Truyện ngắn, tản văn của các tác giả

 

MƯA NHÃ NAM

 

Gần đây, mọi người bàn tán râm ran về một bản nhạc của ông Nguyễn in trên Tập san của Trường, số đặc biệt chào mừng ngày thành lập và phát trên đài truyền hình thành phố. Giai điệu bài hát êm đềm, sâu lắng, đậm đà tình người. Phải nói rằng đó là bài hát hay, chính vì hay mà người ta xì xào. Lẽ nào một người chuyên giảng dạy kinh tế lại có thể sáng tác một bài hát hay như vậy. Trông ông ấy không có vẻ gì là nghệ sĩ, dáng đi hơi vội vã, bước đi ngắn chắc, người hơi thấp đậm, vầng trán cao, đôi mắt thông minh. Thế mà lạ thật, lại làm cả nhạc. Ông công tác ở trường này đã vài chục năm, ai cũng biết. Gặp ai ông cũng hồ hởi bắt tay, nhưng chỉ sau vài câu hỏi xã giao, ông lại vội đi ngay, để lại sự sững sờ cho người gặp, ông bận rất nhiều việc. Những người hiểu kỹ về ông thường nói, ông ấy làm cả thơ nữa, thơ với nhạc rất gần nhau. Còn công trình khoa học kinh tế ông có vài chục cuốn, in ở nhiều nhà xuất bản.

Ít lâu sau, lại thấy lời của bài hát được đăng nguyên xi trên tờ báo văn học nghệ thuật của thành phố, dưới dạng một bài thơ, người ta lại xôn xao. Tại phòng nghỉ của giáo viên giữa các giờ giảng, có người nói: “À, thì ra ông ấy viết về nơi trường ta sơ tán ngày xưa”. Người sành điệu hơn thêm vào: “Ông ấy viết về mối tình thời chiến tranh, mối tình đẹp mà dang dở”. Một anh giáo viên trẻ tỏ ra sâu sắc: “Chà, thế hệ đàn anh của chúng ta cũng ghê gớm lắm!”. Bài thơ này đề tặng nơi sơ tán, nhưng là để tặng riêng cho một người đấy! Các cậu cứ đọc thử mà xem”. Rồi anh giở rộng tờ báo có in bài thơ cho mọi người đọc.

TÌNH NHÃ NAM

Tặng nơi sơ tán

 

Nhã Nam đất đỏ đậm tình ai,

Dòng kênh xanh chảy tóc em dài

Núi Đót chon von vầng trán ngọc

Cầu vồng ai bước, vai sánh vai

Tình xưa một khối đầy mưa nắng,

Hoa sim tím đỏ tím hoàng hôn

Gió buốt rừng già đêm bếp lửa

Sưởi ấm nằm dài, em có tin.

Tình xưa chưa dễ phai màu trắng

Hoa dẻ mâm xôi đầy tình em

Mưa trôi nước ngập cầu Ngàn Ván

Anh đợi trong mưa gió thượng ngàn.

Yên Thế Nhã Nam ai có nhớ

Hôm nay trở lại một mình ta

Đọc xong, một anh bình luận: “Này, những địa danh Núi Đót, Cầu Vồng, Cầu Ngàn Ván đều có thật ở nơi sơ tán. Chắc ở đấy các cụ đã từng”. Họ phá lên cười. Một anh khác tiếp: “Bài thơ này tình cảm nồng đượm, pha đôi chút trắc ẩn. Có lẽ vì vậy, ông Nguyễn ở quá cái tuổi “ ngũ thập tri thiên mệnh” vẫn chưa có gia đình. Họ đang bàn sôi nổi thì chuông vào lớp vang lên chấm dứt cuộc bình thơ. Những ý kiến của cánh giáo viên trẻ có một phần sự thật. Hiện nay ông sống độc thân ở một căn hộ tầng hai, tiêu chuẩn của một chủ nhiệm khoa do nhà trường phân cho cách đây hơn mười năm. Còn vì sao ông chưa lấy vợ, thực hư thế nào, ít người biết, có lẽ nó còn liên quan đến bài thơ trên.

Hoàng là bạn thân của ông Nguyễn, thân đến mức sẵn sàng gả em gái cho Nguyễn. Họ vốn là hai sinh viên cùng lớp, đều được ở lại trường, sau tốt nghiệp làm giáo viên. Câu chuyện như thế này. Năm ấy hai người đều được Bộ gọi cho đi thi nghiên cứu sinh, họ mừng rơn, ôm lấy nhau, họ quyết tâm:

- Phen này tao với mày phải quyết thi cho đỗ.

Trước đó, đi làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài đều do nhà trường chọn, cử. Vào thời gian ấy, Hoàng và Nguyễn đều ở độ tuổi ba mươi cả rồi mà vẫn chưa đến lượt được đi, họ nóng ruột lắm. Thỉnh thoảng lại nghe tin Bộ này, Bộ khác không có trường đại học, vẫn cố xin chỉ tiêu nghiên cứu sinh cho những trường hợp con ông cháu cha qua thư tay đến Bộ đại học, họ rất nản. Cho nên lần này được đi thi, họ cố thi cho được. Họ mừng vì Bộ đã có một chủ trương công bằng, ai thi đỗ là được đi, nếu không, cái cỡ làng nhàng như họ, lý lịch không đỏ cũng không đen, khó mà xuất ngoại.

Hai người cùng học chung, những ngày đầu học ở nhà. Ở nơi sơ tán, sống nhờ nhà dân cũng có cái tiện là dân đi làm cả ngày, mình làm chủ hoàn toàn. Nhưng cũng không hẳn là như thế, ông chủ, bà chủ và những thành viên khác của gia đình, họ hàng, khách khứa cũng ra vào luôn. Mỗi lần lại mời chén nước, củ khoai, mình không thể cứ ôm khư khư sách vở mà từ chối. Sau đó hai người bàn nhau lên học ở thư viện trung tâm, khu hiệu bộ. Hàng ngày, họ phải đạp xe đi về gần chục cây số. Tuy sơ tán có nhiều khó khăn, nhưng quan tâm đến nhu cầu nghiên cứu, đọc sách, giải trí của giáo viên, trường đã xây khu thư viện khá khang trang, có phòng đọc riêng cho giáo viên. Hai người dùi mài kinh sử ở đó hàng tháng trời. Buổi trưa, báo cơm nhà ăn ở hiệu bộ; buổi chiều về nhà ăn của khoa; buổi sáng: nhịn. Một lần, sau buổi học về môn xác suất, toán cao cấp, quá căng thẳng, họ rủ nhau ra ngoài giải lao dưới bờ tre râm mát. Mấy cô gái làng đi rỡ khoai về qua, thấy hai anh giáo viên trẻ, lên tiếng trêu đùa:

- Cái Hòa mời hai anh tối nay đến nhà chơi, ăn con củ.

Ở vùng này dân gọi khoai lang là con củ. Nói xong, họ cười rũ rượi, một cô đấm bạn nói:

- Này, bỏ cái thói muốn ăn gắp bỏ cho người đi nhé.

Hoàng quay sang Nguyễn:

- Hay là tối nay ta sang đi.

Nguyễn người Quảng Bình, ra Hà Nội học vào những năm đầu chống Mỹ. Cái gì cũng thấy lạ, hơn hẳn quê anh. Hà Nội họ giàu quá, họ biết nhiều thứ. So với họ, mình chỉ là con vịt, thấp lè tè. Hơn nữa, giọng quê anh, họ bảo là khó nghe, có khi anh nói, bạn bè cười làm cho anh ngại tiếp xúc. Anh lặng lẽ quan sát, học được rất nhiều điều khôn ở dân Hà Nội. Nhưng trong tình yêu thì anh chịu, anh nhát, anh tự ti. Con gái Hà Nội trắng nõn nà như thế anh không dám động đến. Con gái nơi sơ tán anh cũng chịu.

Nghe anh Hoàng nói thế, Nguyễn im lặng, mãi sau mới cất lời:

- Tao ngại lắm.

- Ngại gì, cứ đi với tao. Hay là mày không thích. Hòa là con bé mắt lúng liếng, ngực to nhất bọn. Nó đi sau cùng đấy.

Hoàng ăn nói táo tợn, quen cái tính tình của thị dân, anh vốn là dân Hà Nội gốc. Khi gần tốt nghiệp đại học, cán bộ tổ chức khoa đến gặp anh nói:

- Trường định giữ cậu lại để làm công tác giảng dạy. Việc học tập bồi dưỡng nâng cao chủ yếu là tự học ở trong nước. Cậu đồng ý thì về viết đơn.

Vốn là người nhạy cảm, nghe thấy thế, Hoàng thừa hiểu mình là con cán bộ lưu dung, vào được đại học, ở lại trường là tốt lắm rồi, mơ đi học nước ngoài là hão huyền, nên anh viết đơn ngay.

Câu chuyện với cô gái đồng quê chỉ khơi ra như thế, không ai nói gì thêm nên gác lại ở đó.

Ở thư viện trung tâm, hai người được cô thủ thư đối xử rất tử tế. Tin hai người được cử đi thi nghiên cứu sinh loan khắp trường. Những khoa đóng cách xa khu hiệu bộ mươi cây số cũng chỉ hôm trước hôm sau là biết. Ai cũng hiểu rằng, được cử đi nghiên cứu sinh là cá sắp hóa rồng, vừa có tiền, vừa có đồ. Cả nước vừa sản xuất, vừa chiến đấu vì miền Nam ruột thịt, sẵn sàng chịu đựng hi sinh, gian khổ đi vào tuyến lửa, đi B, đi C thì những người được cử đi nghiên cứu sinh, dưới mắt các cô gái trẻ là những người tuyệt vời. Họ là những người ở diện đào tạo nhân tài cho đất nước thời kỳ hậu chiến. Dù địch đánh phá ác liệt, họ vẫn có quyền xách vali lên tàu liên vận quốc tế sang nước bạn học tập. Về bản thân họ thì khỏi phải lo. Bởi vì, về lý lịch phòng tổ chức nhà trường đã chọn kỹ; về chuyên môn bộ môn, khoa đã đánh giá, cân nhắc cẩn thận; về kinh tế thì sau bốn năm học ở nước ngoài về, họ có đủ tiền mua nhà, có mô- tô đỏ chói chạy êm ru, lúc nào cũng mặc com-lê, giày da, các cô chỉ việc lựa thời cơ tiếp cận, chọn lấy một anh điển trai, hợp lý. Hoặc đôi khi các cô cũng tự hạ tiêu chuẩn, ưng lấy một anh khu bốn quê xa Hà Nội hoặc một anh tập kết cứng tuổi cũng được. Chính vì vậy, hai anh giáo viên trẻ này đã nằm trong tầm ngắm của nhiều cô gái. Việc họ được phục vụ chu đáo cũng là điều dễ hiểu. Một lần, cô chủ động trêu Nguyễn. Hôm ấy, trong một buổi sáng, Nguyễn yêu cầu đổi sách bốn năm lần, đáng lẽ với người khác. Tú, tên cô thủ thư, sẽ gắt, nhưng cô chỉ nói nhẹ:

- Đổi nhiều sách thế này, anh phải thù lao cho em đấy.

Nguyễn ngớ người ra, không biết nói gì. Gặp người khác thì đây là cơ hội tốt để tán tỉnh, làm thân. Còn Nguyễn chỉ biết đưa hai tay ra nhận cuốn sách, mắt nhìn cô gái trân trân, đi về bàn cũ ngồi đọc. Tú lặng lẽ nhìn theo. Nhưng chỉ chừng đó, tâm trí Nguyễn cũng đủ in đậm hình ảnh cô gái có thân hình mảnh mai, da trắng, đôi mắt mơ mộng với làn mi dài luôn mở to mỗi khi có điều gì ngạc nhiên hoặc muốn tỏ ra như thế. Mái tóc xoăn tự nhiên tỏa xuống đuôi mắt làm tăng thêm vẻ kín đáo, khép nép.

Hôm ấy, sau bữa cơm chiều, mặt trời đã khuất sau những dãy đồi dẻ, đồi sim phía xa. Hoàng và Nguyễn lững thững dạo chơi dọc đê của con kênh đào nước chảy xanh trong. Hai người ngồi xuống dệ đê. Họ học cùng nhau suốt ngày, nói đủ thứ chuyện, tưởng như đã nói hết chuyện, vậy mà có chuyện vẫn chưa nói. Đột nhiên, Hoàng chủ động:

- Này, mày thấy con bé ở thư viện thế nào?

- Tốt.

- Tốt thế nào? Ai mà chả tốt. Nhưng tao hỏi thật, mày có thích nó không?

- Thích.

- Thích thì đi cưa đi.

- Nó còn trẻ quá, hai mươi tuổi. Tao không cưa được.

- Để tao cưa hộ. Nó là em gái tao đấy.

Đến lượt Nguyễn ngạc nhiên. Anh không thể ngờ có chuyện đó. Làm sao Tú xin được vào đây. Anh không biết rằng chính Hoàng đã xin cho em gái vào trường này và giữ kín như bưng. Còn Nguyễn, anh cứ nghĩ rằng mình đỗ vào đại học ở Hà Nội, ở lại dạy tại trường, đi sơ tántất cả chỉ là tạm bợ, rồi sẽ có ngày anh trở về quê, đấy mới là nơi thân thiết với anh, anh sẽ lấy vợ ở quê, sẽ làm nhà và sẽ chết ở đó. Bây giờ anh sắp được đi nước ngoài và lại sắp có người yêu, sắp lấy vợ, ôi mông lung quáThế còn cái cô Hòa, trông cũng hay hay đấy, trong thâm tâm tự đáy lòng, Nguyễn nghĩ, nếu cô ta thành vợ mình, anh cũng đủ sung sướng lắm rồi, đằng này lại được hẳn một cô em xinh tươi, người thành phố, anh choáng ngợp. Hay là thằng Hoàng đùa mình, nó tệ thật. Thôi, anh không dám nghĩ nữa. Bây giờ lo thi đã.

Lần ấy hai người đều thi đỗ, Nguyễn được đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh chuyên ngành kế hoạch hóa. Hoàng đi Đức viết luận án về những điều kiện, tiền đề của công nghiệp hóa.

*

Chiếc máy bay Boing 706 của hãng Hàng không Việt Nam rời đường băng, nhẹ nhàng vút lên bầu trời xanh trong. Những cô tiếp viên hàng không mặc áo dài màu xanh da trời làm chủ chuyến bay, đi lại thoăn thoắt, lo những chuyện phục vụ hành khách. Hơn nửa tiếng sau, khoang hành khách nhộn nhịp hẳn lên. Dường như mọi người đều ngồi thẳng lưng trở lại, vài hành khách ngả ghế, ngủ gà, ngủ gật cũng choàng thức ngồi ngay ngắn. Các cô tiếp viên đẩy một chiếc xe nhiều tầng, nhiều ngăn, đầy các thứ nước ngọt, rượu đi dọc từ trên xuống, mời hành khách uống nước giải khát và tiếp đó là bữa ăn chính.

Nguyễn và Hoàng ngồi ở hàng ghế bên trái của khoang cuối cùng. Hoàng nhìn lơ đãng qua cửa sổ nhỏ, chỉ cho Nguyễn:

- Này, cậu có nhìn thấy những đám mây trôi lững lờ ở phía xa kia không? Không chờ bạn trả lời, Hoàng đã giải thích: “Khi thấy bầu trời xanh lơ và mây trắng bay ở gần máy bay là chúng ta đang ở độ cao khoảng mười nghìn mét”. Hoàng nói có vẻ thành thạo, anh đã có nhiều chuyến đi nước ngoài, sau khi làm nghiên cứu sinh ở Đức về. Hiện nay, anh làm chủ nhiệm bộ môn, anh hài lòng với chức vụ này. Anh thường nói với Nguyễn: “Cho các cậu bay cao, bay xa, tớ chỉ trấn ở bộ môn này thôi”. Anh là người Hà Nội, tương đối thực dụng, có việc tưởng như hệ trọng thì anh lại giải quyết rất đơn giản, đó là việc anh cưới vợ. Hồi đó anh đang yêu một cô giáo viên cùng trường, cô này cũng là người Hà Nội, họ đẹp đôi lắm. Giữa lúc tưởng như hai người sắp cưới thì mọi người trong trường nghe tin họ thôi nhau, lý do rất đơn giản, họ bất đồng ý kiến về Liên Xô và Trung Quốc. Họ rất yêu nhau, lúc nào cũng muốn nói chuyện với nhau, nói liên miên. Một lần, có lẽ hết chuyện để nói, họ bàn đến Liên Xô và Trung Quốc, nước nào gần gũi ủng hộ Việt Nam tích cực hơn, cuộc tranh cãi gay gắt, không ai nhường ai, kết cục tình yêu tan vỡ. Ba ngày sau, Hoàng ngỏ lời đính hôn chính thức với cô văn thư trong khoa, cô này hoảng hốt, không tin là sự thật, sốt liền ba ngày. Lễ cưới được tổ chức đúng nghi thức sau đó một tháng. Chuyện thật mà tương như đùa.

Uống giải khát xong, Hoàng yêu cầu cô chiêu đãi viên cho một ly rượu whisky, anh nhâm nhi, dường như bốc rượu, anh nói:

- Cậu có biết ngồi khoang cuối như chúng mình có lợi gì không?

Anh lay lay đùi bạn, Nguyễn im lặng, anh tiếp:

- Nếu có rơi chúng mình sẽ thoát chết, vì động cơ đặt ở phía trên.

Nguyễn vẫn im lặng. Anh đang nghĩ đến chuyến đi này. Rất may mắn, anh và Hoàng cùng được cử đi dự cuộc hội thảo dài ngày về nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam, tổ chức ở trường đại học California, Hoa Kỳ. Những vấn đề về hội thảo, Nguyễn không đáng lo, bản tham luận của anh và Hoàng đã được chuẩn bị kỹ, những vấn đề để tọa đàm cũng đã dự kiến trước nhiều tình huống. Với trình độ lý luận, kiến thức kinh tế đã tích lũy hơn từ nhiều năm nay ở trong nước và ngoài nước, anh không lo mình và Hoàng sẽ có gì vấp váp. Anh đang nghĩ chuyện riêng. Anh muốn làm rõ chuyện tại sao Tú lại sang Mỹ, bỏ anh đi một cách phũ phàng, không một lá thư từ biệt.

Hồi đó anh yêu Tú thật sự. Từ Liên Xô anh vẫn đều đặn gửi mỗi tháng hai lá thư cho Tú theo đúng qui định của hai người, những lá thư nồng đượm tình cảm. Tú gửi cho anh những lá thư đầy chất lãng mạn, mơ mộng của tuổi học trò, viết trên giấy pơ - luya ngoại mỏng màu xanh lơ, mùi nước hoa thơm dịu. Không quen viết trên giấy không kẻ nên thư của Tú viết các dòng rất xiên xẹo, lên dốc xuống dốc, lỗi chính tả đầy trang thư: “Em rất xung xướng nhận được thư của anh”, “Ở bên đó anh có nạnh không?”, “Em chỉ no anh ở Mac-Tư - khoa nung ninh ánh điện anh xẽ quên em”. Tú dặn anh mua cho đủ thứ: nước hoa Na-ta-sa, khăn voan mỏng tanh, khăn choàng màu rực rỡ, xà phòng thơm, bàn là, túi lưới màu hồng. Tú trở thành cô gái mốt nhất xã hội.

Giải phóng miền Nam, thư của họ tràn đầy niềm vui trước sự kiện trọng đại của lịch sử là thống nhất đất nước. Tú viết thư cho anh, mơ tưởng đến đám cưới ở Sài Gòn, hai người xin chuyển công tác vào trong đó. Vậy mà không đợi đủ hai năm khi Nguyễn về nước. Tú đã xin chuyển công tác vào Nam, theo một giám đốc xí nghiệp, hồi kết, khoảng năm mươi tuổi, hơn Tú gần ba mươi tuổi. Hoàng ngăn em như thế nào cũng không được. Tú nói:

- Vào trong đó em sẽ được chuyển sang kinh doanh. Làm mãi cái nghề thư viện này chán lắm, toàn sách với vở, đọc nhức cả đầu. Anh ấy sẽ giao cho em phụ trách công tác vật tư xí nghiệp.

Trước khi đi, Tú gặp anh trai nói:

- Em nhờ anh chuyển cho anh Nguyễn tập thư này và nói rằng, em xin lỗi, em không thể quên được anh ấy, nhưng em không thể chờ đượcSang năm về, anh ấy sẽ tìm được nhiều cô trẻ và đẹp hơn em. Anh đừng trách gì em cả!

Vào Nam, Tú không viết cho Hoàng một lá thư nào, chỉ thỉnh thoảng viết thư ra thăm mẹ. Có lần Tú gửi biếu mẹ được mười mét vải, hai gói mì chính, một chỉ vàng. Những năm đầu ở Sài Gòn. Tú làm trưởng phòng vật tư, lo chạy nguyên vật liệu cho xí nghiệp giày da do chồng phụ trách, lương bổng khá, chế độ phân phối hiện vật cho cán bộ lãnh đạo của xí nghiệp tương đối thoảI mái, đời sống của Tú thay đổi hẳn, giàu lên trông thấy. Nhà cửa được phân theo tiêu chuẩn của chồng cũng lại là một nguồn thu của hai người. Nhà mặt tiền rộng năm mét rưỡi ở phố chính, năm tầng, tầng trệt cho thuê đủ cho hai vợ chồng và một đứa con sống dư dật. Tuy nhiên, khát vọng làm giàu ghê gớm đã đẩy vợ chồng Tú đến một kết cục thê thảm: hai người hùn vốn cùng một số người nữa đi buôn bán, khai thác trái phép những hàng quân dụng ở Tổng kho Long Bình, do quân đội quản lý. Đây là một kho khổng lồ của quân đội dưới thời Mỹ- Thiệu chứa đủ thứ từ vũ khí, xe tăng, quân trang quân dụng, đến giày dép, đồ hộp, cung cấp cho khắp chiến trường miền Nam. Kho được quản lý với nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại. Họ bị truy tố trước pháp luật. Ra tù, chồng về quê sống với họ hàng, vợ gom góp số của còn lại được dăm ba cây, bỏ lại chồng con ở trong nước, di tản một mình.

Truyện ngắn, tản văn của các tác giả  - ảnh 1
Mùa thu (ảnh Internet)

Họ phải chờ ở Đài Bắc ba tiếng. Sân bay này khá lớn gồm nhiều khu, có đường băng chuyền chạy từ khu này sang khu khác để hành khách đứng lên đó mà đi cho đỡ mỏi đôi chân. Ở khu trung tâm có hàng trăm gian bán đầy nhứng thứ hàng hóa cao cấp: vàng, bạc, đá quý, đồng hồ, tivi, radio cassette, rượu tâyMọi người ăn mặc lịch sự, có cảm giác rằng họ toàn là những người giàu có, lúc nào cũng mặc toàn quần áo mới, giày bóng lộn. Nguyễn nhìn vào bộ quần áo và giày của mình, anh tự nghĩ, sang đến Mỹ, anh phảI thay ngay và về nước sẽ cho ai đó. Hai người ngắm hàng mãi cũng chán, rủ nhau ra quầy bar gọi một cốc nước cam tươi uống cho mát và coi đấy là phương án tiết kiệm nhất.Nhưng không ngờ họ phải trả gấp ba giá một lon Coca hoặc một cốc cà phê. Nói hết mọi chuyện linh tinh với Hoàng, nhưng dường như còn chuyện chủ yếu nhất anh vẫn còn ấp ủ trong chuyến đi này, bây giờ anh mới hỏi:

- Liệu trong chuyến này có gặp được em gái mày không?

- Đừng huyễn hoặc. Làm gì có địa chỉ của nó. Từ ngày nó đi không hề có tin tức gì. Có khi chết ở biển cũng nên. Thôi, quên nó đi, cái con chết tiệt.

Nhiều lúc Hoàng bị dằn vặt về chuyện em gái mình đã dứt tình với Nguyễn, làm điều xằng bậy. Việc Nguyễn không lấy vợ khiến anh khó xử với bạn. Thà nó cứ lấy quách một con văn thư hay cấp dưỡng như mình cho đỡ rách việc. Vợ trình độ thấp cũng có cái hay, ở trong nhà mình là vua, bảo gì nó nghe nấy. Lấy vợ trí thức, một nhà ba con ngọng, cãi nhau suốt ngày. Đôi lúc Hoàng cũng thấy Nguyễn đúng là dân nhà quê, ở nông thôn ít tiếp xúc, ra thành phố, được một cô nàng xinh đẹp yêu là chết mê chết mệt, nó đã “đá” cho nên thân rồi mà vẫn yêu, không chịu lấy ai. Bố khỉ, không thể nào hiểu được. Trong lúc ngồi chờ chuyến bay, anh nghĩ lan man về bạn như vậy.

Mười giờ đêm, hành khách lịch kịch lên máy bay đi San Francisco. Những tiếp viên Hàng không Đài Loan làm việc thông thạo, dáng nhanh nhẹn, chỉ dẫn nhiệt tình cho hành khách. Mỗi hành khách vào đến cửa máy bay đều được cô tiếp viên trẻ và đẹp cúi đầu chào, cô cúi đầu rất thấp, mắt e lệ nhìn lên, điểm thêm một nụ cười, làm xiêu lòng khách. Hình như đây là chuyến bay liên doanh, nên có cả tiếp viên Mỹ. Mỗi người lên máy bay đều nhận được một anh-si hình cờ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ do cô tiếp viên gắn vào ve áo một cách trịnh trọng. Là người lên máy bay sớm, tìm đúng chỗ ngồi, nhân lúc cô tiếp viên Hàng không Đài Loan đi qua, anh nhờ cô bấm hộ một kiểu ảnh, chụp đúng lúc anh ngả người vào thành ghế, nở một nụ cười mãn nguyện, kỷ niệm ước mơ đi Mỹ của anh trở thành sự thật.

Tại Mỹ mọi chuyện diễn ra tốt đẹp. Đến sân bay San Francisco, các thủ tục giải quyết nhanh chóng. Nhân viên hải quan chỉ hỏi anh có mang chè và thực phẩm tươi sống không. Nếu có, họ sẽ kiểm tra vì họ sợ nhập vào Mỹ những vi khuẩn gây bệnh, nếu không hành khách có thể nhận hành lý đi ra ngay. Một người Mỹ đứng tuổi cầm tấm biển ghi tên Hoàng và Nguyễn đón hai người ở ngay cửa ra vào. Đấy chính là ông chủ nhiệm khoa, một trong những người chịu trách nhiệm tổ chức cuộc hội thảo giữa hai trường. Cuộc hội thảo diễn ra đúng kế hoạch. Mỗi đại biểu đến dự được phát một cặp tài liệu, ghi rõ chương trình, thời gian làm việc, người chủ trì, điều khiển ở cuộc họp chung, ở các tiểu ban. Hoàng và Nguyễn có tên chủ trì ở tiểu ban chuyên môn liên quan đến họ. Việc đưa đón đi họp, ăn uống, tham quan rát chu đáo. Trong chương trình còn có ghi chú, chỉ dẫn riêng cho những đại biểu tàn tật dùng xe đẩy. Tối hôm trước khi khai mạc, mọi người được mời một bữa cơm thân mật, tổ chức tại khách sạn trung tâm thành phố. Mọi người đến dự bằng xe riêng. Hoàng và Nguyễn được ông chủ nhiệm khoa đưa đón trực tiếp. Tại buổi chiêu đãi, mọi người ăn uống và làm quen với nhau. Thật bất ngờ, ở đây, Hoàng nhận ra một giáo sư Mỹ là Peter Lichtenstein, Hoàng đã gặp ở cuộc hội thảo tại trường Đại học kinh tế Béc-lin với chủ đề “Kinh tế thị trường xã hội”, sau khi bức tường Béc-lin sụp đổ, ông có một báo cáo về”Kinh tế thị trường ở Mỹ và Nga: sự tương đồng và khác biệt”. Giờ giải lao, thấy Hoàng từ Việt Nam đến, ông chủ động gặp nói chuyện. Hai người lúc thì nói tiếng Đức, lúc thì nói tiếng Anh, ông ta giỏi tiếng Anh, yếu tiếng Đức, còn Hoàng yếu cả hai thứ tiếng, tuy anh học ở Đức bốn năm.Tuy có sự bất cập về ngôn ngữ, nhưng họ vẫn hiểu hiểu nhau một cách dễ dàng vì họ là những người nghiên cứu sâu về kinh tế. Ông ta hỏi kỹ Hoàng về sở hữu đất đai, xí nghiệp quốc hữu hóa, tức xí nghiệp quốc doanh ở Việt Nam, vấn đề cải tạo công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa ở thành phố Hồ Chí Minh, vấn đề trả lại tài sản quốc hữu hóa... Sau đó, Peter nói thật rằng, ông ta gốc Do Thái, gia đình ông ta định cư ở Đức đã lâu, đời ông, đời bố Peter đã xây dựng được một nhà máy lớn sản xuất thép cán ở Đức, từ những năm đầu 1930. Sau khi Hít-le lên nắm chính quyền, đã có những triệu chứng, chiến dịch bài trừ, sát hại người Do Thái. Nhạy bén với tình hình thời cuộc, ông nội Peter bố trí cho vợ chồng con trai ông sang Mỹ sinh sống làm ăn vào những năm 1936 trước khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra. Đầu năm 1945 ông nội Peter chết trong trại tập trung Ao-sơ-vit và cũng là năm Peter ra đời. Peter quan tâm đến những chuyện này với mục đích liệu xem có đòi lại được những tài sản, xí nghiệp của ông nội hay không. Những văn bản giấy tờ sở hữu xí nghiệp bố Peter gần tám mươI tuổi hiện vẫn còn giữ. Peter rất thích Châu Á. Năm 1985 - trong chuyến đi giảng sáu tháng ở Thượng Hải, Peter đã lấy vợ là một cô sinh viên Trung Quốc, giỏi tiếng Anh, ngồi bàn đầu, hay hỏi thầy giáo về bài học và nhiều chuyện khác.

Kết thúc hội thảo, còn lại ba ngày, dành cho chương trình tham quan các doanh nghiệp ở Boston, những ai có lý do đặc biệt, có thể không tham gia. Peter mời Hoàng và Nguyễn về nhà ông chơi tại bang Colorado, thành phố Denver. Ngay tối hôm đó họ lên đường.

Ngôi nhà của Peter ở ngoại ô, cách trường đại học của ông ba mươI cây số. Vợ ông mời khách ăn những món ăn Trung Quốc và Việt Nam, Peter tranh thủ khai thác hai người về tình hình kinh tế Việt Nam, thăm dò khả năng sang giảng tại Hà Nội. Peter có thể giảng nhiều môn, hai môn hoặc ba môn, không cần nhận thù lao, chỉ cần có chỗ ăn ngủ và phương tiện đi lại. Hai khách Việt Nam từ chối vì kinh tế của Trường Đại học Việt Nam chưa cho phép mời được giáo sư thỉnh giảng của nước ngoài. Chiều hôm sau, Peter mời Hoàng và Nguyễn đi ăn tối ở quán cơm Việt Nam, Peter luôn miệng khen con gái Việt Nam xinh đẹp, chung thủy, khéo chiều chồng, còn con gái Mỹ đòi hưởng thụ rất nhiều, không biết nấu các món anh ngon như con gái Việt Nam. Khi ra xe, Hoàng nói nhỏ với Nguyễn: “Mấy hôm nay, nói chuyện với tay này, mình thấy hình như nó muốn bỏ vợ”. Nguyễn im lặng gật đầu. Ở trên xe, Peter là người lái, Hoàng ngồi ở bên cạnh, cùng hàng ghế. Nguyễn ngồi ở phía sau. Ở Mỹ, người khách quan trọng thường ngồi ở hàng ghế sau. Đi khoảng hơn nửa giờ, đến một khu vực tương đối sầm uất gần thành phố Boulder cách Denver gần một trăm cây số, xe chạy chậm lại, rẽ vào khu phố có nhiều người đi lại. Bang Colorado là bang miền núi của nước Mỹ, người thưa thớt. Ở Denver là thủ phủ có nhiều nhà cao tầng, mỗi gia đình có đến vài trăm mét vuông diện tích nhà ở. Bếp và nhà vệ sinh được họ coi trọng, xây to và đẹp, bữa tối của họ kéo dài đến hai ba tiếng, vừa ăn vừa bàn chuyện, họ có thói quen ăn xong lại lôi rượu nặng như whisky ra uống. Uống rượu trước khi đi ngủ là tốt nhất. Khi xe gần đỗ hẳn, Peter nói:

- Ở đây tôi rất quen thân với một quán cơm Việt Nam. Các món ăn ngon và rẻ. Bà chủ quán rất dễ thương.

- Tại sao ông lại thích các món ăn Việt Nam, Hoàng hỏi.

- Vì vợ tôi là người Trung Quốc vẫn nấu cho tôi ăn cả các món ăn Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng gần hai năm nay, vợ tôi bận học lấy bằng thạc sỹ quản trị kinh doanh, không hay nấu cơm ở nhà nữa.

Hoàng bấm tay Nguyễn lại nói nhỏ:

- Có lẽ, hai vợ chồng hắn trục trặc thật. Chủ quán này là bồ của hắn.

Ô tô đi hẳn ra bãi đỗ xe, ba người thủng thẳng đi vào quán. Vài nhân viên nhà hàng, mặc áo gấm, khăn xếp chạy ra niềm nở đón họ. Nhà hàng trải toàn thảm đỏ, phía sân trước gần nơi đỗ xe có những hàng cây um tùm. Peter chọn một bàn ở góc phía trong gần quầy tiếp tân, dễ quan sát cả phía trong lẫn phía ngoài. Một cô gái mặc áo dài bưng ra một chiếc khay khảm trai trên đó có quyển thực đơn đóng bìa cứng bọc nhung. Peter cầm lấy, chuyển cho Hoàng vì Hoàng là nhân vật chính trong quan hệ với Peter. Hoàng không khách khí, vì biết chủ muốn tỏ ý tôn trọng nên để khách chọn các món ăn ưa thích, anh gọi vài món tương đối đắt tiền, trong đó có món vây cá mập. Anh chỉ vào thực đơn nơi ghi món ăn này, bảo Nguyễn:

- Tí nữa, cứ ăn mạnh món này vào, ở Việt Nam hiếm đấy.

Mươi phút sau, tự nhiên thấy bốn năm cô gái, mặc áo dài Việt Nam thêu rồng phượng, thướt tha chạy đến bàn ba người, hát những bài hát Việt Nam thời tiền chiến, và cả những bài hát quan họ giọng du dương, ngọt ngào. Ở một góc xa đối diện cũng có một tốp khác mặc quần áo hoàn toàn kiểu Việt Nam đứng hát. Một số người phục vụ khác như bảo vệ, mặc quần áo chẽn thắt đai như võ sĩ. Ở gần lối ra vào có chiếc trống to, đai sơn đỏ, người khách nào đến cũng được hưởng một hồi trống chào mừng từ khi bước xuống xe cho tới khi ngồi vào bàn. Khi ăn xong món tráng miệng, tiện tay Hoàng gập cuốn thực đơn lại, ngoài bìa anh thấy đề mấy chữ NHA NAM Restaurant và dòng dưới có thêm mấy chữ Việt Nam: Quan com Nha Nam, đây là những chữ tiếng Việt không có dấu, viết rất kiểu cách. Hoàng vội chạy ra cửa quán, ngước nhìn lên trên, phía trên cũng có biển hiệu viết như vậy. Anh trở vào đưa cuốn thực đơn cho Nguyễn xem, tay chỉ vào mấy chữ Quan com NHA NAM, nói:

- Cậu có biết chữ này là chữ gì không?

Nguyễn nhìn và cũng thấy lạ, ngó nhìn trở lại sang phía Hoàng:

- Chẳng nhẽ đây là hai chữ Nhã Nam.

Hoàng nhanh ý lấy tay ra hiệu, vẫy cô tiếp viên lại hỏi:

- Hiệu này tên là gì hở cháu?

- Dạ, quán Nhã Nam ạ!

Hoàng và Nguyễn nhìn nhau mãi. Peter thấy vậy, không hiểu hỏi:

- Có chuyện gì vậy? Các ông không thích bữa cơm tối nay sao?

- Không, chúng tôi rất thích mà còn nhớ mãi nữa là khác.

Hoàng lại có sáng kiến nói với Peter:

- Liệu chúng ta có thể gặp bà chủ quán được không?

- Ồ, được dễ thôi. Tôi rất thân với bà ta.

Một lát sau xuất hiện một phụ nữ trạc bốn mươi tuổi khuôn mặt trái xoăn đôi mắt mơ mộng mở to như đang ngạc nhiên điều gì, nàng mặc bộ sườn - xám Thượng Hải dài tha thướt làm nổi rõ những đường cong tuyệt mỹ. Khi người phụ nữ đi đến gần, Hoàng vụt đứng dậy, Nguyễn và Peter cũng đứng dậy theo, Hoàng sửng sốt hỏi:

- Có phải Tú không? Anh nhận ra Tú ở nốt ruồi phía dưới cằm.

Người phụ nữ lao đến ôm chầm lấy Hoàng, nói như thét lên:

- Anh Hoàng. Nàng gục vào vai người anh trai khóc nức nở. Bỗng nàng chạy vụt vào căn phòng dành riêng cho chủ nhân ngã vật xuống giường, úp mặt vào gối khóc dữ dội.

Nguyễn vô cùng xúc động, lặng người đi, anh không ngờ có cuộc gặp này, tuy anh rất mong đợi và linh tính báo cho anh biết rằng, thế nào anh cũng gặp Tú ở phương trời xa xôi này, vậy mà anh vẫn thấy bất ngờ. Nguyễn thấy mắt Hoàng ươn ướt. Ba người trở lại bàn cũ. Hoàng gọi một tách chè Lipton. Nguyễn nói với Peter:

- Hoàng là anh ruột của Tú. Gần ba mươi năm nay họ không gặp và cũng không có tin tức gì của nhau.

- Thật là kỳ lạ! Cô ấy khóc nhiều quá. Tôi phải vào xem cô Thúy Nga ra sao.

Đúng lúc đó, một người hầu bàn trẻ, đi đến lễ phép mời ba người vào phòng khách ở bên trong. Tú đã lau sạch nước mắt, giới thiệu về Peter: - “Một người bạn rất thân”. Hoàng - “Anh trai”, đến Nguyễn nàng ngập ngừng đôi chút, cuối cùng nàng nói rất rành mạch: “Đây là người yêu cũ của tôi”. Bây giờ nàng đã bình thản trở lại, cơn xúc động chỉ còn đọng lại đôi chút ở khóe mắt.

Đêm đó họ ngủ lại ở nhà Thúy Nga, tên mới của Tú, mỗi người một phòng và một tâm trạng riêng. Sáng sớm hôm sau, Hoàng dậy sớm định tập thể dục, đã thấy Nguyến đi bách bộ xung quanh khu nhà.

Nguyễn vẫy Hoàng lại, chỉ vào một dãy cây xum xuê, lá hình bầu dục to dày hơn lá nhãn, dãy cây này đang nở hoa, từng chùm hoa màu vàng nhạt phủ đầy tán lá từ ngọn cây xuống các cành giống như hình mâm xôi, hỏi Hoàng:

- Cậu biết cây gì đây không?

- Chịu. Hình như giống cây Kơ - nia ở Tây Nguyên.

- Về hình dáng, tầm vóc cậu nói gần đúng. Mình nói cho cậu biết, cây dẻ gai đấy.

Hoàng không tin, tại sao ở đây lại có dẻ gai như ở vùng sơ tán của anh ở trong nước. Biết là bạn chưa tin, Nguyễn kéo anh đến cuối vườn, nhặt lên mấy hạt dẻ ở một cây đậu hạt sớm. Vỏ của những hạt dẻ đầy gai vừa kịp nở tung để lộ những hạt hình ô-van mập mạp. Nguyễn đưa lên miệng cắn đôi một hạt dẻ đưa cho Hoàng xem, mùi thơm của hạt dẻ tỏa nhẹ. Hoàng gật đầu: “Chính nó, lạ thật”. Một người hầu lẹ làng đến mời hai người vào uống chè. Nguyễn hỏi về sự tích cây dẻ, người hầu nói:

- Bà chủ cháu mua nguyên cây từ miền Bắc Boston về trồng, ở đấy khí hậu gần giống miền Bắc Việt Nam, tổng cộng có hai mươi cây, mỗi cây giá một nghìn “đô”, không kể tiền chuyên chở. Họ đảm bảo trồng sống mới lấy tiền. Những cây này ra hạt năm năm rồi, nhưng toàn để cho chồn và chim ăn.

Hoàng chợt lóe lên ý nghĩ “hai mươi cây là hai mươi tuổi khi Tú gặp Nguyễn”. Anh nói ý ấy với bạn, Nguyễn gật đầu. Bữa ăn sáng đúng theo kiểu Mỹ, mỗi suất ba lát bánh mỳ, hai chiếc xúc xích lớn, hai quả trứng ốp lếp, một khoanh bơ, một cục pho- mát, một cốc nước cam tươi, một cốc cà phê và hai củ khoai. Tú chỉ vào mấy củ khoai nói đùa: “Chắc các anh nhớ món này lắm”. Hai người gật đầu, Nguyễn ăn khoai lang trước. Hoàng ngó nhìn xung quanh, Tú hiểu ý nói:

- Peter thường tám giờ mới dậy.

Ăn xong, ngồi uống nước chè, Tú tranh thủ kể lại vắn tắt những diễn biến chính của cuộc đời cô trong khoảng hai mươi năm qua: “Năm tám mươi em cùng một người bạn gái rất thân - dân Bắc di cư hồi năm tư, đi di tản. Lần đó gặp hải tặc Thái Lan, sau khi cướp bóc hết tiền bạc, tư trang của mọi người trên tàu, chúng quay sang làm nhục phụ nữ trước mặt mọi người, ai chống lại liền bị chúng giết, em trực tiếp nhìn chúng giết bạn gái em, quăng xác xuống biển. Khi chúng tha, tàu của chúng em lênh đênh trên đại dương, mất phương hướng, chạy đúng vào khu vực tuần tra của Hải quân Việt Nam. Tất cả bị bắt, nhưng được cho ăn uống không bị chết đói, chết khát, nhưng bị vào tù. Hơn một năm sau được ra, em lại đi vì ở lại cực kỳ xấu hổ. Lần này bị hải tặc nước ngoài đóng giả tàu hải quân Việt Nam bắt. Mọi việc diễn ra giống như lần trước, đau đớn nhục nhã ê chề. Không ai dám chống cự. Bọn hải tặc này không phải người Thái Lan, vì một số người biết nói tiếng Thái nói như vậy. Khi chúng bỏ đi, tàu của chúng em tiếp tục lên đường. Mọi người tưởng rằng thoát chết vì đã nhìn thấy bóng dáng đất liền ở cuối tầm mắt, tức khoảng mười cây số thì bão ập đến. Tàu chao đảo, nghiêng ngả, cột buồm gãy, mọi sự diễn ra còn hỗn loạn hơn cả khi có hải tặc. Không còn gì là nhân tính, chỉ còn một quy luật tao sống, mày chết. Anh em, vợ chồng, bố con cũng quên nhau hết, ai lo phận nấy. Em vớ được một áo phao mặc ngay vào người, nhảy vội xuống biển, nếu không nhanh kẻ khác sẵn sàng cho một nhát, cướp lấy phao.Trong ánh chớp của bão, em túm được mảnh vải ni lông.Với kinh nghiệm của miền Bắc, em gấp lại thành cái phao, hai tay ôm chặt tấm ni- lông bùng nhùng, vật lộn với sóng nước trong đêm tối và không còn biết gì nữa. Sáng hôm sau, bị chói mắt, em mở mắt ra thấy mình nằm trên bờ cát, nhìn xung quanh lác đác có vài xác người phía xa, tay em vẫn túm chặt tấm ni lông. Lát sau, em hiểu rằng sóng gió đã đánh dạt chúng em vào một đảo hoang, núi đá, cây cối lưa thưa. Quần áo tả tơi, tay cầm tấm ni lông em tò mò đảo một lượt quanh bãi cát. Một số người còn sống đã đến ngồi trên những tảng đá tránh nắng. Lúc đó khoảng tám chin giờ sáng. Một số người khác nháo nhác đi tìm người thân. Em chẳng có ai để tìm. Bỗng có một người giật lấy tấm ni lông em đang che nắng nói:

- Cái này được đấy, cho nhờ với.

Không đợi em trả lời, hắn ghé vào đi chung, hỏi:

- Đi đâu?

- Đi lung tung. Còn đâu nữa mà đi. Đi cho nó chết đi.

- Đừng dại dột. Thôi, đi với anh.

Hắn trông tướng dữ tợn, râu quay nón, hai mắt to, đen, có vẻ thông minh, ở hoàn cảnh này, cưỡng lại cũng không nổi, hơn nữa mình cũng có một chỗ dựa, em đành phó thác cho số phận, ngoan ngoãn theo anh ta, cuộc đời mình chẳng còn gì nữa rồi. Cả con tàu hơn ba trăm người bão táp chỉ để sống hơn một trăm gồm đủ loại đàn ông, đàn bà, trẻ con choai choai và chỉ một số người già. Mọi người ô hợp, trụ lại, tản ra đi kiếm ăn trên hòn đảo hoang vu này. Hái lá, bắt chim, bắt cá, cóc nhái, ốc sên. Thật là kinh khủng. Nhờ có người bạn “bất đắc dĩ”, em qua được cơn đói khát đỡ vất vả hơn. Hắn tỏ ra khá tháo vát, lanh lợi, hiểu biết. Ba ngày sau có trực thăng cứu trợ đến. Có tăng bạt, thực phẩm, thuốc men… cuộc sống dễ chịu hơn. Bấy giờ bọn em mới biết đây là hòn đảo của Philippin. Một tháng sau, một đoàn cứu trợ tị nạn của Liên hiệp quốc đến phỏng vấn để cho nhập cư. Những ai có người nhà ở nước ngoài bảo trợ, địa chỉ rõ ràng, đầy đủ đi trước. Những người thuộc gia đình ngụy quân, ngụy quyền được “ưu tiên”. Ông bạn râu quai nón của em hóa ra là luật sư, tiếng Anh thông thạo, gia đình đang ở Mỹ, qua phỏng vấn lọt vào danh sách đợt đầu. Em thất vọng. Gia đình mình đều ở Bắc, chồng thì bị về quê. Bạn em bảo cố nhớ xem có ai quen ở nước ngoài không, không cần là người nhà cũng được. Em không quen ai, không nhớ được. Anh ta rất tận tình bảo em bịa ra một lý lịch giả. Em cũng không quen bịa. Anh ta giúp em xây dựng một bản lý lịch mới, nhưng làm mãi cũng không xong, vênh nhau nhiều thứ. Hồi đó là tháng tám, chợt em nhớ đến ngày sinh nhật của Thúy Nga, đứa bạn thân nhất vào ngày 17/8. Chính là đứa bạn gái vượt biên với em lần trước bị vất xác xuống biển, thật tội nghiệp, nó chết thảm thương quá. Chợt em dựng anh bạn dậy và nói:

- Em có lý lịch rồi. Bố: phó đô trưởng Cảnh sát Sài Gòn, sau giải phóng ra trình diện, bị đi cải tạo, chết ở nhà tù miền Bắc. Anh trai là đại úy quân cảnh biệt khu Sài Gòn - Chợ Lớn, đang bị giam giữ ở trại cải tạo Thái Nguyên, số lính, số tù, mọi địa chỉ em nhớ hết. Em sẽ mang lý lịch gia đình Thúy Nga. Em mang tên Thúy Nga từ đấy.

Anh bạn râu quai nón của em vỗ đùi đắc chí:

- Thế là xong rồi.

Ngay hôm sau em có một bản lý lịch hoàn hảo, vào phỏng vấn trôi chảy, được xếp vào danh sách với anh bạn râu quai nón. Ở California chúng em chính thức là vợ chồng. Đó là điều may mắn cho em, vì sang đến bên này, tay luật sư như hổ về rừng, hắn quen biết rộng, thông thạo cách làm ăn ở Mỹ. Nhờ sự giúp đỡ của gia đình, anh ấy mở văn phòng luật sư, làm dịch vụ nhập cảnh cho những người ở Việt Nam mới sang, hái ra tiền. Ba năm sau, trả hết tiền nợ do anh em trợ giúp mua nhà, cuộc sống dư dật. Chúng em không có con. Ngoài công việc cuộc sống ở bên này rất buồn tẻ, mọi gia đình đều sống khép kín, suốt ngày xem băng và tivi không hay bù khú như ở trong nước. Chồng em đâm nghiện rượu. Năm năm sau bị mắc bệnh ung thư, ít lâu sau chết. Em chán đời, không muốn bị mang tiếng dựa dẫm vào gia đình nhà chồng, em bán hết nhà cửa, đồ đạc, lên trên này làm ăn.Ở trên này mọi thứ êm đềm như vùng sơ tán Nhã Nam mà em còn giữ nhiều kỷ niệm. Nhà hàng của em bài trí, phục vụ theo kiểu Phương Đông, cây cối cũng vậy cho đỡ nhớ quê. Vậy mà được khen là độc đáo khách đến rất đông, đặc biệt là những người đã từng ở Việt Nam và Châu Á. Những người ở xa ba bốn trăm cây số cũng tìm đến. Họ thích cả cái tên Nhã Nam, vừa dễ phát âm và ý nghĩa cũng cực hay: “một người đàn ông thanh nhã”.

Tú trình bày lưu loát như một diễn giả kỳ cựu, không còn vương vấn những nỗi xúc động của cuộc gặp gỡ. Tú xin phép chạy đi một lát lo việc ăn sáng cho Peter. Khi trở lại, Tú nói những điều hoàn toàn bất ngờ, mới mẻ đối với hai người:

- Peter nhờ em nói với hai anh rằng, Peter rất quí trọng các anh, các anh rất giỏi, nếu các anh đồng ý, Peter mời các anh ở lại bên này làm việc, mọi thủ tục anh ấy sẽ lo hết, lương mỗi tháng hai ngàn “đô”, không kể những đợt thỉnh giảng, phía mời sẽ lo hết mọi chi phí ăn, ở, mỗi giờ giảng được trả năm mươi “đô”. Các anh đều giỏi tiếng Anh có thể đảm đương được công việc giảng dạy như Peter ở bên này. Tuy nhiên, Peter cũng còn nhiều cách kiếm tiền lắm mà ông ta chưa nói hết.

Hai người im lặng một lúc lâu. Họ không hề nghĩ Peter lại đánh giá họ cao như thế và có một đề nghị thật táo bạo. Hoàng đột ngột quay sang hỏi Tú:

- Em có định về nước không?

- Không. Em xấu hổ và kẹt nhiều thứ lắm. Nhưng em cũng sẵn sàng về nếu như có người bảo lãnh. Nói câu ấy, Tú mủm mỉm cười, hướng nhìn về phía Nguyễn, Nguyễn như bị điện giật, đứng phắt dậy nói:

- Tôi mời cô về đấy.

Cả Hoàng và Tú đều thấy lạ về câu nói của Nguyễn. Tú hơi ngả người ra sau ghế ngước nhìn lên trần:

- Anh Nguyễn nói dỡn em.

Từ phía xa Peter đang rảo bước đi đến. Hoàng quay sang Tú hỏi lửng một câu:

- Thế còn Peter.

Tú không trả lời, hướng nhìn về hướng Peter rồi lại quay về phía Hoàng với dáng vẻ như muốn nói: “Kệ hắn”.

Bốn người ngồi uống trà, nói những chuyện bâng quơ về chè Việt Nam, chè Trung Quốc, chè Lipton. Peter nhận xét: “Chúng tôi uống chè, còn các ông thưởng thức chè. Điều ấy thể hiện cả trong cách làm việc của chúng ta.Trong cuộc sống hàng ngày, chúng tôi làm việc căn cứ vào hợp đồng, các ông dựa vào sự tin cậy, quen biết…”. Họ nói lan man đủ thứ chuyện theo những chủ đề bất chợt, ai nghĩ gì nói đấy, thoải mái thân tình.

Trời bỗng chuyển cơn mưa, mưa mỗi lúc một nặng hạt. Trên ti-vi cô phát thanh viên thông báo: “Mười lăm phút nữa sẽ có cơn lốc nhẹ qua vùng này, toạ độ…” Peter nhắc lại cho mọi người chú ý theo dõi, cơn lốc sẽ qua đúng khu vực cửa hàng. Con mèo vừa lúc nãy nhảy ra ngoài trèo lên cây cho dãn xương cốt, bỗng phóng như bay vào trong nhà như hoảng sợ điều gì. Lát sau, gió thổi mạnh, cơn lốc ào đến, những cây dừa phía sau lá rung phần phật, hạt dẻ rụng xuống đất nghe rào rào. Mưa đều đều đập lên mái nhà, ở ngoài sân những quả bong bong mưa nho nhỏ xuất hiện ngày càng nhiều, hiện, tắt, phập phồng. Tú nhìn ra trời mưa thấy một nỗi buồn hoang lạnh, cô nói một câu như là nói với mình:

- Trời này còn mưa dai đây, giống như mưa Nhã Nam.

Bốn người vẫn ngồi bên bàn trà nhìn trời mưa. Mỗi người có một tâm tư riêng./.

Nguyễn Tiến Lộc

 Truyện ngắn, tản văn của các tác giả  - ảnh 2
Điên điển (ảnh Internet)

MÙA ĐIÊN ĐIỂN TRỔ

 

Mỗi năm, khi cơn gió Nam đưa nước lớn về, cánh đồng quê tôi lại trổ vàng bông điên điển. Nhà tôi day lưng về phía bờ sông, nơi những cây điên điển chen nhau mọc. Ba tôi nói, điên điển có bộ rễ chùm, trồng sau nhà chắn sóng rất tốt. Tôi chẳng cần biết bộ rễ của nó như thế nào, chỉ cần mỗi buổi chiều, cứ việc ra sau nhà hái một rổ bông vàng tươi vô nấu canh chua cá lóc là tôi khoái. Ký ức tuổi thơ tôi không thể thiếu sắc vàng của loài hoa dung dị ấy!

Hồi đó, nhà tôi nghèo lắm, không có lấy một cục đất chọi chim. Ba mẹ tôi lại sanh nhiều con, cả thảy mười đứa vừa trai vừa gái. Tôi là con út trong nhà. Có lẽ, vì thế nên tôi không phải chịu đựng những cơ cực mà ba mẹ, anh chị tôi đã trải. Cả nhà tôi ai cũng phải ra đồng mần mướn kiếm miếng ăn. Quanh năm suốt tháng chỉ biết sống trong đồng trong bái, ít khi được ở nhà. Mùa khô còn đỡ, thà cực mà không sợ đói. Tháng nước mới là mối lo lớn.

Mùa nước, ba tôi với mấy anh đi giăng câu. Mẹ tôi và mấy chị thì đi hái bông điên điển bán. Tôi thường theo mẹ lắm. Nói là đi theo mần tiếp mẹ nhưng thật ra tôi chỉ theo chơi. Mẹ nói, tôi theo cho vui, nói chuyện cho mẹ nghe để mẹ đỡ mệt. Thường thì hai mẹ con bơi xuồng đi từ sáng sớm, hái đến khi mặt trời đứng bóng mẹ mới nghỉ tay. Mẹ múc nước lạnh chan chén cơm nguội đem theo, ăn với mấy cục muối rồi tiếp tục bơi xuồng đi bán mớ bông điên điển vừa hái được. Đến bây giờ, tôi vẫn không thể quên được tiếng rao trong trẻo mà khắc khoải của mẹ. Nhiều khi đi ngang mấy khúc sông vắng, mẹ không rao nữa mà cất lên một câu hát nghe buồn não ruột. Tôi hỏi sao mẹ ca nghe buồn dữ vậy? Mẹ nói, nhờ mẹ ca buồn vậy ba con mới thương mẹ đó! Rồi mẹ cười. Cái cười hiền từ, khắc khổ.

Thường thì bán hết mớ điên điển là trời chiều. Mẹ tranh thủ ghé chợ đong mấy lon gạo về nấu cơm. Mẹ cũng không quên mua cho tôi một cái bánh in, bánh da lợn hay vài cục kẹo. Rồi hai mẹ con cùng bơi xuồng về. Cả nhà tôi lại quây quần bên bữa cơm chiều đạm bạc. Đó là những bữa trời yên gió lặng, gặp cỡ trời bão, cả nhà tôi không ai dám bơi xuồng vô đồng. Hơn chục con người xúm xít trong căn nhà chật hẹp nhìn nhau ngao ngán. Lon gạo cuối cùng cũng nấu hết. Cả nhà lại ăn độn rau muống, bông súng trừ cơm chờ trời yên gió lặng. Mấy cây điên điển sau nhà cũng oằn mình theo từng đợt gió, những chùm hoa vàng tơi tả, xác xơ…

Mấy năm gần đây, cánh đồng quê tôi được bao đê để làm ba vụ. Mùa lúa xong thì mùa rẫy tới, công ăn việc làm cũng nhiều. Nhà tôi nhờ vậy cũng không còn thiếu trước hụt sau. Hàng điên điển sau hè ba tôi chặt hết vì không còn sợ sóng tạt vào nhà nữa. Lâu lắm rồi tôi không còn được nghe tiếng rao của mẹ văng vẳng một khúc sông! Và mãi mãi, tiếng rao ấy chỉ còn trong ký ức! Mẹ tôi đã qua đời sau một cơn bạo bệnh, để lại trong tôi nỗi đau vô bờ bến. Ngày mẹ về trời, mưa rơi trắng cả một khúc sông… Năm nay, nước lũ lại về ngập cánh đồng quê tôi. Những đám điên điển lại đua nhau nở hoa vàng rưng rức. Quanh ngôi mộ mẹ tôi, ba cũng trồng mấy hàng điên điển. Có lẽ, ba không muốn sóng vỗ làm mẹ trở giấc?! Chiều, tôi ra nơi mộ mẹ, nhìn những bông hoa vàng đu mình trong gió mà lòng thấy xốn xang. Những kỷ niệm êm đềm của một thời tuổi thơ bên mẹ lại ùa về trong tôi mãnh liệt. Bất giác, tôi nghe như tiếng rao của mẹ còn lanh lảnh đâu đây!

Trương Chí Hùng

 

SÀI GÒN… CỨ HỐI HẢ CHẠY MƯA

 

16h30. Sài Gòn. Không dưới 10 cơn mưa ngang qua đây kể từ lúc bình minh. Mưa rồi tạnh. Rồi lại mưa. Và lại ráo hoảnh… cười!

Đã được cảnh báo về mùa mưa Sài Gòn, tôi vẫn chưa thể quen với sự “đỏng đảnh” của thời tiết nơi đây. Ngày dăm bảy bận lấy áo mưa ra rồi cất vào. Với một người ngơ ngác hay quên, tiền mua áo mưa một ngày dễ nhiều hơn tiền ăn.

Sài Gòn đang mùa mưa. Không phải cái mưa dầm dề kéo dài từ ngày này sang ngày khác như mưa buồn xứ Huế. Mùa mưa Sài Gòn nghĩa là ngày nào cũng dăm bảy trận. Như Hà Nội, những ngày mưa bóng mây.

Sáng thức dậy, thấy mặt trời rực rỡ, sáng chói. Kẻ mới bén duyên Sài Gòn thầm nghĩ ắt hẳn hôm nay sẽ là một ngày nắng nóng lắm đây. Nhưng hóa ra nhầm. Khi mặt trời tưởng như sẽ thiêu đốt vạn vật bên dưới thì những đám mây bắt đầu kết lại. Và thế là trời đổ mưa. Rào rào. Ầm ầm. Xối xả. Vội vàng. Và chỉ lát thôi, phố đã thành sông!

Mưa cứ bất chợt và không được báo trước, như một trò đùa của ông trời với con người. Quá trưa hay chớm chiều, rạng sáng hay đêm khuya… Sài Gòn rất có thể đón những cơn mưa tầm tã, và phần nhiều những cơn mưa ấy như muốn cuốn đi tất cả vết dấu của con người, của sự sống…

Mưa như buồn vui lẫn lộn rồi ào xuống từng đợt như tâm sự của một người nào đó muốn trút hết mọi nỗi buồn, mọi âu lo trong lòng. Mưa cũng mát lành, cũng có lúc reo vui trên những tán cây héo úa hay yên bình thấm vào lòng đất khô cằn. Mưa tạo nên trong lòng đất những mạch chảy ngầm, những sức sống ngầm. Mưa đối với tâm hồn ta cũng vậy. Mưa tuôn xuống, gột đi những vướng bận của quá khứ, xóa đi những kí ức đáng buồn, làm tràn đầy những hoài niệm đáng nhớ.

Mưa ồn ào và náo nhiệt có khi reo vui như những người bạn cũ lâu ngày gặp lại tay bắt mặt mừng.

Người Sài Gòn quen lắm cái cảnh, toan đi đâu đó, vừa ra khỏi cửa được chút xíu là mưa. Cố thi gan, để cho ướt một chút, mưa nặng hạt dần rồi cũng phải bực mình tấp vào lề lôi ra cái áo mưa dưới cốp. Chật vật mặc vào, đi tiếp, chừng vài phút sau trời lại tạnh. Lại cố gắng đi tiếp, mặc áo mưa một chút, nhưng nóng quá rồi cũng phải bực mình tấp vào lề lôi cái áo mưa ra khỏi người. Chật vật chui ra, gấp lại đại khái rồi đi tiếp, chừng vài phút trời lại mưa nữa. Cứ thế, nhiều khi cái áo mưa chưa kịp ướt hết đã phải cởi ra cất trong cốp xe. Rồi chưa yên trong cốp được nửa tiếng lại bị lôi ra. Giằng xé. Và thật lạ, Mưa vừa xong đã thấy mọi thứ khô ráo, như chưa từng có cơn mưa nào vừa đi ngang qua đây. Như đứa trẻ thơ vừa khóc đấy mắt lại ráo hoảnh, cười tươi.

Nhưng Sài Gòn mùa mưa hóa ra lại hợp với một đứa lãng đãng điên điên như tôi. Cảm giác được mưa xối xả vào mặt, quất khắp người, được chìm đắm trong buốt lạnh, trong cái âm thanh ào ào bên tai như một sự thức tỉnh, một sự gột rửa và thanh trần. Cảm giác được một mình trong cái thế giới quá ồn ào náo nhiệt ấy.

Truyện ngắn, tản văn của các tác giả  - ảnh 3
Mưa ở Sài Gòn (ảnh Internet)

Đã rất nhiều lần tôi đứng ngắm những cơn mưa ở Sài Gòn. Mưa xuống, đất trời mang một màu mù mù, trắng xóa; mang một vẻ đẹp huyền ảo. Những cơn mưa bất chợt dường như làm dòng người dưới lòng đường bớt hối hả hơn. Mưa gột rửa hết bụi đường trên từng kẽ lá. Chúng trở nên xanh hơn, sạch hơn và đẹp hơn sau mỗi cơn mưa. Những đám mây nặng trịch, xám xịt không thể che hết ánh mặt trời sau cơn mưa. Thay vào là trong suốt pha lê…

Cũng có đêm nằm im lắng nghe mưa ào ạt. Những hạt mưa rơi xuống, những cảm xúc chậm chạp, man mác trầm buồn rơi theo. Nhưng chính vì thế mà tôi luôn cảm nhận được nhiều điều hơn. Mưa trong đêm làm những ngọn đèn nhòe nhoẹt ra vì nước, chẳng có gì rõ ràng, lung linh cả. Nhưng buổi sáng tỉnh dậy, thấy một Sài Gòn mới mẻ, tinh khôi. Nắng như cũng hiền ngoan, dịu dàng hơn… Vì mưa trong đêm đã rửa bớt bụi đời…

Mưa Sài gòn chợt đến, chợt đi, rồi lại chợt đến. Giờ thì tôi đã hiểu được tại sao, Sài Gòn vẫn được người ta ưu ái gọi bằng “em”, cô gái đỏng đảnh nhất của cả cái đất Việt Nam này.

Ai đó từng nói rằng “mưa vô tình và gió vô tâm”, nhưng chính trong những cơn mưa bất chợt Sài Gòn tôi nhận ra rằng: hết mưa là nắng hửng lên thôi. Thấy vui vì học được vài điều từ mưa vậy.

Mưa Sài Gòn bất chợt cho nỗi nhớ ùa về những chuỗi ngày rất cũ. Nỗi nhớ quê nhà ngập tràn trong tâm tâm trí một cách tự nhiên và gần gũi. Một nỗi nhớ ấm áp và không quá day dứt hay ghen tỵ vì ở đầu kia đất nước - Hà Nội đang có một mùa thu lá bay…

Hạnh Nhân

 

THAO THỨC TIẾNG RAO KHUYA

 

Hàng rong thì thời nào cũng có và hầu như hiện diện ở bất kỳ địa phương nào. Bài viết này tôi chỉ muốn nhắc nhớ những kỷ niệm về những gánh, những xe bán thức ăn, uống bình dân rong ruỗi về đêm. Ở khu xóm tôi sống từ thuở bé cho đến trung học, nhớ nhất ba người theo nghề bán hàng rong, có tuổi nghề hơn hai mươi năm…

Một ông bán bánh mì, cứ khoảng 8 giờ tối là đạp xe ngang với tiếng rao “Bánh mì… nóng đây!”. Một giỏ cần xé khá lớn phía sau đựng bánh mì, đậy giữ nóng bên trên là lớp bao vải trắng, loại bao bột mì. Ông đạp chầm chậm, có khi dừng lại một chút bên cột đèn chờ khách. Ban đêm trời lạnh mau xót ruột, người trong xóm cũng thường mua ăn chơi. Sau này ông có được cái cát-sét loa rè rè, lúc nào cũng để phát các bài vọng cổ xưa do danh ca Út Trà Ôn, Út Bạch Lan… hát. Ngồi nhà nghe giọng ca văng vẳng từ xa tới gần, rồi lại xa dần theo vòng quay bánh xe, man mác dư âm còn vọng. Ông bán bánh mì hai cữ, tối và sáng sớm, đều đặn từng ngày. Thời gian sau thấy vắng ông, hỏi ra mới biết sức khỏe ông sút kém nên con cháu không cho đi bán nữa…

Một bà bán chè đậu đen đường cát rất ngon, bọn trẻ chúng tôi gọi là bà Bảy. Cô con gái duy nhất của bà thường gánh phụ mẹ tới ngã tư ra phố chợ. Gánh chè xuất phát lúc vừa đỏ đèn nên khu xóm ít ai ăn. Bà bán tới khuya, gần 10 giờ mới về lại. Bữa nào còn thức, nghe tiếng rao “Ai ăn chè đậu đen đường cát… hôn…” thì biết bà bán ế, còn chè. Mua một chén, ngồi bên gánh ăn, thấm thía hương vị thơm, ngọt từ hột đậu đen bùi bùi. Tôi biết gánh chè này đâu chừng mươi năm thì bà Bảy mất. Cô con gái tiếp tục bán một thời gian ngắn, một thân một mình, sau đó dời nhà đi đâu không rõ. Những đêm mưa, tôi ngồi trước hàng hiên hay vẩn vơ nhớ tiếng rao của bà, mùi chè đậu đen, nhớ dáng gầy gầy liêu xiêu hắt bóng dưới ngọn đèn đường vàng úa…

Một ông tuổi gần bảy mươi bán bánh dừa nhân tôm thịt, có dịp ăn một lần thì không thể quên cái ngon đặc biệt. Có thể nói chắc, cả thị xã hồi ấy chỉ một mình ông bán loại bánh này, với bí quyết, kinh nghiệm riêng khó bắt chước. Ông gói bánh bằng lá dứa gai. Sáng nào cũng đạp xe lên xã Bình Công cách nhà gần 5 cây số, tìm gò hoang rọc lá dứa gai. Nhìn hai bàn tay ông lúc nào cũng có vết cắt, xây xác bởi gai đâm. Trời tối một lúc thì ông đạp xe ngang xóm, một bao cà-ròn bánh dừa nóng cột sau xe, tiếng rao quen thuộc “Ai… bánh dừa tôm thịt… bánh dừa…”. Hai tiếng “bánh dừa” đệm sau nghe như lên giọng, như nhấn mạnh điệp khúc rao hàng có trầm, có bổng. Bánh nóng, thơm, khách ăn một cái chưa hết, ngước thấy ông dợm đạp xe vội kêu lấy thêm vài cái nữa chút ăn tiếp. Ông tà tà vừa đạp xe vừa rao, mỗi con phố ít khi ông qua hai lần, khách quên đón thì chờ đêm sau. Ông mất đột ngột, khách đến viếng bùi ngùi nhìn chiếc xe đạp cũ dựng cạnh mớ bao, liềm dùng cắt lá dứa gai…

Kỷ niệm tuổi thơ cho dù đã trôi qua rất lâu, nhưng không hề mất. Thỉnh thoảng ký ức quay về, lòng tôi lại bồi hồi tiếng rao khuya, thao thức…

Nguyễn Kim


Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác