễn ra đâu đó trong bản. Nhưng ông sợ, ông không dám phản đối. Ông chỉ biết bỏ trốn, bịt tai, che mắt để không phải chứng kiến cảnh những đứa trẻ đỏ hỏn khóc ngằn ngặt dưới huyệt mộ, bị đất đá vùi lấp dần dần, tiếng khóc tắt lịm dần dần... Để rồi sau đó, cứ nhìn thấy nỗi đau của những người đàn ông góa vợ, mất con do hủ tục như: Đinh Cu, Đinh Hoi… ông lại ăn năn nghĩ rằng mình có lỗi. Lần này thì không thể. Một mình không chống lại cả bản ông nhờ người báo cho Bộ đội biên phòng Đồn Cồn Roàng can thiệp, còn ông tìm cách trì hoãn thời gian tang ma. Lấy hết mọi can đảm, bỏ qua ánh mắt căm giận của dân bản ông quỳ sụp trước huyệt mộ người đàn bà xấu số van xin mọi người nghĩ lại mà cho đứa trẻ được sống... Nỗ lực vận động, thuyết phục mãi không được, mềm mỏng có, cứng rắn có vẫn không xong, Bộ đội biên phòng và ông Nguyễn Diệu đành phải diễn một màn giải cứu ngoạn mục. Khi đứa trẻ vừa bị đặt vào huyệt mộ, với sự yểm trợ và che chắn của Bộ đội, ông Nguyễn Diệu lao xuống cướp lấy đứa trẻ rồi chạy trốn vào rừng. Ba ngày chạy trốn sự truy đuổi của dân bản, ông và những người lính biên phòng đã giữ được mạng sống của đứa trẻ bằng hơi ấm từ trái tim mình. Bà Y Nhoang vợ ông là người phụ nữ giàu lòng thương người, hiểu lòng chồng, bà không cản. Hàng ngày mang đường, sữa vào rừng chăm chút đứa trẻ. Ở bản, Bộ đội Biên phòng mang cả danh dự, tính mạng của mình ra làm tin với đồng bào. Dần dà rồi cơn giận dữ của dân bản cũng nguôi ngoai. Thằng bé sống mà chẳng có con ma nào về bắt người thế mạng. Bản làng yên ổn. Gia đình ông Nguyễn Diệu vẫn đầm ấm. Lời nguyền mất thiêng!

Thằng bé được ba tháng mười ngày, ông Diệu gọi nó là cu Đường, bộ đội đặt tên là Nguyễn Văn Vinh, những mong em lớn lên vinh hiển, thành danh. Bây giờ Nguyễn Văn Vinh là sinh viên trường Đại học Quảng Bình. Mùa đập trống nào em cũng được nhà trường cho về tham dự. Vinh ngồi đó, giữa đồng bào của em, khôi ngô và khỏe khoắn. Tôi hỏi em:

Ra thành phố rồi em có muốn về lại bản không?

Em lại về làm thầy giáo của bản thôi. Về để trả nghĩa cho cha mẹ nuôi nữa mà.

Bản vào hội rất vui. Gái bản xúng xính váy áo, rạng rỡ phấn son, nồng nặc mùi nước hoa hóa chất. Trai bản hồ hởi tập trung vào đám làm trống, thỉnh thoảng lại liếc nhìn đám gái bản đang tụm năm tụm ba so kè nhan sắc. Chắc là họ nghĩ đến một đêm say sắp tới…

Nhưng không phải ai cũng vui, trên ngôi nhà sàn nhỏ xập xệ, dột nát có một người đàn ông đang lịm ngất trong men rượu. Ông ta đang nhớ về người vợ quá cố và cặp con trai bị chôn sống của mình… Con người đã cô đơn, giữa đám đông lại càng cô đơn, đã buồn tủi trong cuộc vui lại càng buồn tủi. Không kìm nén được nỗi đau, ông ấy hờ lên một tiếng gọi con não nề và xa xót. Đám đông đang kích động dưới sân bản chợt lặng phắc. Ai cũng ngoảnh nhìn về phía ngôi nhà sàn ấy. Cu Đường nghe tiếng khóc ai oán ngước nhìn lên rồi lại cúi xuống ra vẻ chăm chú lắm với công việc của mình… ngước lên… rồi lại cúi xuống… mấy lần như thế, gần như không chịu nổi nữa em đưa mắt sang người cha nuôi của mình và đứng dậy đi về phía ngôi nhà sàn của người đàn ông cô độc. Ở đó đã có mấy người lính biên phòng… Ông Nguyễn Diệu cũng đứng dậy đi theo cu Đường... Những ánh mắt lặng lẽ nhìn họ, hình như có nhiều người cảm thấy mình có lỗi trong nỗi đau này…

Mỗi con người sinh ra đều được đặt cho một cái tên. Tưởng điều đó chẳng có gì phải bàn cãi, vậy nhưng ở đâu đó trên các bản làng nhỏ nằm trên chót vót đỉnh Trường Sơn vẫn có những con người sẽ không được đặt tên nếu không có Bộ đội biên phòng./.

Bút ký Trương Thu Hiền

Bản để in E-mail bài này Đưa vào Favorites
Thứ 2, ngày 24/4/2017