Tiếng lòng của một tâm hồn thao thiết với quê hương

 

Tiếng làng

 

Làng anh kề với làng em

Ngày xuân sới vật rộn trên sân đình

Gái làng đây đấy đều xinh

Sao anh chỉ nhớ có mình em thôi

Trúc xinh trúc mọc bên người

Người xinh bên trúc, nét cười bên hoa

Làng ta ở tự lòng ta

Tầng cao mái thấp cũng là làng thôi

Nắng sương dầu dãi kiếp người

Vẫn lanh lảnh tiếng xuân tươi hội làng

Dẫu phai bao nét cũ càng

Sông trôi còn nỗi mang mang đôi bờ

Hồn ta ruộng lúa bờ ngô

Tình ta reo nước tràn bờ sớm mai

Qua rồi thấp thỏm sắn khoai

Cơm thơm mái ấm xóm ngoài làng trong

Câu ca men lối đi vòng

Qua cây cậy vịn cây hồng mà thương...

Làng giờ cửa chớp nhà gương

Người xa lạc mấy bước đường nên xa

Về làng hỏi dáng cây đa

Bỗng nghe kẽo kẹt vó bè, buồn tênh!

Cánh buồm về với mông mênh

Người thương xa khuất bóng hình năm xưa...

 

Tre măng đã vượt mấy mùa

Lơ mơ chợt tỉnh giấc trưa. Tiếng làng.

Đàm Chu Văn

 
Ảnh minh họa (Internet)

Lời bình bài thơ của Vũ Thị Thanh Hoà:

Nhà thơ Đàm Chu Văn được nhiều bạn đọc trên cả nước biết đến với những giải thưởng như: Giải thưởng Thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội( năm 1996, 2003), giải Nhì cuộc thi Thơ Báo Lao động, giải thưởng Văn học Nghệ thuật Trịnh Hoài Đức I, II, III... Bài thơ “Tiếng làng” của anh nằm trong tập thơ “Giấc rừng” được nhà xuất bản Quân đội Nhân dân ấn hành năm 2014. Tập thơ đoạt giải C, giải thưởng Bộ Quốc Phòng về Văn học nghệ thuật đề tài Lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng (giai đoạn 2009-2014). Bài thơ như một bức tranh quê trong sáng, hữu tình mà trong đó cảnh quê và tình quê thẫm đẫm nỗi niềm của tác giả.

Mở đầu bài thơ đã gợi ra trước mắt người đọc một khung cảnh hội làng diễn ra vào mùa xuân như bao làng quê yên bình khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Sới vật đông vui, rộn ràng thu hút bao người già trẻ, trai gái nô nức đến xem và cổ vũ:

“Làng anh kề với làng em

Ngày xuân sới vật rộn trên sân đình”

Những ngày đầu xuân ở thôn quê, người ta thường tổ chức những cuộc vui như thi chọi gà, đánh đu hay thi đấu vật. Với hội thi đấu vật, ngoài mang tính giải trí, vui chơi nó còn là một môn thể thao hữu ích giúp thanh niên trong làng có thêm nghị lực và lòng dũng cảm để giữ làng, giữ nước. Thế nhưng, sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như hội làng không là cái cớ để các đôi thanh nam nữ tú gặp nhau, trao nhau những ánh mắt hẹn hò tình tứ. Đất trời mùa xuân như ông tơ bà nguyệt giăng tơ cho lòng người, gợi trong lòng nhà thơ những rung cảm hết sức nhẹ nhàng mà sâu kín:

“Gái làng đây đấy đều xinh

Sao anh chỉ nhớ có mình em thôi?”

Trong số đám gái làng duyên dáng, tươi xinh kia tác giả đã để mắt tới một người. Và lòng chàng chỉ hướng về người con gái ấy. Ấy là bởi chàng đã yêu, đã có “tình xuân” chớm nở trong lòng. Trong ca dao xưa, các tác giả dân gian thường mượn hình ảnh “trúc”, “mai” và ngầm coi đó là biểu tượng cho người con gái xinh đẹp, thướt tha duyên dáng: “Trúc xinh trúc mọc bờ ao/ Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh”. Ở đây, nhà thơ đã khéo léo gửi gắm những cảm xúc trong ngần, thổi vào đó là tình cảm thương mến, xuyến xao thầm kín trong lòng mình dành cho cô thôn nữ:

“Trúc xinh trúc mọc bên người

Người xinh bên trúc, nét cười bên hoa”

Thơ của Đàm Chu Văn luôn ẩn chứa một hồn quê mộc mạc, đằm thắm, dung dị mà lắng sâu. Ở bài thơ này bạn đọc có thể thấy rõ được điều đó qua tâm hồn rộng mở, với những câu thơ hồn hậu và một trái tim nhạy cảm, vời vợi một tình yêu quê hương với những gì gắn bó, thân thương nhất:

“Hồn ta ruộng lúa bờ ngô

Tình ta reo nước tràn bờ sớm mai”

Cái tình làng, nghĩa xóm, sớm hôm tắt lửa tối đèn có nhau với những tình cảm mộc mạc, chân thành mà cũng rất đỗi ân tình, nặng nghĩa cùng với nếp quê giản dị, đầm ấm, vui vầy luôn đau đáu trong tác giả mỗi khi nhớ về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn. “Cơm thơm mái ấm xóm ngoài làng trong”. Và gói trong niềm nhớ còn là cả những câu ca dao mẹ ru tự thuở mới chào đời, ngọt ngào và đằm thắm, ngân nga nơi cánh võng mỗi buổi trưa nồng: “Câu ca men lối đi vòng/ Qua cây cậy vịn cây hồng mà thương…”.

Nói đến làng quê Việt Nam, hẳn trong tâm thức của mỗi người lại nghĩ đến hình ảnh “cây đa, bến nước, sân đình”, nét văn hóa, biểu tượng của làng quê truyền thống Việt Nam. Hình ảnh mang tính cộng đồng, tạo sự gắn bó, đoàn kết giữa những người dân trong làng với nhau, làm nên văn hóa làng bền vững. Xưa nay, ca dao và thơ về những nét hồn cốt của làng cũng nhiều. “Cây đa gọi gió đến/ Cây đa vẫy chim về” và “Dưới bóng đa con trâu/ Thong thả nhai hương lúa/ Đủng đỉnh đàn bò về/ Lông hồng như đốm lửa…” (Trần Đăng Khoa). “Gái làng tắm nước giếng làng/ Tóc càng óng mượt da càng mịn thơm…” (Mai Văn Hoan). Với tác giả Đàm Chu Văn cũng vậy, dường như cây đa đã đằm sâu trong tâm trí anh, nhắc nhớ trong anh những kỷ niệm ấm áp, thân thương với làng quê, với những người yêu dấu. Nhưng ấy là những kỷ niệm xưa cũ, đã đi vào quá vãng. Còn nay, về thăm quê tác giả thấy:

“Làng giờ cửa chớp nhà gương

Người xa lạc mấy bước đường nên xa”

Trước sự đổi thay của quê hương, anh có cảm giác bùi ngùi, nuối tiếc khi làng quê đang trong quá trình đô thị hoá:

“Về làng hỏi dáng cây đa

Bỗng nghe kẽo kẹt vó bè, buồn tênh!”

Từ “buồn tênh” được đặt ở vị trí cuối câu tạo trong lòng người đọc sự hẫng hụt, chơi vơi. Có buồn đấy nhưng nghe chăng tác giả đã tự an ủi lòng mình:

“Làng ta ở tự lòng ta

Tầng cao mái thấp cũng là làng thôi”

Những nét cũ ngày xưa luôn trở đi trở lại trong từng vần thơ, câu chữ. Dẫu cuộc đời vẫn còn lắm những gian nan, dẫu cuộc sống còn nhiều nỗi lo toan, ngổn ngang những bận rộn. Dẫu đời người dầu dãi những nắng sương. Tâm hồn nhà thơ lúc nào cũng vọng về tiếng xuân tươi của ngày hội làng và đằm trong nỗi nhớ ấy là hình bóng người thương đã xa khuất…

“Tiếng làng”, gợi trong lòng người đọc xiết bao xúc động, vừa đặt ra một câu hỏi gợi mở lại có đôi chút nuối tiếc của tác giả khi phải đánh đổi một nông thôn chan hoà với thiên nhiên để lấy một làng quê nửa phố nửa làng, làm vơi đi bao hồn cốt của văn hoá làng, cái hồn cốt đã thăng hoa trong cảm thức thẩm mỹ dân tộc. Ta bắt gặp ở đây một tâm hồn khá nhạy cảm trước đổi thay của làng quê và ta cũng thấy được một nỗi niềm đau đáu luôn hướng về quê hương, nặng lòng với nơi chôn nhau cắt rốn của tác giả.

Với thể thơ lục bát, một thể thơ dễ đọc, dễ thuộc, dể hiểu và dễ cảm, bài thơ đem đến cho người đọc nhiều niềm xúc cảm với hồn quê nồng ấm, tình quê chân chất nhưng cũng dạt dào yêu thương của tác giả. Đọc xong bài thơ, người đọc như vẫn còn cảm nhận được dư ba của “tiếng làng” vẫn còn vương vấn đâu đây.

Bản để in E-mail bài này Đưa vào Favorites
Thứ 2, ngày 24/4/2017