Về thăm quê người sáng tạo lúa xuân miền Bắc


(Toquoc)- Qua những đoạn đường qui hoạch nông thôn trải nhựa, những hàng cây, xe chúng tôi bắt vào những uốn lượn "đường đi lối lại như hình con long" của làng cổ Bách Cốc. Kỹ sư Phạm Ngọc Khảnh dừng xe, hỏi đường đến nhà thầy. Ngõ vào có hàng giậu ruối thản nhiên xanh trước cánh cổng sắt ken thưa, ríu rít tiếng chim chuyền cành đây đó.

Làng Bách Cốc, quê giáo sư Bùi Huy Đáp, chỉ cách thành phố Nam Định khoảng 7 km về phía tây, cách huyện lỵ Vụ Bản chừng 4 km về phía đông. Làng xưa thuộc tổng Trình Xuyên, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng. Nay Bách Cốc thuộc xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.Theo thần phả, vào thời Hùng Vương, mười hai vị gia tiên của 12 dòng họ từ Bạch Hạc xuôi thuyền về cửa biển Côi Sơn, khai khẩn dải bãi bồi hoang sơ bên dòng sông Cốc, lập nên làng Bách Cốc, truyền đến ngày nay đã bao nhiêu đời. Nhiều danh thần tài kiêm văn võ, những trí thức yêu nước sinh ra ở đây. Tinh anh, thần thái của các vị tiên liệt làng Bách Cốc còn toả rạng trên những hàng bài vị nơi từ đường 12 dòng họ, nơi đền, chùa Bách Cốc, văn chỉ của làng; trên những hoành phi, câu đối và 28 bia đá soạn lập qua nhiều thế kỷ, tỏ mờ dấu vết thời gian.

Về thăm quê người sáng tạo lúa xuân miền Bắc - ảnh 1
Giáo sư Bùi Huy Đáp
 

Giáo sư Bùi Huy Đáp sinh năm 1919, tại Bách Cốc. Thân phụ ông, cụ Bùi Long Đống đậu tam trường Trường thi Nam Định. Nhà nghèo, cụ ngồi dạy học ở xã bên. Do học thêm Quốc ngữ, cụ được bổ dụng làm Tổng sư (thày giáo hàng tổng) tổng Trình Xuyên, huyện Vụ Bản. Mọi việc trong nhà trông vào bà vợ đảm đang lo liệu. Được mẹ hết lòng lo cho ăn học, hai anh em ông đều chăm học và học giỏi bởi vì "biết phận mình con nhà nghèo, phải cố học". Ông anh năm mười tám tuổi đã đậu 3 bằng thành chung ở Nam Định: bằng thành chung ta (đíp-lôm), bằng thành chung tây (Brevet élémentaire) và bằng "có khả năng sư phạm". Còn Bùi Huy Đáp năm mười hai tuổi đã đậu sơ học, có tiếng học giỏi. Thi vào học bậc thành chung trường Bưởi Hà Nội, ông đỗ đầu khoa thi có 900 thí sinh dự thi, được hưởng học bổng. Mười sáu tuổi đỗ đíp-lôm, được hưởng học bổng toàn phần của Phủ Thống sứ Bắc Kỳ trong ba năm học tú tài. Qua phần I, đến khoa thi tú tài phần II, đề thi từ Paris gửi sang, Bùi Huy Đáp lại đỗ đầu. Khi Nha thanh tra Nông Lâm mở trường Đại học Nông Lâm đào tạo kỹ sư Đông Dương (sau đổi tên là kỹ sư Nông nghiệp nhiệt đới), ông nộp đơn dự tuyển với hơn 500 tú tài dự thi. Nhà trường chỉ tuyển 15 học sinh, Bùi Huy Đáp trúng tuyển. Sau những học phần khoa học cơ bản, sinh viên học các chuyên môn với nhiều thầy là kỹ sư, tiến sĩ người Pháp phụ trách các bộ môn của Viện Khảo cứu Nông Lâm (IRAFI), sau đó là Viện Khảo cứu Nông học (IRAI). Bùi Huy Đáp được các thầy khen. Năm thứ ba, ông được gửi đi tập sự ở Phủ Liễn, ở Tây Nguyên rồi Sở Nông nghiệp Trung Kỳ ở Huế. Tổng kết ba năm học, ông được xếp thứ 5 trong 15 sinh viên tốt nghiệp. Trong cuốn sách hồi tưởng "Cuộc đời khoa học Nông nghiệp của tôi" (NXB Thanh Niên, 2003) Bùi Huy Đáp kể: Lần đầu tiên phát bằng kỹ sư ở Đông Dương, để tuyên truyền, chính quyền thuộc địa đã tổ chức lễ phát bằng tại giảng đường Đại học do Toàn quyền Đông Dương chủ trì và phát bằng. Buổi lễ được cử hành trọng thể, theo nghi thức của Nhà nước Bảo hộ, có nhiều quan chức cao cấp đến dự.Toàn quyền Đông Dương phát biểu ngắn, nhắc lại lời của Thống chế Pétain bên Pháp: "Đất đai không biết nói dối, nó trả lại hậu hĩnh những công sức đã bỏ vào nó". Ngày "vinh quy", kỹ sư Bùi Huy Đáp đáp tàu về Nam Định. Trong niềm vui của gia đình, ông bố mừng hơn cả con trai: "Con đã đỗ tú tài nay lại đỗ kỹ sư, hơn tú tài, cũng là cử nhân, mấy đời nhà ta mới được! Còn bố, mấy lần thi hương, chỉ qua được cái tam trường". Bà mẹ chậm rãi nói với con: "Thế là cái nghề tầm thường của mẹ, con đã mất ba năm mới học được! Mà cày bừa, cấy hái con có biết gì đâu? Con phải năng đi nông thôn, gặp gỡ nông dân, chớ ngồi lì ở phòng giấy để trở thành anh kỹ sư canh nông đường nhựa"! Và anh kỹ sư tân khoa phải tìm đến nhà ông xã Xướng, một người cày thuê cho cả xóm để vật nài xin học cày học bừa, khiến ông thợ cày tròn mắt: "Cậu đã đỗ kỹ sư, sao còn đi học cày". Kỹ sư Bùi Huy Đáp đã học những bài học nghề nông từ đồng ruộng quê nhà. Sau này, khi đã đứng trên bục giảng ở nhiều giảng đường, ông nói với sinh viên điều tâm đắc của mình: "Làm khoa học nông nghiệp là phải biết hỏi nông dân và cây cỏ. Hỏi nông dân thì phải biết cách hỏi và cách nghe những câu đơn giản về đời sống, công việc và kinh nghiệm sản xuất làm ăn của họ; chú ý nghe họ trả lời và nắm những điểm chính. Hỏi cây thì phải quan sát cẩn thận, phân tích những đặc điểm đặc thù, không chủ quan lắp vào những định kiến có sẵn". Ông trân trọng những bậc "lão nông tri điền" ở làng quê, coi họ như những người thầy.

Bùi Huy Đáp lên đường vào Huế làm kỹ sư công nhật rồi phó kỹ sư nông nghiệp Sở Canh nông Trung Kỳ. Ông viết báo cáo chuyên đề "Nghề trồng cây ăn quả ở Trung Kỳ", được Phủ Toàn quyền xuất bản bằng tiếng Pháp, khởi đầu cho hơn 100 cuốn sách khoa học và hơn 1000 bài báo về nông nghiệp vùng nhiệt đới Đông Dương -Việt Nam trong suốt cuộc đời làm khoa học nông nghiệp của ông. Cách mạng tháng 8-1945 thành công, kỹ sư Bùi Huy Đáp được cử làm Phó Giám đốc Nha Nông Mục Thuỷ Lâm ở Hà Nội. Khi Bộ Canh nông trong Chính phủ Kháng chiến được thành lập, nhà thơ - kỹ sư canh nông Cù Huy Cận được cử làm Bộ trưởng. Bùi Huy Đáp được Bộ trưởng Cù Huy Cận giữ lại làm Tổng thư ký (tương đương trợ lý Bộ trưởng hiện nay). Công tác đào tạo cán bộ được triển khai ngay trong thời chiến do ông đề xuất, các lớp trung cấp nông nghiệp mở ở Huế (1946), khu IV, khu V (1947) rồi Trường Trung học Canh nông Việt Bắc cũng mở vào đầu năm 1948, ngay sau Chiến dịch Thu Đông địch tấn công lên Việt Bắc. Năm 1952, Viện Trồng trọt được thành lập ở căn cứ địa Việt Bắc, ông được cử làm Viện trưởng. Đây cũng là Viện nghiên cứu khoa học đầu tiên ở nước ta, lúc đầu chỉ có ba kỹ sư, ba tham tá và phần đông là cán bộ trung cấp mới được đào tạo, những người "không thiếu nhiệt tình công tác nhưng có những lỗ hổng về kiến thức. Làm công tác khuyến nông, hướng dẫn nông dân cải tiến kỹ thuật, một số anh em có kinh nghiệm ít nhiều đã hoạt động có hiệu quả trong quần chúng, do chưa nghiên cứu khoa học nên anh em có không ít những lúng túng khi thực hiện" (Bùi Huy Đáp-Sđd tr.34).Viện trưởng Bùi Huy Đáp đã mở lớp học dài hạn cho tất cả cán bộ kỹ thuật, cung cấp những thông tin mới, những tài liệu mới từ Pháp, Liên Xô (cũ), từ Trung Quốc và một số nước XHCN. Học viên được ông giảng giải các vấn đề: Sinh vật và ngoại cảnh tiến hoá của sinh vật; Đồng hoá và dị hoá; Thay cũ đổi mới; Di truyền và biến dị; Đấu tranh sinh tồn; Loài sinh vật và sự hình thành loài; Đấu tranh và tương trợ trong loài và giữa loài; Chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo; Chủ nghĩa Đác-uyn Xô-viết...Đây là thời kỳ phát triển của Viện Trồng trọt, lớp học được duy trì trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đào tạo thật bài bản một đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đáp ứng được yêu cầu công tác của Viện.

Đến năm 1956, Nhà nước ta cho mở 5 Trường Đại học đầu tiên: Tổng hợp, Sư phạm, Y-Dược, Bách khoa, Nông Lâm, các quyết định đều do Hồ Chủ tịch ký. Bùi Huy Đáp được cử làm Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (sau là Đại học Nông nghiệp) khi ông 37 tuổi - Một Hiệu trưởng trẻ trung, giàu nhiệt tình cống hiến. Qua 15 năm phụ trách trường Đại học Nông nghiệp (5 năm là Hiệu trưởng) và nhiều năm trực tiếp giảng dạy, ông đã góp công đào tạo, bồi dưỡng nhiều kỹ sư giỏi, những chuyên gia khoa học nông nghiệp tận tuỵ, yêu nghề, được đồng nghiệp tin cậy, được nông dân quý trọng.

Năm 1996, Giáo sư Bùi Huy Đáp được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I) với công trình khoa học Lúa xuân, đánh dấu một thành công lớn trong sự nghiệp của ông. Cây lúa Việt Nam, trong con mắt các nhà khoa học, còn được gọi là Lúa châu Á (Dryza satival) vì nó được thuần hoá từ lúa dại thành lúa trồng ở 3 trung tâm đầu tiên: Assam (Ấn Độ), biên giới Thái Lan - Myanma và trung du Tây BắcViệt Nam, vào thời đồ đá giữa, trong lòng văn hoá Hoà Bình, cách đây khoảng 12000-16000 năm.Với hình thái lúa cao cây và kỹ thuật trồng lúa thô sơ, năng suất lúa ở đồng bằng sông Hồng vào đầu Công nguyên chỉ là 4 tạ/ha (tính theo sách Cổ Kim Chí của nhà bác học Lê Quý Đôn). Đến giữa thế kỷ XX (theo Niên giám thống kê Đông Dương) năm 1942, năng suất lúa ở Bắc Kỳ là 13 tạ/ha với dân số 9,3 triệu người, tỉ lệ thóc/đầu người là 1,9 tạ. Ở Trung Kỳ năng suất lúa là 10 tạ/ha,với dân số 6,1 triệu người, tỉ lệ thóc/đầu người là 1,6 tạ. Còn ở Nam Kỳ, với năng suất lúa 14 tạ/ha, dân số 5,4 triệu người, đạt tỉ lệ thóc/đầu người là 5,9 tạ. Miền Bắc thường có đói, riêng trận đói khủng khiếp năm 1945 đã cướp đi 2 triệu người.

Trên thế giới, có những nền văn minh nông nghiệp nhiệt đới khác sớm lụi tàn ngay sau thời kỳ phát triển rực rỡ. Chứng minh sự trường tồn của cây lúa nước Việt Nam, giáo sư Bùi Huy Đáp viết: "Hai cơ sở chủ yếu của nền văn minh lúa nước Việt Nam là ruộng trồng lúa nước và quần cư của nông dân trồng lúa nước. Ruộng lúa nước có tính ổn định cao, được khai thác từ mấy nghìn năm trước để trồng lúa. Châu thổ sông Hồng nay vẫn là vựa lúa quan trọng của nước ta... Châu thổ sông Hồng thời kỳ đầu Công nguyên có năng suất 4 tạ/ha, nay đã cho năng suất gấp 15-25 lần và ở ngưỡng cửa 100 tạ/ha với những địa bàn từng tỉnh đã đạt 60-70 tạ/ha. Cây lúa không cần luân canh. Có những trà ruộng được trồng lúa liên tục từ hàng nghìn năm nay ở châu thổ sông Hồng, vẫn cho năng suất khá, và khi được bón đủ đã cho năng suất 120 tạ/ha/năm (Nam Định,Thái Bình)" (Sđd, tr.79,80,91).

Trong cuốn sách viết ở tuổi 84: "Cuộc đời Khoa học Nông nghiệp của tôi", giáo sư Bùi Huy Đáp dành cho cây lúa xuân hơn một chương với rất nhiều kỷ niệm trong suốt hành trình khảo sát, nghiên cứu, thực nghiệm. Lúa xuân khởi đầu từ Hà Tây về Thái Bình, Nam Định, sang Hưng Yên, lên Vĩnh Phú... Lúa xuân bắt đầu được cấy thí điểm trên diện tích ruộng bị bỏ hoá 10% ở những vùng cấy lúa chiêm những năm thiếu sức kéo, thiếu lao động , những năm còn bom đạn chiến tranh. Từ những thất bại buổi đầu do làm chơi chơi, do chưa nắm chắc qui trình mùa vụ... đến những mùa đại trà thắng lợi, lúa xuân quần bông trĩu hạt sau ngày đất nước thống nhất, sau những chuyển đổi khoán quản từ chỉ thị 100 của Trung ương... Và "Người sáng tạo lúa xuân miền Bắc" có bao nhiêu cộng sự từ Viện nghiên cứu cây trồng đến Trại lúa giống, từ văn phòng Thủ tướng đến trụ sở UBND xã, từ những khay mạ, ô mạ trên nền sân xướng trải nilông đến "hội nghị đầu bờ" các hợp tác xã nông nghiệp. Lúa xuân bước lên sân khấu dưới ánh đèn măng-xông. Lúa xuân xanh biếc các trang thơ và hát lên thành nhạc: "Em xinh là xinh như cây lúa" ! Vậy là cả họ hàng làng nước chân quê của ta sau bao nhiêu nhìn ngắm, đo đắn thiệt hơn đã rước lúa xuân vào nền nếp đồng ruộng nhà mình. Những câu ca vận vào cây lúa chiêm nghìn xưa như "Lúa trỗ cốc vũ, no đủ mọi bề", "Lúa trỗ thanh minh thì vinh cả xã", "Lúa trỗ lập hạ, buồn bã cả làng"... đối với cây lúa xuân xem ra không còn phù hợp!

Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, với công cuộc "chuyển mùa lúa ở miền Bắc thành lúa xuân và lúa xuân muộn"; "đổi vụ lúa miền Nam thành lúa đông xuân và lúa hè thu", cả nước làm ba vụ lúa chính: lúa đông xuân, lúa hè thulúa mùa, năm 1989, Việt Nam đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo và liên tục tăng dần doanh số. Đến nay Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Thật là kỳ diệu!

Với giáo sư Bùi Huy Đáp, cuối thế kỷ vừa qua ông còn có thêm niềm vui từ quê nhà. Năm 1994, các nhà khoa học trong đoàn công tác khảo cổ học Việt - Nhật đã về Bách Cốc hạ trại. Trong mấy năm thám sát, nghiên cứu, họ tìm thấy ở Bách Cốc những hiện vật, dấu vết của những tầng văn hoá đặc trưng của nền văn minh lúa nước châu thổ sông Hồng. Giáo sư -Tiến sĩ Sakurai (Chủ tịch Hội Nghiên cứu làng xã Việt Nam của Nhật Bản) trước đây đã từng viết luận văn tốt nghiệp Đại học Quốc gia Tôkyô trên những dữ liệu khảo sát, nghiên cứu từ làng Bách Cốc và hợp tác xã nông nghiệp Cốc Thành, trong báo cáo khoa học"Mục đích và kết quả khảo sát xã hội nông thôn tại hợp tác xã Cốc Thành huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định", xác định: "Bách Cốc có đủ điều kiện thuận lợi để thực hiện đề tài nghiên cứu nông thôn, nông nghiệp Việt Nam".

Về thăm quê người sáng tạo lúa xuân miền Bắc - ảnh 2
Gạo nàng thơm (ảnh Internet)


Gia đình giáo sư Bùi Huy Đáp đã chuyển về Hà Nội*. Ông Bùi Trọng Đang, người cháu của giáo sư, thỉnh chuông hướng dẫn chúng tôi làm lễ dâng hương trước liệt vị gia tiên dòng họ Bùi Huy tại từ đường. Kỹ sư Phạm Ngọc Khảnh dừng lại lâu hơn bên ban thờ có chân dung nhà giáo quá cố, cụ thân sinh giáo sư Bùi Huy Đáp. Ông Đang cho biết, nền nếp gia phong, lệ khen thưởng con cháu học giỏi, việc khuyến học trong gia tộc vẫn được giữ gìn như xưa.

Về thăm quê "Người sáng tạo lúa xuân miền Bắc", chúng tôi cảm nhận được điều dân làng ở đây tâm đắc.Tên làng Bách Cốc từ bao đời nay đã mang ước vọng mùa màng "phong đăng hoà cốc" thóc gạo đầy nhà. Cả bức hoành phi ở từ đường dòng họ Nguyễn Đình trong làng cũng một ý nguyện "Hữu Cốc Di" - lấy ý từ sách Mạnh Tử "Quân tử hữu cốc di tử tôn" (Người quân tử có lúa gạo (của cải) để lại cho con cháu).

Vinh quang thuộc về những người biết làm giàu cho quê hương đất nước. Người thầy - nhà khoa học Việt Nam, giáo sư Nông học Bùi Huy Đáp đã làm được điều kỳ diệu ấy. Tại thành phố Nam Định, trước ngày nâng cấp thành đô thị loại I, một đường phố mới mang tên ông. Ở Hà Nội, trong khuôn viên trường Đại học Nông nghiệp, năm 2013, tượng chân dung Giáo sư Bùi Huy Đáp đã khánh thành, tôn vinh người thầy mẫu mực, vị Hiệu trưởng đầu tiên đã góp công sức và tâm huyết vào việc sáng lập ngôi trường đại học của nền nông nghiệp Việt Nam vượt qua những khó khăn thử thách, trở thành điểm sáng tin yêu từ thuở ban đầu gây dựng chưa dễ gì quên.

Bút ký của Phạm Trọng Thanh

------------------------------

* Giáo sư Bùi Huy Đáp mất ngày 4-7-2004, tại Hà Nội.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác