Xuân về trên thành phố


(Toquoc)- Thuở nào thành phố cũng có một cái tên để người thập phương biết tới. Xưa, là Thác Bờ hùng vĩ với thiên la địa võng của đá ngầm sắc nhọn đồng lóa với xoáy nước dữ dằn. Lấy nhu địch cương, lấy âm khắc dương, hai người phụ nữ đất cổ Mai Đà đã giúp thuyền quan quân vượt qua tử địa.Còn nay là công trình thủy điện đã điểm màu rêu hoen cổ kính. Đứng từ còn đường bê tông khang trang trên mặt đập, nhìn về phía thành phố Hòa Bình đang lên đèn, người khách phương xa cứ ngỡ đang lãng du trên một cao nguyên cổ kính như một góc vắng đèo dốc Đà Lạt. Nhưng chỉ cần ngoảnh lại sau lưng, nhìn về phía hồ thủy điện đang bảng lảng sương chiều, lại ngỡ như đang ở một huyện đảo. Khen thay cho tầm vóc của công trình ở sự nguy nga. Đành là một nhà máy mà không khô cứng, không lộ liễu những kết cấu công nghiệp. Tất cả đều toát lên vẻ đẹp của một quần thể kiến trúc, của một triết lí chế ngự mà vẫn nể trọng thiên nhiên. Dưới kia dòng Đà Giang cổ xưa vẫn lặng lẽ trôi. Lặng lẽ như chưa từng có một kí ức cuồng bạo và đỏng đảnh.

Xuân về trên thành phố - ảnh 1
Tại cửa ngõ vào thành phố Hòa Bình

Có lẽ chỉ nghe không thì chưa đủ, phải đứng trên công trình ấy mà suy cảm mới thấu hết tầm vóc lo toan của cha ông ta khi xây dựng công trình, mới hiểu hết nghĩa tình nước bạn Nga hồn hậu và bàn tay rám nắng của những lứa công nhân đã đốt cháy tuổi thanh xuân cho những khát vọng này. Cái tên Sông Đà không cũ càng rờn rợn như tên gọi Đà Giang xưa chỉ “độc Bắc lưu” mà hồ hởi, khát khao. Tên gọi ấy không chôn chân lại mảnh đất này mà theo chân những người làm thủy điện đi khắp cả nước mang theo chiến tích Sông Đà, kinh nghiệm Sông Đà để thắp sáng lên biết bao công trình mới. Nhưng chưa hết. Sông Đà còn là một thành phố mới mẻ. Thành phố với nền văn hóa có sự hòa quyện giữa sức sống sôi động của công trường và nếp sống thâm trầm của bạn địa? Không đơn giản chỉ có vậy bởi văn hóa của một vùng đất đâu chỉ là một phép cộng giản đơn.

Mạn phép các nhà sử học, mạo muội nhắc lại một dấu ấn địa chí cũ xin kể rằng một phần thành phố ngày nay xưa thuộc Bất Bạt-Bà Vì-Sơn Tây. Chắc bởi lẽ ấy mà khi tình duyên lỡ dở, thi nhân lừng danh đất ấy- cụ Tản Đà -Nguyễn Khắc Hiếu - đã lên tận điểm cùng trời cuối đất này mà than rằng:

Vì đâu đưa đến xứ Hoà Bình?

Đó cũng giang sơn đất nước mình

Non Tượng giời cho bao tuổi lẻ

Sông Đà ai vặn một dòng quanh?

Lơ thơ hàng phố mươi nhà đỏ

Phấp phới cô nàng chiếc váy xanh

Phong cảnh đã yêu mà đón rước

Nôm na để lại mấy câu tình

(Nhâm Tý 1912)

Hẳn không phải nói thêm thì ai cũng nhận ra những địa danh quen thuộc nay đã nằm trọn vẹn trong thành phố Hòa Bình ngày hôm nay. Từ non Tượng nhìn xuống, mươi nhà đỏ giờ là Phương Lâm sầm uất với những phố nhỏ trầm mặc. Những ngày thu, dạo qua những phố nhỏ ấy gợi cho ta cảm xúc sâu lắng mà người dân nơi đây quen gọi là phố cổ. Dấu ấn của đất Bất Bạt xưa là những dòng họ từ xứ Đoài di cư lên đây không biết tự thuở nào. Họ lập gia thất, mưu sinh truyền đời thế tục tiếng nói, lề lối nhà quê dưới đường xuôi. Có dạo, chiều cuối năm, ghé qua nhà người bạn đang gói bánh chưng, vẫn thấy cái ngăn nắp, gọn gẽ của cách gói bánh người Hà Thành cổ. Chiếc bánh vuông theo vành khuôn gỗ. Áo bánh là một lớp gạo nếp mỏng và thơm, nhân đỗ xanh, thịt mỡ thái bản to và mỏng. Khi vớt bánh rồi, ép nước xong, gia chủ còn gói thêm lớp lá xanh rồi mới đặt lên bàn thờ tổ tiên. Từ nhà con sang nhà cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ, từ nhà cháu chắt sang ông bà cũng chỉ quanh quẩn vài con phố. Người dân phố thuộc gốc tích của nhau như lòng bàn tay chứ không lạnh lùng giữ kẽ như vẻ thường thấy của dân kẻ chợ.

Nằm bên một khúc quèn sông Đà là bãi phù sa cổ tích. Từ con đường 6 nhìn sang là một dãi xanh tươi của lúa ngô, vườn tược. Nhưng, ngược dòng thời gian mấy trúc năm trước màu xanh ấy còn hoang sơ và rợn ngợp hơn. Hẳn người công nhận đầu tiên nào đó từ đất đường xuôi đặt chân lên đây sẽ khó lòng mà quên được cảnh chiều chạng vạng, bóng hổ bơi qua sông mùa nước cạn. Đêm nghe tiếng hổ gầm, sáng dậy xuống suối rửa mặt vẫn còn thấy tanh vị máu những con vật xấu số lần lượt từng đêm nộp mạng cho chúa sơn lâm mà ớn lạnh đôi chút. Thế nhưng, trong lòng những người thanh niên quê mùa thuần hậu ngày đó cứ hừng hực một ngọn lửa muốn được cháy hết mình trên cái công trường còn ngổn ngang những phần việc như vô tận này. Những khu nhà xưởng, những khu làng công nhân tạm bợ mọc lên theo tiếng gọi sông Đà. Âm thanh hung hãn, cuồng bạo của Sơn Tinh “Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen” không át nổi tiếng mìn phá đá, không vượt nổi tiếng xe cộ, máy móc. Và, đêm đêm dưới ánh trăng sáng vằng vặc trên công trường là tiếng đàn hát sôi nổi. “Núi cao sông hãy còn dài”, biết là vậy. Nhưng núi đã hạ mình nhường một phần thân thể thì sông cũng phải “thuần” đi mà theo bàn tay con người thổi hồn thành dòng điện sáng. Khúc tráng ca của một thiên huyền thoại mới cứ thế được nối dài bằng những mùa xuân mới trên công trường thủy điện. Nồi bánh chưng chiều cuối năm bập bùng vội vã bên tiếng ghi ta còn ngượng ngùng. Chiếc bánh gói chưa vuông vức nhưng đậm đà như những tiếng hát khỏe khoắn kia khiến những ai có mặt đều rưng rưng nước mắt. Giữa một công trường ngổn ngang thế, giữa cái thời mà đất nước còn khó khăn thế, họ cứ cháy hết mình mà không cần căn ke, toan tính. Để rồi khi tổ máy cuối cùng hoàn thành, rất nhiều người trong số họ đã bám trụ lại, lập xóm làng theo tên những khu tổ đội cũ như: Dân dụng, cung ứng, thủy công… Gian nhà tập thể thành nếp nhà ngay ngắn mà nuôi dạy con cái biết sống có trí đèn sách vươn xa. Vẫn trên khoảng sân, hè phố của khu công trường xưa nồi bánh chưng lại bập bùng cháy bằng những mảnh gỗ vụn còn in màu sơn của công trường một thời. Bất giác, người thiếu phụ khoác trên mình màu áo công nhân đã bạc lại cay sè nơi khóe mắt. Kỉ niệm ngày một dày lên bởi quá khứ đã xa hơn. Mỗi năm một tuổi mà khi Tết đến vẫn thấy còn lâng lâng cảm xúc thuở nào của cô bé lần đầu theo các anh chị lên công trường phải lén chạy vào một góc nhà kho để khóc vì nhớ mẹ, nhớ làng, nhớ một người con trai. Rồi chàng trai đó cũng lên đây theo tiếng gọi cống hiến tuổi thanh xuân, với hạnh phúc lứa đôi đã hẹn thề để có mái ấm của mùa xuân này.

Cũng chẳng phải đi xa, người khách lãng du cũng bắt gặp những khu xóm đồng bào Mường, Dao xinh sống. Tuy không thuộc bốn vùng mường cổ Bi-Vang-Thàng-Động nhưng người dân vẫn ý thức được phần cội rễ quý báu trong nếp sống của mình. Nghe một thổ âm quen thuộc, người kĩ sư từ mường xa chợt giật mình nhớ quê thao thiết. Tuy lời ấy, tiếng ấy có khác đi nhiều nhưng vẫn là một phần bản sắc không thể thiếu trong không gian phố thị sầm uất và rực rỡ này.

Mùa xuân trên một thành phố còn rất trẻ nhưng lại có một cái nền vững chắc từ những kí ức và đan xen nhiều giá trị văn hóa. Thành phố đẹp bởi bao dung ôm ấp dòng sông Đà diễm lệ hay chính dòng sông kia đã ngấm vào mảnh đất này một mạch sống bền bỉ. Từ màu xanh ngút ngàn của bãi sông một thuở đến những khu nhà cao mới mọc lên đều toát lên một sự thay da đổi thịt từng ngày. Mái ngói rồi mái tôn nhà cao tầng đã thay cho mái tranh, nhưng vẫn còn đó ruộng lúa màu mỡ. Cầu đã nối đôi bờ sông, đập thủy điện đã thay cho thác Bờ kì vĩ nhưng vẫn còn đó những chiếc thuyền câu vạch một nét bút trên dòng sông xuân thanh vắng. Mùa xuân theo cành đào những xóm, những đèo, dốc ngoại ô len vào khu phố cổ xưa như những vị xứ giả của mùa xuân mới. Những làng công nhân xưa giờ đã lấp ló dáng đào, quất cảnh bởi một cuộc sống no đủ hơn. Có thể, sẽ còn rất lâu nữa ta mới định nghĩa được về bản sắc văn hóa của một vùng đất. Cũng phải qua nhiều năm tháng con người mới nhận ra sự hòa trộn, kết hợp khác nhau giữa các tầng văn hóa. Tuy nhiên, có những điều chắc không cần cân nhắc qua lâu, cần thời gian chứng minh cũng có thể thốt lên thành lời. Ấy là một sức sống mới được toát lên từ cuộc sống hôm nay mà người khách phương xa nào ghé chân nghỉ lại một đêm xuân nơi thành phố Hòa Bình đó là sự bình yên. Sự bình yên hiếm khi được gặp ở một nơi phố thị đông vui. Bởi, đó là sự bình yên trong lòng từng con người đã an cư lạc nghiệp. Điều mà họ đang bận tâm và lặng lẽ vun đắp ấy là tạo nên một bề dày lịch sử cho thành phố của mình. Để rồi mỗi khi mùa xuân về, tất cả những kí ức đó sẽ hóa thân thành huyền tích.

Bùi Việt Phương

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác