Xóm Lở


(Toquoc)- Đội xây cống mới vừa đi mấy hôm, đội khoan cây nước ngọt đã tới. Cũng ở hai gian nhà lá mới lợp cách nay không lâu, nền đất còn âm ỉ nước mặn. Đội khoan gồm sáu anh em, kém hơn đội xây cống bốn người. Dư ra bốn cái giường. Anh đội trưởng đội khoan, anh Năm Tứ, mặt ngoài vui vẻ nhận hai gian nhà, bên trong không bằng bụng lắm. Đối với đội viên Khánh chuyên lắp vặn ống nước thì khác hơn, mặt mày buồn xo và bị lủng củng ngay tình cảm ban đầu khi chiếc tam bản chở lển nghển đồ đạc và sáu anh em mới vừa tới bến.

Số là hôm ấy thật vắng vẻ. Kể ra từ người thủ trưởng già đến anh em nhân viên ở tại sở nuôi tôm Sào Lưới đều vật vã với mấy miệng đáy, vó gạt trong lúc hứng bắt các loại tôm. Chỉ còn cậu thư ký văn phòng đang lên cơn sốt ở nhà và cô cấp dưỡng đang quơ củi hát khe khẽ ngoài phía đê rừng mắm, không chịu vào tiếp khách.

Thế là chiếc tam bản quay ra vàm kinh Nhãn, chạy ngược gió tới đậu tại chặng giữa Xóm Lở.

Đã tối mờ mờ. Biển như rải ra một lớp sương mù đùng đục, lao xao bầy chim cót bay qua. Cuối Xóm Lở - cái voi mắm vàm - ánh mặt trời chiều thành cái ráng đỏ au làm nền cho rừng cây như một giàn cảnh sơn thủy trên sân khấu mà, bóng đèn nê-ông dựng đứng tại đầu cầu tàu là ánh chớp sáng xanh.

Anh em đội khoan leo hết lên cầu tàu - cũng là bến đậu của những vỏ tàu đi biển, nơi lựa tôm lựa cá của cửa hàng thu mua - đi thẳng theo lối cầu ván đóng đinh lên nhà. Khánh ở lại, ngồi nhìn những ngôi nhà sàn lênh đênh trên bãi bùn, trên nước mấp mé vỗ ì ọp và lô nhô cọc cừ. Một chân Khánh thả xuống nước, đùa đùa trước mũi tam bản. Nước ngời ngời ánh sao như một sợi dây lửa trôi băng băng. Đâu đây, từ trong những ngôi nhà sàn, trong cửa hàng thu mua, những cây sào đen chìm trong bóng tối xông lên mùi mằn mặn của các loại khô cá biển, mùi bùn non, mùi mồ hôi...

Anh Năm Tứ bước xuống cầu tàu, giọng ráo hoảnh:

- Nè Khánh, vói lấy cái nầy ăn đỡ...

Khánh ngẩng lên, đưa tay cầm hai cái bánh dừa, ngồi ăn.

- Lúc nãy anh có thấy mặt mũi con nhỏ đó ra làm sao không à? - Khánh hỏi, vẻ khó chịu.

Năm Tứ thong thả:

- Cũng như mầy vậy thôi, nó ở tuốt ngoài rừng mà. Ờ, nó tên là Phỉ, Tám Phỉ, con của ông Chín Thế kia kìa! Nó làm cấp dưỡng trên một năm ở tại đó...

Anh em đội khoan lần lượt xuống chiếc tam bản. Mỗi người ăn vài cái bánh dừa trừ cơm. Đủ no. Rồi theo đề nghị của anh đội trưởng, chiếc tam bản quay lại vàm kinh Nhãn đầu Xóm Lở, đậu sâu trong con mương bến lúc nãy.

*

Loay hoay mất hết ba ngày, đội khoan mới tìm được chỗ dẫn nước ngọt lên. Chỉ một việc tìm chỗ trên mặt bằng thôi và dựng ngay cái giàn khoan cao lêu khêu trước mấy gian nhà ăn tập thể. Anh em hí húi, bận rộn suốt ngày. Một khoảng đất vuông vắn đầu bến bùn đất lép xép, bùn chảy thành cái rãnh nhỏ luồn dưới giàn khoan như dòng nhựa đen. Rác rưởi, có cả đầu sống lá, trái mắm, vỏ tôm dồn qua một bên thật xa chỗ đặt cái máy nổ Yanma TS 115. Máy chạy suốt ngày, trì trì cái cán khoan và mũi khoan chìm dần xuống đất, hể hả bắn lên những giọt bùn non.

Toàn thợ máy, chân mang ủng rảnh tay hơn anh em, la oang oang, liếc xéo cô gái đi chở nước ngọt đang lụp tụp xô chiếc vỏ lãi ra khỏi bến. Anh đội trưởng hì hục khơi cái rãnh sâu thêm, không một tiếng nhắc khéo Toàn.

Kể ra Năm Tứ không nhiều tuổi hơn anh em đội viên bao nhiêu, nhưng mái tóc trổ bông gòn nên bất cứ trời mưa hay nắng, chiếc nón vải luôn phủ bó mớ tóc của anh. Và xem ra anh chưa phải già vì nhờ được cái miệng siêng nói năng đủ thứ chuyện cộng với tác phong hoạt bát, linh lợi.

Anh em tín nhiệm Năm Tứ vì anh được cái mặt xông xáo và chí nghĩa chí tình. Năm Tứ là lớp thanh niên nghèo thành thị, tham gia cách mạng sau ngày Ba mươi tháng tư, năm 1975 - ngày cách mạng Việt Nam toàn thắng - Toàn, Khánh và anh em trong đội khoan cũng vậy.

Đang lúc mồ hôi ra nhễ nhại, Năm Tứ bắt chuyện với Tám Phỉ đi chở nước về:

- Ráng vài ngày nữa sẽ rảnh tay thôi cô. Vậy mà cô ít chiếu cố tới tụi này, chỉ đối xử đẹp với gánh làm cống hôm trước hè...

Nghe vậy, Tám Phỉ lật đật buộc dây chiếc vỏ, nhảy thót lên bờ, nói nhanh:

- Có gì mà chiếu cố với không chiếu cố anh Năm? Anh em với nhau cả mà. Người nào cũng vậy thôi. Ờ... mà - Tám Phỉ dừng lại, một ngón tay sờ sờ lên má rồi tiếp - các anh đội làm cống tình cảm lắm anh ơi!

Toàn mấp máy đôi môi bự xệ, hỏi:

- Còn tụi nầy sao cô Tám?

Tám chưa trả lời. Năm Tứ trả lời thay:

- Tôi biết người ta làm chuyện bằng trời mà, hàn sông lấp biển mà. Còn tụi nầy chỉ một giọt nước nhỏ thôi, phải không cô Tám?

Tám Phỉ cười cởi mở. Tính cô hay cười mào đầu cho những câu chuyện mà tiếng nọ kéo níu tiếng kia dính liền gâm gấp như dãy cây nằm nước ngoài chót mũi Cà Mau vậy.

Tám thật thà:

- Đừng có nói vậy chớ anh Năm. Tụi con gái ở xóm Lở xa biệt mù nầy không phải vậy đâu nghen. Công chuyện của các anh cũng lớn bộn chớ nhỏ nhoi gì . Bây giờ còn dễ đà, chớ hồi trước chạy giặc vô rừng phải cất từng giọt nước ngọt trần thân đó nghe!

Tám vừa dứt lời, Toàn nhảy xuống chiếc vỏ lãi chở khẳm nước ngọt. Anh lần theo be chiếc vỏ ra sau giật thử cái máy kô-le bốn mã lực, kéo dây ga đột ngột làm chiếc máy bị ngả xuống nước. Tám bỗng hơi nghiêm sắc mặt, nửa thật nửa đùa:

- Trời ơi, chết rồi anh Năm. Máy của quốc doanh mà ảnh xài như cá làm phân vậy. Bán biết bao nhiêu ký lô tôm bạc thẻ mua mới được chớ?!...

Tám Phỉ và Năm Tứ nhảy xuống tiếp vớt chiếc máy với Toàn. Khánh ngồi sát vách nhà, ngưng chùi đầu ống nước, không thèm tiếp một tay, càu nhàu:

- Mới tới đầu hôm sớm mai đó nghe! Vừa phải thôi nghe mấy cha!

Khánh nói là nói Toàn, nhưng thật ra anh muốn Tám Phỉ nghe. Là vì theo anh, Tám Phỉ vội vàng quá lời với anh em đội khoan. Anh thấy cô cấp dưỡng như thế nào ấy? Lần nầy anh không thể giấu giếm gì nữa với anh em ở chung đội khoan, với Năm Tứ.

Chờ tối đến, nằm ngửa ra bên cuốn Ruồi trâu trong mùng, Khánh bộc bạch hết chuyện mấy hôm rày với Năm Tứ. Khánh nói:

- Tôi thấy con Tám hơi khinh tụi mình đó anh Năm. Dù sao nó cũng nghĩ chút tình chớ bộ. Mấy đứa mình ít nhứt cũng qua lớp năm, lớp sáu mà!

Năm Tứ cố tình nằm yên, giả vờ đập muỗi lạch xạch. Khánh tiếp:

- Với lại ăn uống điệu nầy mình chịu hết đợt thì còn xương với da thôi. Cái gì mà tép luộc cả rổ, tép rang cả rổ, mặn xẵng lè, không canh riêu rau quéo gì hết thì chịu sao kham anh Năm?!

Năm Tứ ngồi bật dậy:

- Ừa, ăn uống kém quá. Tại cô Tám đơn điệu không linh hoạt chớ nào phải cô “dỏm” đâu. Phần gia vị ở đây cũng hiếm.

Khánh cùng ngồi bật dậy với Năm Tứ, sống mũi đội mí mùng, cãi lại:

- Chừng nào mới thiếu gia vị đặng anh Năm? Tại cô ấy đó. Ngoài xóm người ta có bán mỡ, bán tiêu, có bắp chuối giá một đồng hai ba bắp, có rau cải từ bên Ông Trang mang qua. Thay đổi thức ăn thì dễ thôi. Xứ nầy kiếm con cá dứa, cá bồng thì có khó đâu? Tốn bao nhiêu tiền? Chính mắt tôi trông thấy ông Chín Thế cha của cô ấy hôm qua đánh lưới đem về chín mười con cá dứa. Nhà ông ấy có treo một xâu chim quốc nữa. Mình mua chớ xin xỏ ai mà khó với dễ, khan hiếm với không khan hiếm!?

Năm Tứ ngáp dài và ậm ờ cho qua chuyện. Anh chợt nhớ ra mấy món ăn ông Chín Thế thích mà chính anh đã có một hai dịp ngồi kế bên ông Chín Thế nhấp nháp một ít rượu với món thịt chim quốc rô-ti, món cá dứa nấu canh chua me béo bở, món tôm bạc thẻ xẻ đôi xỏ lụi phơi khô. Cái món tôm lụi mới ngon kỳ cục, ăn không biết chán như món cá dứa, cá bồng. Chỉ hơ hơ lụi tôm trên dĩa rượu cháy ngọn lửa xanh lao xao là ăn được thôi.

Cũng như Năm Tứ, Khánh có dự những bữa ăn đó. Anh đâm mê ông Chín Thế có cái biệt tài thổi quốc.

Mà cũng thật lạ đời cho Khánh, mê thích ông Chín Thế bao nhiêu thì phiền hà, chê trách cô con gái của ông bấy nhiêu. Năm Tứ nghĩ .Tứ mặc nhiên để Khánh thỉnh thoảng nói chuyện bên tai, anh nằm nhớ ra những chuyện khác. Anh nhớ có lần Tám Phỉ nói xa nói gần về Khánh, vẻ không thích Khánh mấy. Tám bảo Khánh là thanh niên mà nghiêm nghiêm, khô khô thiếu điều đốt cháy. Với lại Khánh ăn uống như ông già, có canh riêu mới nuốt nổi chén cơm. Thêm nữa, thanh niên gì mà đi cầu khỉ run như đuôi thằn lằn, không cắn được miếng ớt, miếng gừng, cữ thịt chó và uống rượu như khỉ uống nước mắm. Đành rằng cữ rượu càng tốt, nhưng khi gặp bạn bè trường hợp đặc biệt cũng ráng cưa hai chuyền nhông với người ta chớ, để xã giao mà. Trái lại, Khánh...

Tất cả chuyện ấy Năm Tứ muốn thuật cho Khánh nghe, nhưng buồn ngủ quá đành gác lại. Mà thật ra, Năm Tứ cũng không muốn thuật, e Khánh buồn sinh ra chuyện lôi thôi thì không hay. Năm Tứ vô ý cười một tiếng nhỏ. Khánh hỏi:

- Chuyện gì mà cười vậy “ông”?

- Tao nhớ thằng Toàn làm úp cái máy xuống sông!

Năm Tứ nói vang vang, hết buồn ngủ. Anh lăn trở trên vạc cố nín cười nhưng không được. Khánh cười lớn tiếng hơn Năm Tứ, nói như để Năm Tứ nghe:

- Cái thằng Toàn lóc chóc thật, tánh nào tật ấy!

Năm Tứ thôi cười, nghĩ đến Toàn đi sửa máy...

Một ngày trôi qua. Đầu bến chỗ giàn khoan vắng vẻ. Cái rãnh chứa bùn thành con mương ứ đọng sình non và cát mịn nằm yên ắng. Ống nước xếp lại. Giàn khoan sừng sững, ngong ngóng chờ chực người của đội khoan từ thị xã trở về.

Anh em đội khoan day sang tiếp một tay lựa cá, lựa tôm với anh em giữ trại đáy vàm Kinh Nhãn và làm nhiều việc khác. Lúc bấy giờ đúng con nước hai lăm, hai tám. Nước ròng chảy xiết, dòng nước từ trong những cái trảng phía rừng mắm đổ ra phía vàm, cuồn cuộn, tôm chui vào căng cứng đục đáy phải đổ đục không hở tay. Sàn lựa tôm ken mấy chiếc đệm ướt sũng nước suốt đêm suốt ngày...

Vàm Kinh Nhãn tôm nhiều là thế, huống hồ con rạch Sào Lưới khiến hai Phó quản đốc cứ nán lại ở đó, không về được.

Tám thấp thỏm chờ người thủ trưởng già trở về. Cô chỉ nhận được cái thư ông ta gởi, dặn dò việc tiếp xúc với đám anh em đội khoan, bảo anh thư ký văn phòng tạm xuất một ít quỹ cơ quan phụ thêm với khẩu phần tiền ăn để anh em đội khoan ăn uống tương đối khấm khá. Đọc xong cái thư viết vội ấy, Tám mừng thầm.

Nhưng Tám không được vui, không vui chút nào cả: Những lời bàn bạc về cô của Khánh và anh đội trưởng đội khoan đã tới tai cô. Cô không thể đợi người thủ trưởng về được, đành phải thố lộ với cha mình.

Tám vốn không kiểu vẻ, quanh co. Nhưng lần nầy ngồi trước mặt ông Chín Thế, cô hơi ngập ngừng:

- Hồi trước phải con vô nhập chung với con Lệ, con Nghị cùng làm ở cửa hàng mua tôm khô thì sướng cái thân hơn. Đằng nầy con cực hơn người ta, ba à!

Ông Chín Thế bẻ cái lụi tôm gãy đôi, mắt lườm lườm cô con gái:

- Cực à! Làm cách mạng mà sợ cực à? Cực bằng hồi đó tản cư vô rừng không?

Tám thưa thiệt:

- Cực con không sợ, chỉ khó chịu với mấy người chê khen nầy nọ, nói xa xa, gần gần hoài. Làm dâu trăm họ là người cấp dưỡng đó ba!

Tám dừng lại, chấm ngón tay giết một con muỗi đậu trên cánh tay nần nẫn của cô. Thoáng dòm thấy ông Chín ngồi yên, cô không giấu giếm gì nữa, nói luôn một mạch:

- Ba coi, ở xứ nầy rau rác đâu phải như vùng nước ngọt của mấy chả mà cứ so bì, chê người ta đơn điệu không biết nấu ăn. Phải chi có tiền kha khá với lại dễ mua mấy thứ đó thì làm gì có chuyện ấy. Mấy cha đội khoan khó quá ba!

Ông Chín Thế cắt lời con:

- Khó khăn thì khắc phục. Lắng nghe người ta rồi ngẫm lại mình chút coi. Vậy chớ con Lệ, con Nghị mua tôm khô không bị người ta phê cho là cân non, cân già, thiếu điều người ta liệng bỏ tôm xuống biển đó sao? Còn con Nhạn, thằng Nhuận không thức sáng đêm à? Tôm bạc thẻ xuất ngoại phải lựa ra bốn loại chớ phải dễ đâu. Cực muốn chết mà người ta không than. Còn mầy?...

Ông Chín càng nói càng nghiêm sắc mặt, nói làu làu không vấp như thể bắt trúng mạch đứa con gái của ông. Tám thôi nói, ngồi một chỗ tựa hồ không dám động đậy lúc nghe ông Chín lý giải. Mà mỗi lần nói, ông Chín ít có nói ngắn hoặc để cho câu chuyện dở dang nửa chừng. Câu chuyện thường dài như vậy là vì ông Chín phải đóng thêm vai trò người mẹ, nói những điều người mẹ nói với đứa con gái.

Tám mồ côi mẹ năm lên mười sáu tuổi; năm ấy tàu giặc ở vàm sông Bảy Háp, Ông Trang nhiều như bánh canh. Gia đình ông Chín tạm bỏ trại đáy hàng khơi, bỏ Xóm Lở về bám theo mấy con rạch cong queo trong rừng đước rừng mắm để bắt con tôm, con cá đổi gạo. Có tháng phải cất chòi ba bốn lần để ở. Mà những tháng ấy vào tháng tư, tháng năm, muỗi kêu như sáo thổi, ăn cơm không dám hở miệng sợ muỗi chui vào. Là vì con rạch tối tăm cây đước cây mắm, phần trái mắm rụng thúi sinh ra muỗi nhiều. Ở Xẻo Sọ không đầy hai tháng phải chở lưới chở nước ngọt dời sang Kinh Đào, Xẻo Còng Cọc, Nà Chim, Xẻo Tám Móm... Những chỗ ấy đều ngang ngang Xóm Lở, cách Xóm Lở hai vàm sông nhập lại tạo thành cái khoảng mênh mông nửa vàm, nửa biển.

Ông Chín, bà Chín, và ngay cả đứa con gái đều nhớ thương Xóm Lở cồn cào gan ruột. Xóm Lở chỉ còn mấy ngôi nhà, không buồn dời lên xa mé bãi mặc dù trung bình ba bốn năm phải dời nhà lên bờ một lần. Ba bốn năm sóng gió ngốn mất phần đất Xóm Lở để bồi cho Nà Chim, Trại Xẻo bên nầy, bồi cho mũi Cà Mau chót cùng đất nước rộng dài thêm ra.

Những năm đen tối, thỉnh thoảng nghe thưa tiếng tàu giặc, gia đình ông Chín Thế bám dần ra vàm sông để đón nhận một ít nước ngọt từ bên Xóm Lở chuyển sang tiếp tế cho du kích, trong lúc việc cất nước ngọt giữa rừng sâu của bà con bị máy bay phát hiện, bắn phá bừa bãi. Một việc khác quan trọng là ông Chín Thế nhìn qua bên Xóm Lở tìm một ánh đèn hiệu cho biết tình hình giặc tăng giảm quân số ở bót vàm Kinh Nhãn để báo lại với cơ sở Đảng ở địa phương lúc bấy giờ.

Có một lần đi như vậy, khi trở về chỉ còn một mình ông Chín Thế. Bà Chín và chiếc tam bản bị tàu giặc nhận chìm ngoài vàm sông. Đó là lý do để hai người anh của Tám Phỉ gia nhập bộ đội giải phóng cho đến nay, lý do để Tám Phỉ giờ đây thường nhìn ngắm mải miết dãy nhà trăng trắng lô nhô phía bên kia ấp Trại Xẻo trong lúc ngồi đối diện với cha cô.

Ông Chín Thế thôi nói, day qua vá tấm lưới nằm chùng chùng kế bên. Tám ngồi tựa cửa nhìn xuống vàm sông trải rộng với lớp lớp sóng vỗ như những cánh chim nhạn la đà trên mặt nước. Và trên không, những cánh chim nhạn từ Hòn Khoai, Hòn Khô kéo nhau về vàm sông hò hẹn, bàng bạc mênh mông. Những cánh nhạn trên vòm trời cao xa hơn, đang xòe đôi cánh xam xám. Chúng nó báo hiệu mùa xuân hồi sinh, mùa cá dứa vào vàm sông ngoạm trái mắm, mùa tôm bạc thẻ, mùa thổi quốc. Báo hiệu Xóm Lở sáng sáng một con tàu màu cánh nhạn hối hả chở tôm cá về thị xã, và chiều chiều, đón con tàu khác trở về.

Trong cái nhộn nhịp, ấm áp, tiếng máy khoan dòn tan, chăm chỉ, tiếng người nhộn nhịp suốt ngày trong ngót nghét hai trăm ngôi nhà Xóm Lở.

Xóm Lở - ảnh 1

Cái rãnh luồn dưới giàn khoan rửa sạch dòng nhựa đen sình non, chứa ngồn ngộn cát màu xanh đen mịn màng. Cán khoan xoay tít và chiếc máy Yanma TS 115 khỏe khoắn nổ đều đều từ lúc Toàn từ thị xã trở về Xóm Lở. Trong khi anh em đội khoan, anh em sở nuôi tôm Sào Lưới chờ trông dòng nước ngọt phun lên, Toàn chớm bịnh. Thêm một đội viên phải trở ra thị xã nhận thêm dầu. Năm Tứ sốt ruột trong những ngày sắp kết thúc công trình. Anh mong muốn công việc chạy mau lẹ để còn phải gay vào những công trình mới vùng duyên hải Năm Căn, nông trường Minh Hà, những đồn Công an biên phòng ven biển… Nhưng dù thế nào cũng phải khắc phục công việc tại đây, chiết Khánh thay Toàn cùng với Phỉ đi chở nước ngọt về xài giúp anh em sở nuôi tôm Sào Lưới đang bận rộn với con nước rong tràn bờ Xóm Lở.

Khánh do dự mãi mới chấp hành sự điều động phân công của Năm Tứ. Đây là trường hợp hiếm có đối với anh trong khi nhận nhiệm vụ.

Khánh vít vít cây dầm vắn ngủn trước mũi xuồng. Chiếc xuồng chật nít lu mái chứa nước. Tám đứng xõng lưng quạt hai cây chèo phía sau. Nước đổ ngược như cắt, khiến Tám cứ lùi lũi chèo, không rảnh tay sửa chiếc nón lá bị gió tốc chao nghiêng, quai nón vướng ngang cổ.

Xuồng rẽ trái vào cái trảng đầy ắp nước. Trảng đang dồi lên lớp lớp sóng gợn, xôn xao như những cánh chim nhạn bay là đà. Cái mênh mông của trảng gợi Khánh nhớ vàm sông trước mặt Xóm Lở.

- Chỗ nầy là chỗ nào vậy cô? - Khánh hỏi.

Tám rà rà hai mái chèo, sốt sắng:

- Tên là “Trảng Thái Bình Dương” nè anh. Hồi trước trảng lớn ghê lắm. Giờ thì mắm mọc nhiều nên chỉ còn lớn cỡ nầy.

Xuồng lại rẽ vào con rạch nhỏ. Bóng cây mắm tối mờ mờ. Tám lột chèo, cầm dầm bơi lặng lẽ.

Tám hỏi:

- Anh Khánh biết rạch nầy tên gì không vậy? - Rồi Tám nói luôn, không đợi Khánh trả lời - Tên là rạch Tư Nỉ nè anh. Hồi trước ông Tư ở bên Ông Trang qua đây đào con kinh nhỏ để cho nước xổ ra đặng đóng đáy, dần dần nước chảy thành con rạch bây giờ. Mà hồi trước tôm nhiều dễ sợ vậy anh. Mấy cái lạch tới mùa tôm thì thường bị nghẹt, tôm chết thúi trắng nước. Anh Sáu biết không, ông Tư đóng đáy một ngày cả trăm cần xé tôm, chưa đầy hai mùa tôm mà ông Tư cất được nhà ngói. Sau, Tây nó vô đốt nhà ngói của ổng uổng hết biết rồi.

Khánh lầm lũi bơi. Tám vừa bơi vừa kể chuyện. Cơn mưa thổi tới chạy rào rào trên lá cây như bầy chim cót bay vội vã. Những hạt mưa gõ lích rích đều đặn trên ngàn lá mắm. Xuồng lại rẽ vào rạch Sào Lưới, con rạch đằm thắm hoang vu chảy giữa hai dãy rừng mắm thâm thấp. Bắt đầu từ con rạch nầy, xuồng đi thẳng về ngọn Tân Quảng chỗ có ao nước ngọt. Cho tới xế dài, xuồng mới quay về Kinh Nhãn.

Mưa kéo dài xôn xao trên ngàn lá mắm. Mưa bay trắng xóa trên mặt trảng thu hẹp lại, ngời lên ngàn cái ánh xanh lá rừng ven trảng.

Khánh giành gay chèo để chèo. Cái dáng anh đứng chông chênh, lớ ngớ khiến Tám cố nén cười. Tám ngồi trùm tấm ni-lông che mưa. Khánh đứng bấm chân trên sạp ván, chồm chồm ra trước đẩy mạnh hai mái chèo. Xuồng chở khẳm trôi xuôi ra vàm Kinh Nhãn, lắc lư.

Mới đó mà xuồng tấp vào bờ. Tám tung tấm ni-lông chạy ra. Không kịp rồi. Khánh bị nhánh cây ngáng ngang, té ngã xuống nước. Tám liền nhảy sổ xuống, vớt Khánh, quên đỡ cái lu nước ngả cấn ngang be xuồng, nước đổ ồng ộc ra ngoài. Khánh bị rớt nguyên người xuống nước, lội lặn ngùm ngụp một bên mạn be xuồng. Anh biết lội chập chững nên không bị chìm nghỉm và uống nhiều nước mặn. Tám một tay với nắm bên vai áo của Khánh, tay kia quạt nước. Cô lội chậm rì vô phía bờ. Cô xốc vai Khánh.

Người Khánh ốm tong ốm teo sao mà nặng trịch! Khánh bị vướng nhiều thứ lùm tùm quá: Nguyên bộ quần áo ka-ki. Chiếc nón vải quai vướng ngang cổ. Dây thắt lưng. Chiếc đồng hồ đeo tay. Giấy tờ trong túi. Chiếc khăn choàng tắm quấn ngang bụng buộc Tám phải ngụp hẳn dưới nước mấy lần, hai tay vừa nâng vừa đẩy Khánh tới trước. Khánh thở phì phì, hai cánh tay khuỳnh khuỳnh ra, xô xô vai Tám.

- Nước kìa! Nước! - Khánh hất hàm về phía cái lu nước ngả nghiêng, nói:

Tám không buông Khánh, tỉnh táo:

- Không kịp đâu, anh!...

Hai người trôi theo nước một quãng mới tới chiếc xuồng tấp vô mé bãi. Chưa tới sát xuồng, Khánh với một tay vịn chặt miệng lu. Chân Khánh đụng đất bùn nhão, người ưỡn ra tiếp một tay với Tám đỡ lu nước đứng lên. Tám bươn bả lên xuồng, một tay với xuống nắm kéo tay Khánh. Chốc sau, hai người ngồi im cùng tát nước và cùng bơi...

*

Ba hôm sau, Khánh chưa hết thẹn với Tám Phỉ. Tám đoán biết nên lảng tránh không dám nhìn thẳng vào mắt Khánh. Cô xích gần với Toàn hơn, thỉnh thoảng tiếp chuyện với Toàn những lúc rỗi rảnh, khiến anh đội trưởng đội khoan hơi lưu ý.

Toàn chưa vợ. Cách nay tròn một năm anh có yêu một người con gái mà giờ đây không tiện nói tên. Là vì cô ta có chồng, đã có một đứa con gái và sống cuộc sống hạnh phúc. Đối với Toàn lúc bấy giờ, cô gái là một biển trời thương nhớ. Nhưng sau đó cô gái chê anh nghèo, chê anh chỉ có chiếc xe đạp cao dàn, kệ sách với mấy cuốn sách, ngôi nhà nhỏ nửa trên bờ nửa dưới sông, ọp ẹp, đơn sơ. Ngoài ra, anh không có gì hết. Nên, cô gái lặng lẽ đi lấy chồng...

Chuyện ấy anh Năm Tứ biết, Khánh biết. Nhưng riêng Khánh hoàn toàn không hiểu tâm trạng gần đây của Toàn đối với Tám, mặc dù Khánh và Toàn là đôi bạn thân.

Khánh luôn nghĩ đến Tám, càng nghĩ đến Tám hơn bao giờ hết. Cứ thoáng hiện lên trong óc Khánh đôi mắt ngời lên cái ánh xanh lá mắm, cái ánh xanh nhìn anh, cùng trôi với anh theo dòng nước chảy băng băng, cuồn cuộn. Thêm nữa, có những cánh nhạn xao xuyến bay qua không dứt trước mặt anh!

Những ngày sắp sửa hoàn thành công trình khoan cây nước ngọt là những ngày nắng phỏng da, phỏng trán, hầm hập cái hơi mặn ngột ngạt từ vàm sông bốc lên, từ ngoài biển khơi ập tới. Ngời ngời muôn ngàn cái ánh xanh lá mắm nghiêng ngửa trong gió giật ầm ào. Sình đất trên sân rắn lại, vẫn mới nguyên những dấu chân con người trước mặt sở nuôi tôm Sào Lưới, những dấu chân như thể sóng gợn nhốn nháo trên mặt sông do bầy cá đối tụ hội chạy xăng xốm. Năm sáu tấm lưng rin rít mồ hôi nhễ nhại, hì hục tản mát khắp cùng khoảng sân mới bồi đất sình đầy vung. Chỗ giàn khoan, vòi cát mịn màng khởi phụt lên, một hiện tượng vui mừng khiến sáu người trong đội khoan cứ nhìn nhau và nói cười rộn rịp. Rồi lần lượt bốn người bị hút tới vòi cát, tới cái rãnh sình bùn lép xép. Còn lại Toàn và Khánh lắp vặn ống nước tại mép bờ giáp khoảng sân cồm cộm những dấu chân.

Toàn buông ống nước trên tay, thỏ thẻ:

- Tao nghĩ tao kỳ cục quá, Khánh à...

- Cái gì mà kỳ? - Khánh hỏi.

Toàn lặp lại:

- Tao nghĩ tao kỳ với mày quá!

Khánh buông ống nước, ngạc nhiên:

- Nhưng làm gì kỳ mới được? Tao không hiểu.

- Cô Tám ấy mà...

- Cô Tám làm sao?

- Nó để ý thương mầy chớ sao!

- Vừa phải thôi “ông”. Tao thấy ai nó cũng đối xử như nhau. Mà chắc mầy muốn nhắc cái chuyện cô ta giặt giùm quần áo chớ gì?

Toàn lắc đầu:

- Chỉ một phần nhỏ thôi.

Khánh tiếp:

- Vậy chớ không có ai ở nhà, trời mưa bỏ quần áo phơi ngoài sào ướt hết à? Nó đem vô hết thảy chớ chỉ riêng quần áo của tao đâu.

- Ờ, nó đem vô hết, nhưng riêng quần áo của mầy thì đặc biệt hơn: Xếp lại tử tế nè, rồi giấu dưới mí chiếu đàng hoàng nè. Một lần tao dòm thấy nó gài cái nút cổ áo tréo ngoe cái khuy. Chắc là nó e ngại, tay chân lóng cóng. Bộ quần áo của mầy chớ của ai: Cái quần xanh với áo trắng tay ngắn bị tàn thuốc cháy lũng một lỗ vạt trước. Bộ quần áo con Linh ở Rạch Rập may giùm một lượt với tao đó mà. Mầy đừng giấu...

Toàn nhìn lơ đãng một chút rồi tiếp:

- Với lại nó làm theo lời đề nghị của mầy, ngồi thổi lửa cả buổi để cất nước ngọt cho mày coi để biết vùng nầy hồi trước cực khổ đến ngần nào! Nước nhỏ xuống từng giọt...

Và Toàn nhắc lại câu nói lúc nãy:

- Vậy mà tao... kỳ với mầy quá, Khánh à!

Khánh nhíu mày, nghĩ ngợi định cạy cục chuyện tại sao Toàn ngài ngại với mình. Toàn có ý gì với Tám chăng?...

Liền đó, câu chuyện giữa hai người bị ngắt ngang bởi tiếng la gần như thất thanh của Năm Tứ:

- Nước! Nước! Đây kìa... Nước!

Khánh và Toàn ngửng lên, ùa chạy tới chỗ vòi nước đang chảy xối xả. Chỗ ấy, những bàn tay đang xòe xòe, run run hứng lấy nước. Năm Tứ bước trở ra, miệng ngậm một ngụm nước, và một bàn tay anh vuốt vuốt nước lên hai gò má, lên mũi, lên trán, lên mái tóc gần như hoa râm của anh. Năm Tứ cảm giác nước còn lờ lợ và không được trong lắm. Loáng cái, khoảng sân dày khít dấu chân lặng yên. Khánh hí húi vặn nối thêm ống nước, tâm trí trở lại câu chuyện mới vừa đây của anh và Toàn. Khánh lầm lì bước tới khơi lại cái rãnh được trải lên lớp cát mịn, óng ánh. Có vô số cánh chim nhạn xam xám bay lơ lửng trước mắt anh, muôn ngàn cái ánh xanh lá mắm và đôi mắt một cô gái nhìn anh đăm đắm. Một thoáng buồn hiện trên gương mặt anh. Anh đang nghĩ đến nay mai đội khoan xa Xóm Lở...

Tám đoán biết nhưng chưa hiểu hết tâm trạng của Khánh đối với cô. Những ngày sắp kết thúc công trình khoan cây nước ngọt, công việc của Tám càng bận rộn hơn. Từ mờ đất tới đỏ đèn, Tám chở nước, lựa tôm, mua thức ăn, nấu nướng... Lúc anh em tập trung về đông đủ mới vất vả làm sao! Thêm mấy người khách ở xa mới đến xin việc làm, các ông này xối xài nước ngọt ào ào trông mới xót con mắt. Tám không dám hở môi. Mỗi lần cô muốn lên tiếng, mỗi lần muốn giẫm chân thình thịch trên đất vì tức giận, cô chợt dòm thấy bóng dáng ông Chín Thế hiện ra với gương mặt không mấy vui vẻ, gương mặt nghiêm nghị như bắt đầu một câu chuyện thật dài với cô. Phải nói gần đây những thức ăn do tay cô làm luôn thay đổi: Khô cá dứa thái nhỏ ướp đường chiên mỡ. Tôm lăn bột chiên. Cá dứa nấu canh chua me với rau muống bóp xổi. Tôm chặt đầu rang mặn khô khô màu mật ong. Cá đuối luộc chắm nước mắm Phú Quốc. Cá mực xào dưa leo, khổ qua...

Có được những thức ăn đó thật ra ở vùng biển nầy không tốn bao nhiêu tiền. Món tôm cá anh em tự túc lấy. Nhưng anh đội trưởng ngài ngại. Anh Năm Tứ ngại vì cái phiền hà, thắc mắc của anh em đội khoan lúc đầu. Mà chính anh có lần đồng tình với Khánh.

Năm Tứ ra vẻ tự nhiên, hỏi:

- Tiền ăn của anh em đội khoan thằng Toàn góp đủ chưa cô Tám?

Tám sốt sắng:

- Đủ rồi. Anh Năm thật lo xa không! Anh Toàn cũng vậy, cứ theo tò tò hỏi chuyện tiền ăn tiền uống hoài hoài, phát mệt.

Năm Tứ dè dặt chen hỏi:

- Ngoài chuyện tiền ăn uống, Toàn có nói chuyện gì khác nữa không?

Tám cười:

- Có. Ảnh hỏi nhà em sống bằng nghề gì? Hỏi chuyện má em lúc còn sống. Ảnh hứa lâu lâu ảnh về thăm ba em. Mà anh Khánh cũng vậy nữa. Mấy ông nầy vòng vo Tam quốc lắm. Anh Khánh nói đi xa ảnh nhớ xứ nầy lắm. Ảnh nói ảnh nhớ mấy bếp lửa cất nước nữa. Mà ảnh biết khỉ khô gì chuyện hồi trước ở đây mà nhớ. Ảnh chỉ bắt em cất nước thử cho ảnh coi có một lần, thấy nước nhỏ xuống đứng chặc lưỡi hít hà hoài. Chỉ một lần thôi mà. Ảnh nói dóc chớ nhớ gì. Em đoán ảnh làm bộ thôi...

Tám đưa ra một nhận xét:

- Theo em, hai anh này làm việc tích cực lắm. Nói theo kiểu tụi em ở đây thì loại đó còn pin nhiều. Pin mới thì đèn sáng, phải không anh Năm?

Năm Tứ gật đầu:

- Cả hai đều được tặng Bằng khen đó cô. Thợ giỏi mà!

Và Năm Tứ trở lại câu chuyện bỏ dở nãy giờ. Năm Tứ nói:

- Cô Tám liệu cơm gắp mắm, đừng làm gì tốn tiền cơ quan nghe. Bây giờ còn nghèo mà.

Tám cười:

- Không có gì đâu anh Năm. Đừng lo. Đồ ăn mấy ngày rày có phần ủng hộ của bà con mình ở đây nữa. Bà con gởi tôm cá tiếp tế cho mấy anh đó.

Năm Tứ ngồi yên. Anh ít có những phút ngồi yên như vậy!

Tám nhìn Năm Tứ bỗng hỏi:

- Mà chừng nào các anh làm xong xuôi công việc ấy?

- Sáng mai! - Năm Tứ trả lời.

Tám hỏi tiếp:

- Vậy là chừng nào các anh đi?

- Xong sẽ đi...

Năm Tứ nói chưa dứt câu, bỗng có tiếng reo vang dậy một góc rừng. Tiếng của Toàn vang vang:

- Nước! Nước ngọt thật rồi! Nước!...

Và sau đó tiếng cười, tiếng nói xôn xao. Năm Tứ chưa vội bước ra, lặng lẽ ngẫm nghĩ mới lặng trang đó, bỗng xôn xao đó; cũng giống như mặt biển và vàm sông mới lặng im đó bỗng chốc gió dậy lên ầm ào; cũng giống như con nước ngập tràn tới con bờ Xóm Lở, mới đó thôi, lại tụt nhanh xuống, phơi ra bãi bùn lô nhô cọc cừ; cũng mới đó thôi, ven sông vắng hoe ghe xuồng rồi bỗng chốc từ ngoài sông, ngoài biển, xuồng ghe quay mũi vào Xóm Lở, cặp bến và đậu chật ních kề bên những ngôi nhà sàn; và mới đó thôi, vàm sông lơ lửng áng mây đen, bỗng chốc tan vỡ lặn chìm xuống biển mở lối cho những cánh chim nhạn xôn xao trở về Xóm Lở...

Năm Tứ ngồi nhìn ra sân mãi lâu, day lại, anh trông thấy đôi mắt Tám Phỉ đỏ hoe. Tám tự nhiên không quay mặt đi chỗ khác và cứ để cho hai giọt nước mắt lăn dài xuống má cô. Năm Tứ luống ca luống cuống vì không rõ Tám khóc vì chuyện gì? Anh tò mò hỏi:

- Sao, cô Tám?...

Tám không trả lời Năm Tứ, nhẹ nhàng hất hàm về phía vòi nước đang chảy xối xả xuống những bàn tay đang xòe ra hứng nước.

Năm Tứ ra vẻ thả nhiên, nhắc:

- Cô Tám cứ nói... cô Tám?

Tám ngẩng lên, đôi mắt hiền khô, xa xăm:

- Dòm thấy nước ngọt, em nhớ má quá anh à. Hồi đó ở rừng má em cất nước tiếp tế cho du kích đánh tàu Mỹ có tiếng. Lúc máy bay Mỹ soi đêm soi ngày, dùng nước cất không đủ phải đi chở nước ngọt chỗ khác. Một lần đi làm chuyện đó với ba em, má em thôi không về với em nữa... Anh coi, có buồn không?!...

Té ra là vậy! Năm Tứ hơi ái ngại, thấy mình có lỗi vì mới vừa gợi lại nỗi đau của người khác. Anh không muốn kéo dài câu chuyện ấy, đứng dậy giục Tám bước ra sân.

Ngoài sân, người đứng tụm năm tụm bảy. Hai Phó quản đốc sở nuôi tôm Sào Lưới mới vừa về tới, dừng lại đó. Ông Chín Thế cũng có mặt... Tất cả đều nhìn đăm đăm vòi nước tuôn hể hả, lấp lánh. Giọt nước chảy tin mừng tới bà con Xóm Lở và cả vùng đất mặn. Người còn ngoài biển khơi chạy về, người ở Xóm Lở kéo tới, người đi đường ghé qua nuốt thử giọt nước ngọt, hai bàn tay xòe ra hứng nước. Giọt nước như ánh đèn ông Chín Thế tầm kiếm đêm đêm những năm đen tối, đang khơi dậy cái bình yên, mênh mông. Nó gọi người tới thêm đông đúc, xúm xít...

Lúc bấy giờ giàn khoan được tháo gỡ ra, xếp lại và được lui xuống chiếc tam bản đậu lắc lư dưới bến. Đồ đạc lỉnh kỉnh được thu dọn, sau nốt là giàn khoan. Anh em ăn bữa cơm liên hoan xong liền ra đứng vây quanh giọt nước đang chảy xối xả. Khánh tạm lánh mặt. Anh chạy lui chạy tới tìm Tám. Nhưng không may cho anh, Tám đang tiếp chuyện với Toàn. Cô ngồi dưới gốc mắm, một tay hất hất mấy thanh củi vào đống, ngước mặt lên nhìn Toàn đang đứng tựa lưng vào thân cây mắm.

Toàn đứng xỏ một tay vào túi quần, nhắc lại chuyện cũ, chuyện anh làm ngả chiếc máy nổ xuống nước.

Anh nói:

- Chắc cô Tám lúc đó buồn tôi lắm phải không?

Tám lắc đầu:

- Có gì mà buồn. Tánh tụi em ưa ăn ngay nói thẳng mà. Nói rồi bỏ hết. Anh nhớ làm gì cho mệt.

Toàn lơ đãng nhìn ra chỗ vòi nước tuôn xối xả:

- Làm gì mà không buồn. Cô Tám nói không thật đó.

Tám đứng dậy, hất nhẹ đuôi tóc chấm xuống lưng:

- Thật mà. Công chuyện lu bu tới hoài mệt gần chết ai rảnh đi nhớ mấy chuyện đó, anh. Tánh con gái xứ nầy sau anh Toàn có trở về sẽ biết thêm...

Tiếng Tám chìm dần trong tiếng cười nói ồn ào từ chỗ vòi nước tuôn xối xả.

Câu chuyện tạm dừng. Toàn hơi yên tâm sau khi kết thúc câu chuyện ấy với Tám. Toàn chỉ muốn nói bấy nhiêu đó với Tám thôi, trước khi xa Xóm Lở. Anh lững thững bước trở ra sân tìm Khánh. Khánh còn nấn ná đứng trên bờ, cùng với ông Chín Thế, anh Năm Tứ xúm xít chung quanh vòi nước. Một bàn tay Khánh xòe xòe hứng nước, lật nghiêng ngửa. Cho nước thấm ướt cả bàn tay, thấm ướt ống tay áo, Khánh đưa tay lau lau nước lên mặt...

Cho tới lúc Năm Tứ và Khánh bước xuống chiếc tam bản mới trông thấy Tám bước ra.

Tám nói với xuống:

- Anh Khánh đi xa lâu lâu có dịp về nhớ ghé đây thổi quốc nghe anh Khánh. Chúc mấy anh đi mạnh giỏi hết nghe!

Năm Tứ cầm cây sào choãi mũi, hỏi:

- Mà cô chúc ai nhiều nhất đây?

- Ai cũng bằng nhau hết thảy. Anh Khánh, anh Toàn với anh Năm Tứ nữa, cùng về xứ nầy thổi quốc nghe!...

Ông Chín Thế nghe rõ mồn một tiếng đứa con gái của ông. Mọi người đều nghe. Riêng ông Chín nghĩ câu nhắn nghe ấy thực sự có liên quan đến bản thân mình. Chợt ông thấy mình có cái tình sâu nặng đối với tốp trai tráng mới vừa ra đi.

Bỗng ông Chín Thế kêu với xuống sông:

- Thằng Năm đâu? Mầy định cho đứa nào về rà coi cây nước lại. Phải kiểm tra một vài lần chớ, e nó nghẹt giữa chừng không ai biết sửa nghe. Thằng nào về?

Năm Tứ cười cởi mở:

- Dạ, Khánh về. Thằng Khánh kiểm tra nước đó bác Chín!

Ông chín gật đầu. Và vẫn đứng yên một chỗ kề bên đứa con gái của ông, như anh em sở nuôi tôm Sào Lưới, như hết thảy bà con Xóm Lở, các em nhỏ xuất hiện rung rinh trên cầu khỉ, các em chạy giỡn ngoài cầu tàu, ông Chín cùng nhìn một hướng: Vàm sông với ngàn cánh nhạn trắng xám, chấp chới, xôn xao.

Xóm Gò Công - Sào Lưới - 1979

Truyện ngắn Nguyễn Thanh

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác