Truyện ngắn của Nguyễn Châu Thanh

 

LÀM MÙA THÁNG BẢY

 

Chú út lấy tay vuốt cổ lên xuống năm bảy lần. Mắt chú trợn trắng, chú ra dấu cho thím út lấy dùm bình nước để góc chòi. Mới đầu thím đâu có hiểu, sợ chú có chuyện gì, thím lấy tay đập lên lưng chú thình thình. Bực quá, chú lấy hết hơi cùng lực kiệt kêu “nước”, vừa kêu vừa ra dấu túi bụi. Mà chữ “nước” đó cũng không rành rọt, giống như nước sông đang chảy ngon lành tự nhiên gặp cù lao chặn lại, lãng nhách. Chừng qua trận trời hành đó, chú dựa lưng vô gò mả thở dốc. Thật ra chỉ là mắc nghẹn cơm thôi mà chú làm như ai bóp cổ hết hơi. Cũng không trách chú được, cơm khô quá chừng khô. Giữa trưa tháng bảy nóng bốc khói mà chú thím ngồi ăn cơm với cá sặc kho khô, không có miếng nước mắm chan vô, không có miếng rau sống đi kèm. Có tô canh rau đắng mà trời hầm quá nên nó thiu mất rồi, chua lét. Chú thím ngồi mỗi người độn một họng cơm mà nuốt không trôi, ráng quá thành thử mới mắc nghẹn như vậy. Có bữa chú leo lên cây dừa gần đó hái một trái rồi lấy nước chan vô cơm, sáng giờ thấy ong bay vo ve trên đó nên chú cũng nhát giò. Làm lát tháng này cực vậy đó, ăn uống cầm hơi thôi chứ có bữa nào gọi là no đâu. Vừa ăn vừa dòm trời, hễ thấy có mây chân là bỏ ăn, bỏ uống, bỏ hết mọi thứ mà cứu lát. Mà cũng tại chú thím nghèo chứ người ta cũng cơm nước đàng hoàng, thịt cá hẳn hoi. Mần chuyện nặng thì ăn không phải chỉ no mà còn phải ngon mới có sức chứ. Chú thím đi làm thì ba đứa con ở nhà lo chuyện trong ngoài. Hai đứa lớn dệt chiếu kiếm tiền đi chợ, đứa nhỏ lo nấu nướng đem cơm cho ba má, lo canh ông trời tháng bảy trở chứng thất thường. Nhà chú út ai cũng làm, làm cháy da đầu, làm dày da chân, làm suốt tháng quanh năm không ngơi nghỉ. Vậy mà cũng nghèo. Người ta nói ai cũng có cái số, trời kêu ai nấy dạ. Ban đầu chú đâu có tin, tới chừng làm cái gì cũng lỗ, chơi chỗ nào cũng xui thì chú mới hay thiệt ra ổng đâu có nói chơi, ổng làm thiệt không hà, ai chết kệ. Chú cũng biết mần ăn chứ, nhà không có đất làm ruộng thì chăn nuôi. Kỳ một cái là nuôi con gì chết con nấy. Nuôi gà thì cúm, chết. Nuôi dê thì bệnh, chết. Nuôi rắn thì tụi nó cắn nhau, chết. Nuôi ếch thì chim bói cá ngày tỉa một con, chết. Chú cứ tưởng chim bói cá là chỉ ăn cá thôi, tới chừng phát hiện bầy ếch giống ngày càng ít dần thì mới biết cái giống đó ăn tạp, ăn trên đầu trên cổ người ta. Bây giờ chú chỉ còn hai con trâu. Chú bắt trâu giống, nuôi tới nay cũng lớn sộn rồi. Ai thấy tưởng chú có của lắm. Mà nông dân bây giờ chứ đâu phải nông dân hồi xưa, giá một con trâu còn thua chiếc honda người ta nữa. Chú tính làm xong vụ này, bán lát khô sẽ có một mớ tiền. Trả nợ ngân hàng cho dứt là chú bắt thêm hai con nghé nữa, tháng bảy mưa dầm, cỏ mọc tứ tung, mướt rượt, xanh nè thì đâu thiếu thức ăn cho tụi nó. Nghĩ tới đó chú khoái quá chừng, bứt cọng cỏ xỉa răng cười mỉm chi mặc cho thím đang say ngủ dưới cái nón lá cũ mèm. Hai vợ chồng nếu một người ngủ thì một người phải một người thức coi chừng trời, canh ổng còn hơn đánh giặc hồi xưa, bởi ổng không có thương ai đâu, buồn buồn là mưa ngập lỗ mũi luôn chứ ở đó. Bỗng chú bật phắt dậy vì nghe đâu có có tiếng la, chú lật đật chạy ra khỏi chòi, nhìn về hướng mặt trời lặn rồi nhanh nhẹn đưa tay lên miệng làm thành cái loa, chú lại quay về hướng biền, nơi có biết bao nhiêu là ruộng lát. Ở dưới khuất cây cối nên người ta không thấy trời chuyển mưa. Chú la lên:

- Mưưaaa, mưưaaa….

Thím út đang ngủ trong chòi tung cái nón lá chạy, đầu đụng vô gốc cột cái bưng. Không phải thím mơ sảng đâu, thím chỉ ngủ có tám phần thôi, còn hai phần luôn thức để đợi cái tiếng “mưa” tháng bảy. Giống như mấy bà mẹ ru con vậy, trời sập cũng không hay mà hễ đứa nhỏ cựa mình một cái là thức dậy ầu ơ liền, lạ thiệt. Đâu phải chỉ một mình thím, từ mấy cái chòi lúp xúp như lều của dân du mục Mông Cổ, hằng hà sa số người túa ra, ai cũng la làng “mưa” “mưa” như chú út. Thấy trời chuyển không la cứu bồ thì mai mốt có gì người ta bỏ luôn, bỏ như ông trời tháng này vậy đó. Ai không biết tưởng khu biền này hoang vu lắm bởi giữa cái nắng cháy da, ngoài mấy đám lát mới cắt trống trơn, ngoài mấy đống bỏi cao cao thì không còn ai nữa. Người ta vô chòi nằm, ngủ cũng có, chẻ lát cũng có, kiếm gốc cây nào giăng võng nằm mở ra dô nghe cải lương cũng có. Vậy mà hễ mưa là tung chạy cắm đầu. Trời chỉ cần đổi màu là khu này đổi hình đổi tiếng liền. Cũng như người ta đang hối hả, chú thím mau chóng gom lát khô vô trước. Lát khô cột thành búng nên gom mau hơn, phơi chừng hai nắng nữa là có thể chất vô bồ được. Thím út tay xách búng này, tay cầm búng nọ, gom thành một đống to đùng, vừa làm vừa dòm coi mây đi tới đâu. Bởi ông bà mình nói “mây xanh thì nắng mây trắng thì mưa” đâu có sai. Người ta mới nhìn lên trển làm thơ lục bát đó mà đã đen thui rồi. Chú út lưng đẫm mồ hôi, lòn hai tay xuống dưới đống lát, chú vặn mình hất chúng lên vai, chú chạy chứ không đi nữa. Người ta chỉ thấy hai chân chú chạy lúc thúc chứ có thấy người ngợm là gì đâu. Để mớ lát nằm lủ khủ lềnh khênh trong chòi, không kịp uống miếng nước bù lại cho mồ hôi đang tuôn chảy, chú tức tốc chạy ra ngoài cuốn lát tươi phụ thím. Lát tươi phơi đại trên đống bỏi lô nhô, đầu gác lên mấy cọng dừa nước khô cho dễ cuốn. Chú đưa hai chân rộng hơn vai, khom người xuống ngang gối, hai tay giang rộng hết cỡ rồi đồng loạt lùa mớ lát vào chính giữa. Chú lấy chân đạp mấy cọng lát còn lòng thòng, ngoai bó lát đang cầm trên tay thật chặt rồi quăng đó để làm tiếp. Mấy người chỉ có lát khô thì có thời gian đập phao nhưng cũng không kỹ lắm. Họ cầm búng lát thật chặt trên tay, giơ chân ra rồi cứ thế đập phành phạch. Âm thanh “bạch” “bạch” vang đi không ngừng, tưởng chừng gấp gáp hơn cả tiếng trống quân. Ai yếu thì đập xuống đất hoặc coi cái mả đá nào gần đó quất vô cũng được. Gió bắt đầu thổi, phao lát bay tứ tung, lá tràm rơi tá lả. Hàng chục con người thoăn thoắt làm việc mà không nhìn ra cảnh đẹp mê hồn đó, trên đầu họ mây phủ ngập cả rồi. Nó như một tảng đá đen khổng lồ từ từ đè xuống. Nhưng họ phải gánh thôi, gánh để mà sống dù dưới chân đầy sình lầy. Những con người ấy giơ tay chống cả bầu trời, quanh năm vất vả cả đời bần nông.

Rồi mưa cũng trút ầm ầm xuống. Mưa tháng bảy gãy cành trám. Mưa phang vô lưng trần những hạt thật to, thật nặng, rát rạt. Vài người còn tất tả ngoài cơn mưa dầm dề ấy, lát chưa gom xong mà, để tới ngày mai nó nở ra như cọng bánh canh thì đem quăng luôn chứ xài xụng gì nữa. Chú thím út thì may mắn hơn, cái chòi nhỏ xíu đầy những lát, chú thím chỉ còn một góc nhỏ để ngồi nhìn cơn mưa trắng đồng. Mưa dày như tấm gương soi còn lấm tấm thủy tinh, rõ ràng đó nhưng nhìn vô chưa thấy được mặt người. Chú mệt quá nằm thả ngửa trên đống lát tươi nhưng rồi phải bật ngay dậy vì hơi nóng bốc lên dữ dội, nóng tới mức tưởng chừng bỏ trứng gà vô chắc nó nở luôn. Chú lại qua bên đống lát khô, ngồi dựa lưng vô đó chứ không dám nằm, sợ gãy hết. Bởi lát khô mới cuốn còn giòn rụm, nó là minh chứng cho cái nắng cháy da vừa tắt. Chú tính rồi, đống lát này cỡ mấy tấn chứ không phải chơi. Lát phơi khô để tại đám rồi lái vô tới chỗ cân. Năm nay trúng mùa, lát dài cả trăm neo, vắn cũng vài chục chứ ít đâu, vậy mà người ta ép giá quá. Bữa chú trả bốn ngàn rưỡi một ký mà họ không chịu, nói bốn ngàn là bốn ngàn, trả bốn ngàn hai cũng không được. Chịu thôi chứ biết sao, ở đây đâu phải có mình chú mần lát, người ta mà không mua thì vác về nhà dệt chiếu thấy bà nội.

Những cơn mưa to vào mùa này là bình thường. Ông trời ác đạn chi cho lắm, tháng thì nắng cháy da, tháng thì mưa tơi tả. Hổm rày cứ mưa liên tục, lát tươi màu xanh, không được phơi phóng, ủ riết thành màu đỏ hết rồi. Mấy bữa nay trăng tròn, nước đã lớn mà còn kèm theo mưa nên càng dữ. Nước lé đé con đê, lũ chuột bị ngập hang nên leo lên đọt dừa, đọt bần trốn hết. Cũng hên là đám lát chú út nằm phía trong con đê này, chú có nhét bọng cẩn thận rồi nhưng cũng còn hơi sợ. Bởi con đê mỏng lắm, chòi của chú lại nằm dưới đám lát, có gì chắc chết luôn chứ sống gì nổi. Chú tính mai chiều mấy đứa con nghỉ học kêu tụi nó ráp nhau vác lên gò cho an tâm. Chú còn một đám lát nhỏ dưới mé sông, chừng vài chục neo, cắt rồi mà chưa đem lên. Nước nổi kiểu này cũng có cái hay. Giao thím mớ lát trên này, chú xuống biền cắt ít dây mây. Chú cột mấy chục neo lát lại thành một cái bè rồi cứ vậy men con rạch long lên đồng. Chú trồi lên hụp xuống theo con nước, nhiều khi thấy cái cái đầu nhô lên hơi cao thôi. Nhờ nước lớn nên kéo được tới chỗ luôn, khỏi phải vác cong xương sống như lúc trước. Có điều người chú hôi quá chừng. Chưa biết con cú hôi như thế nào nhưng nói thiệt là đứng gần chú không chịu nổi. Mà nghĩ lại, ít ai nhận được cái xấu của mình. Bởi vậy thấy thím bịt mũi đứng xa xa, chú hỏi liền:

- Bà làm cái gì đó, lại lượm lát đỏ đi, để vài bữa nữa chắc bỏ luôn.

Thím cũng không lại, đứng tại chỗ hỏi chú:

- Đi đâu mà hôi quá vậy trời?

- Đi long lát chứ đâu.

- Ông ngửi thử đi!

Tới giờ thì chú mới đưa tay lên ngửi, chú nhăn cái mặt còn khó coi hơn người ta ăn me ván:

- Chắc hồi nãy kéo qua chỗ nhà ba Cội chứ gì. Ông nội đó đãi lúa Thái Lan cho vịt ăn, hèn chi thúi quá.

- Sao không tránh chỗ khác, hôi quá chừng!

- Bà giỏi đi mà tránh, nó không chui vô họng là hên lắm rồi. Thôi tui đi tắm à.

Chú út cởi áo quăng lên nóc chòi rồi ra hướng mé sông. Gió thổi lồng lộng, chú thấy mát quá, đã quá, còn thím bịt mũi, phành bọc mủ bỏ cái áo của chú vô. Nhưng chú mới đi tới bờ đê đã phải quay phắt lại vì tiếng la thất thanh của ông năm Hùng:

- Út ơi út, hai con trâu mày xúc dây chạy ra lộ. Người ta chạy xe bang trúng kìa.

- Trời ơi ở đâu anh năm?

- Chỗ quán bà hai á, mày chạy ra liền đi. Tao thấy có bà bầu nữa. Lẹ đi!

Chú không nói không rằng, ở trần, chân đất, mình lấm tấm lúa Thái Lan chạy ra lộ. Thím chạy theo, năm Hùng cũng chạy. Họ bỏ mặc cái chòi xiêu xiêu một mình trong gió, bỏ mặc con nước đang lên vội vã kịp mưa rào.

Chú thím đi cả buổi chứ có ít ỏi gì. Hai con trâu toi vật lỗ mũi bị chai, giựt dây rồi lủi ra lộ. Chú thím tức quá, sao không lủi xuống sông chết cho rồi mà ra ngoải làm gì không biết. Trâu chết còn bán thịt được chứ con người ta chết thì ai đâu đẻ kịp mà đền. Nghĩ sao xe đang chạy ngon lành, tụi nó lủi ra, chiếc honda thì ngã lăn, bánh xe còn quay đều đều. Người chồng nằm úp mặt vô bụi mắc cỡ, cũng hên là chỉ trầy sơ sơ. Còn người vợ mang bầu bảy tháng lăn mấy vòng ngoài đường. Ai cũng tưởng đứa nhỏ trong bụng tiêu rồi. Hồi chú thím ra tới là họ còn ở đó đợi xe cấp cứu, người ta bu đông lắm. Người vợ trẻ ngất xỉu, người chồng ôm vô mình ngồi khóc, ai thấy cũng thương. Lúc đưa vợ lên xe, anh ta chỉ vô mặt chú út:

- Vợ tao có chuyện gì thì tao cào nhà mày!

Không ai nói gì, chú thím cũng không nói gì. Lỗi của mình mà. Với lại chú nghĩ chắc vợ người ta như vậy nên mới ăn nói hỗn hào thôi chứ vợ chồng anh này chú biết, con ông hai Hùng ấp vịt chứ ai. Họ đi rồi, chú thím cũng kêu xe ôm chở vô bệnh viện. Chú không kịp mặc cái áo, thím không kịp xổ cái quần. Ông năm Hùng dắt hai con trâu cột vô cây tràm cách đó vài chục thước rồi cũng chạy theo. Người ta khám, hồi sức cho người vợ. Lát sau chị tỉnh, mẹ con an toàn. Không thể diễn tả niềm vui của mọi người lúc đó. Anh chồng ôm vợ, ôm luôn cái bụng bầu hôn lấy hôn để. Thím út mừng rớt nước mắt, quơ tay vỗ vỗ lên lưng chú làm lúa Thái Lan rớt tùm lum nền gạch men của người ta. Họ không truy cứu làm vợ chồng chú mừng hết lớn, nhưng cũng lo lắm, lỡ có biến chứng gì thì sao. Bắt xe ôm về lại chỗ cũ, chú thím mỗi người dắt một con trâu, vừa đi chú vừa rủa:

- Mấy con quỷ, chút xíu nữa là chết tao.

- Cũng hên là người ta không sao heng ông.

- Ừ, mai mốt bả nhớ cột vô gốc bần chứ đừng quấn cỏ như bữa nay nữa nghen!

- Ừa, tui biết rồi.

Chú thím dắt tụi nó đi thẳng về hướng cái chòi, tắm rửa đã rồi tính tiếp. Bỗng chú thấy đám lát của mình trắng xóa. Chú thất thần, hớt ha hớt hải:

- Trời ơi, chết mẹ rồi!

Bỏ mặc hai con trâu vừa gặm cỏ vừa quẫy đuôi. Chú thím chạy còn nhanh hơn hồi sáng nữa. Lúc đi đất còn khô queo, bỏi khô đạp lên còn kêu răng rắc mà sao giờ nước ngập qua đầu gối. Đống lát trong chòi ướt mẹp hết rồi, còn vài búng trên mặt là khô. Số lát ướt nở ra, to hơn cả hồi mới chẻ, bọt nổi lên như cơm sôi. Thím út tiếc, lụm chúng quăng lên gò mả cho ráo. Chú không nói gì, nhìn lên đọt bần, thẩn thờ, vô hồn vô phách. Gió ngoài sông thổi vào mát rượi, vài ổ chuột mới làm xong lắc lư trên ngọn bần nghiêng ngả. Mấy con chuột mất nhà nhưng chính nhà chúng làm vỡ đê, làm người ta mất của. Nước vẫn đang lớn nhưng trời thì nắng lắm, nắng cháy da, những đống bỏi khô trên gò vẫn đang kêu răng rắc…                         


Truyện ngắn của Nguyễn Châu Thanh - ảnh 1
Làng quê Việt (ảnh Internet)



VẲNG TIẾNG RẠ KHÔ

 

Thằng Thông vừa bỏ cặp xuống giường là chạy bán mạng xuống bếp. Nó lượm cây củi bửa phang con Bích La đang tìm cách giở cho được cái nắp nồi. Nhà nó ngộ lắm, đặt tên chó không giống thiên hạ, dị hợm hơn mới chịu. Chó người ta màu đen thì kêu Mực, màu vàng thì kêu Phèn, nếu không có thì cứ kêu đại là con chó cũng có sao. Vậy mà ba nó với mấy ông nhậu phải gọi là Bích La mới chịu. Mới nghe tưởng ngon lành lắm nhưng thiệt ra đâu phải. Mấy ổng độ con này làm được ba lít nên mới đặt vậy đó chớ. Hồi nó mới trọng trọng thì tên Hít Lai, ai không biết tưởng nhà này học cao lắm, thành thử nhiều khi nhờ con chó, nhờ ly rượu mà thằng Thông được thơm lây. Tính ra con Bích La chưa thèm dừa khô nên cây củi chỉ sớt đuôi, không thôi toi mạng rồi còn đâu. Mà cũng nhờ lẹ giò thằng Thông mới cứu được nồi thịt gà đang nghi ngút khói. Nó chống tay vô hông dòm nóc nhà, nhớ thử coi bữa nay có đám tiệc gì không mà thịt thà quá trời quá đất. Nó giở thử cái lồng bàn, không có gì ngoài hai con gián nằm chết trong tô mắm nêm. Chừng chắc chắn rồi, nó vớt một con gà ra, để vô thau rồi chạy ra cửa, dòm trước, dòm sau. Nó sợ má thấy thì thế nào cũng bị chửi, học trò học dè mà ăn vụng. Nó gồng mình xé một cái đùi gà làm mặt mày đỏ như Quan Công, nước văng đầy ra đất. Xong, nó cởi áo vắt đại vô vách, cầm cái đùi gà chạy ra cây me sau nhà. Leo lên một nhánh to, nó gồi kênh kiệu xé thịt gà, nhìn như Lỗ Trí Thâm ăn thịt chó, có điều thiếu bình rượu hồ lô.

Ăn xong, nó quơ tay quẹt mỏ nhìn công cắt gom lúa. Nó nghĩ khó hiểu: “Sao lúa người ta gom rồi mà không thấy vịt mình ta? Ba lùa đi đâu không biết”. Nó đứng lên kiếm vòng vòng mà cũng không thấy. Trên cánh đồng thênh thang chỉ có một màu vàng úa của rạ mà thôi. Tự nhiên nó thấy yêu đời quá chừng, yêu mảnh đất này quá chừng. Từ gốc me ra tới mé sông, xa mấy cây số mà có chỗ nào nó chưa đi, có đám ruộng nào mà nó chưa bứt rạ làm kèn, có bờ nào nhiều cỏ gà mà nó không biết. Nó hứng chí lên, lẩm bẩm đọc: “Cánh đồng quê em rộng mênh mông, phù sa bồi đáp bởi dòng sông. Bầu trời trong trẻo luôn yên tĩnh, chẳng có khi nào nổi cơn dông”. Nó vui quá vì cái nó vừa đọc là một bài thơ bảy chữ, trong sách văn có dạy bài này, cô cũng có dặn về nhà mỗi người làm một bài nữa. Thế nào ngày mai vô lớp nó cũng nổ banh nhà lồng, thế nào cô cũng khen, nhất định nhỏ lớp trưởng sẽ cười với nó. Bao ý tưởng non nớt, ngây thơ, tự nhiên của một cậu bé còn chưa dậy thì nảy nở trong đầu nó. Rực rỡ như cây tràm trổ bông vàng, thơm tho như mùi lúa non mùa ngậm sữa. Nó thích thú bẻ nửa trái me xanh nhai ngấu nghiến, mặc nửa trái còn lòng thòng trên cây, đung đưa trong gió xuân vừa chớm thổi. Bỗng nó giựt mình, trong nhà má nó kêu:

- Thông ơi Thông! Đi học về quần áo quăng tùm lum, mày về đây, về đây taooo!

Nó hoảng hồn, thôi thế nào cũng ăn roi mây. Cái tội ăn vụng đã nặng rồi, giờ còn thêm chuyện quần áo nữa. Nó trốn ngoài đây thì má nó cũng khó mà kiếm ra nhưng kiếm ra rồi thì có mà xứt thuốc đỏ vô đít. Trước sau cũng chết, nó suốt mấy nắm lá me bỏ đầy hai túi quần sau, “dạ” một tiếng thiệt dài rồi lủi thủi vô nhà. Nó hy vọng thiên nhiên sẽ cứu mình thoát khỏi vài giây đau đớn. Vậy mà nó cũng không dám đối diện sự thật, nó lại tấm vách lá, moi một lỗ nhìn vô coi má nó đang làm gì. Thấy má đang xé thịt gà, nó mừng húm, đi vô hiên ngang, dõng dạc:

- Thưa má con mới đi học về!

Chị dừng tay, nhìn nó từ trên xuống dưới rồi hỏi:

- Đi học rồi áo xống đâu? Me ở đâu mà lòng thòng trong túi quần vậy?

Thì ra trong lúc gấp gáp, nó bứt đại mà không để ý trong nắm lá me có một chùm me còn non xèo. Nó bối rối, gãi đầu phân bua:

- Tại hồi nãy đi học về mà không thấy ai nên con ra sau hè chơi, hái me ăn.

- Chứ không phải ra đó ăn thịt gà hả?

Chị nói câu đó xong, quay qua bắt gặp ánh mắt thằng Thông. Ngay lập tức nó gục đầu xuống, miệng lí nhí điều gì không rõ. Chị mắc cười quá mà phải làm cho nó sợ nên cái miệng cười nửa khép nửa mở. Chị nói:

- Mai mốt ăn lấy chén đàng hoàng, ai không cho ăn mà làm kiểu đó, nghe chưa?

Thằng Thông nghe câu đó xong, ngẩng đầu lên còn nhanh hơn lúc cúi xuống, dạ một tiếng gọn hơ rồi nhìn má nó cười cười. Nó ngồi chồm hổm trước cái thớt, hỏi má:

- Gà ở đâu mà quá trời vậy má?

- Của bác sáu cho.

- Bộ bác sáu mới trúng số hả má, sao cho mình nhiều quá vậy?

- Đâu có, tại gà ổng mắc toi một mớ, ổng chia ăn phụ để bỏ uổng. Lúc này sao mà nó chết quá trời, hồi nãy thấy ổng ngoắc ngoắc, chắc chết nữa chứ gì.

- Con nghe nói có dịch cúm gì đó mà.

Nghe câu đó tự nhiên chị hai trừng mắt nhìn thằng Thông:

- Đừng có nói bậy, ba mày nghe ổng quýnh chết nghe chưa.

- Sao kỳ vậy má? Thằng Thông thắc mắc hỏi.

- Thì nói sao nghe vậy đi, mày nói ổng nghe ổng chửi tao không có bênh đâu à. Thôi lo ăn cho no đi rồi đem cơm cho ba mày! Ai hỏi đi đâu thì nói đi chơi nghe chưa!

Thằng Thông không hiểu gì ráo, đứng dậy cởi cái quần dài trút lá me ra. Nó thấy má nó bữa nay ngộ ngộ, hình như giấu nó chuyện gì. Nhưng suy nghĩ đó chỉ tồn tại trong đầu nó có chút xíu thôi, còn ngắn hơn thời gian người ta quăng một cái chài.

Cởi bỏ đồ học sinh, nó hiện ra nguyên si là thằng chăn vịt. Nó mặc quần tà lỏn, áo dài tay, đội cái nón jeans hình mủng vùa. Tại nhìn quen nên không thấy sao chứ bạn bè nó mà gặp thì thế nào cũng hỏi “mày đi bán cà lem hả?”. Vậy chứ nó không giận hờn gì, bữa nào quê quá chửi lảm nhảm vài câu rồi cũng thôi.

Bữa nay ba nó thả vịt xa quá trời, đi mỏi cẳng mà chưa tới. Xách gào mên cơm trên tay, ban đầu nó còn bứt cỏ xước ngậm cho vui miệng, khúc sau mệt quá nên chuồn chuồn đậu trên đầu cũng không thèm đuổi. Thoáng thấy mấy đốm trắng trắng khuất sau lùm cây, nó mừng quá xá, bầy vịt của nó đây rồi. Nó co giò chạy tới. Hai bên con đường nhỏ, mấy đám lát tới mùa chúc đầu vào nhau, nhìn mượt mà như tóc mấy ông tài tử Hồng Kông những năm 90. Nó chạy giữa con đường hẹp ấy, nhìn nó nhỏ xíu, giống con thòi lòi nhảy nhảy trên bập dừa quá chừng. Nó làm bầy vịt hết hồn, ráp nhau nhảy đùng xuống mương, lông bay lả tả. Nó gọi ba nó đang nằm ngủ trên võng, mắc vô hai cây tràm bông rụng trắng trời mây:

- Ba! Dậy ăn cơm nè!

- Gì mà làm rần rần vậy mậy? Ba nó còn chưa tỉnh ngủ, nheo nheo mắt trả lời nó.

- Má kêu con đem cơm cho ba nè. Sao bữa nay thả vịt mút tì tì ở đây vậy ba. Con kiếm đã đời mới thấy.

Ba nó không trả lời, chậm rãi bước ra con rạch gần đó khoát nước rửa mặt. Nước lớn ngập góc vẹt già, lớn mấy kiếp rồi mà bìm bịp mới kêu, lãng nhách thiệt. Anh lại vô võng ngồi một hồi nữa, nhìn thằng con vọc mấy bãi chàng heng bấy nhầy rồi mới giở cơm ăn. Anh ráng nuốt vì cơm khô quá, cái ca đựng canh bầu thằng Thông đã làm đổ hồi nó bứt cỏ xước nhai rồi, mà chắc nó không biết. Anh nhìn bầy vịt mình đang nằm, tụi nó còn khỏe như trâu vậy mà mấy ông thú y biểu đốt là cớ sự gì. Vịt người ta bị chứ có phải vịt anh đâu. Mấy ổng vô liên tục mấy bữa mà anh không chịu, túng quá anh mới phải lùa tới chỗ này trốn. Không trốn sao được, bầy vịt là tài sản của cả gia đình anh, lớp vịt đẻ, lớp vịt thịt cả trăm mấy con chứ ít ỏi gì. Vịt đẻ thì đang cho trứng, vịt thịt thì sắp xuất chuồng vậy mà kêu đốt thì ai mà chịu. Hơn nữa còn tiền thức ăn, lúa thóc, thuốc men chưa trả cho người ta nữa, đốt rồi nợ chất ngập đầu. Bây giờ có bán đổ bán tháo cũng không ai mua, cho không chưa chắc người ta đã lấy. Ai cũng sợ gia cầm bị cúm nên không dám ăn. Cứ nhìn dưới sông là rõ, người ta quăng cả trăm cả ngàn bao xuống đó, tới chân cầu chảy không được hôi thối không ai chịu nổi. Trứng vịt, trứng gà thì nổi lềnh bềnh như hột é, chỉ nghĩ thôi cũng muốn mửa rồi. Anh độn một họng cơm rồi nhìn thằng Thông trân trân, nhìn vậy thôi chứ hồn anh để ở xứ địa nào thì ai mà biết. Bởi vậy anh không thấy nó đắp một mô đất cao cao rồi đặt trái mù u lên đó. Bắt chước mấy ông đánh gôn trên truyền hình, nó lấy khúc bình bát làm y hệt. Thôi thì đất sình văng tùm lum trên mặt anh. Anh điên tiết bỏ cái gào mên xuống võng, tính nhào lại cho nó một trận mà nó đã nhanh chân lủi xuống đám lát rồi, vừa chạy vừa quay lại dòm nữa chứ. Bảo đảm nó không cố ý, chắc tại nó là dân nghiệp dư nên anh mới mắc cái họa này. Anh vừa lấy vạt áo lau sình vừa chỉ tay xuống đám lát, chỗ thằng Thông đứng, chửi:

- Thằng quỷ nhỏ, mày lên đây tao!

Nó núp luôn dưới đó là chắc rồi. Còn anh giật mình khi sau mình có tiếng cười giòn giã:

- Hai cha con giỡn vui quá ta!

Anh hoảng hồn khi quay lưng lại thấy hai Thành, trưởng trạm thú y xã. Anh nghĩ: “chết mẹ rồi, trốn tới đây mà nó cũng kiếm được, bầy vịt tiêu mẹ rồi”. Anh không ưa ông này nên thái độ cũng không niềm nở lắm:

- Ủa ông đi đâu đây?

- Tui kiếm anh đã đời mới được, nhờ đi theo thằng lính anh chứ không thôi cũng bó tay rồi.

Anh bực mình, dòm xuống đám lát thấy thằng Thông vẫn còn đứng đó, còn bẻ nhánh trâm bầu che mặt nữa. Anh không trách nó, chỉ thấy thương nó thôi, nó còn nhỏ quá, có biết gì đâu. Quay qua hai Thành, anh nói:

- Tui nói với anh rồi, vịt tui không có bịnh hoạn gì hết, con nào con nấy mạnh như trâu chứ có cúm kiết gì đâu. Giờ gần bán rồi, tiêu hủy thì coi như nhà tui mất hết.

- Nghe anh Tám nói thì tui cũng biết rồi. Nhưng mà đâu phải mình anh, xứ này ai chăn nuôi cũng vậy hết.

- Của người ta kệ người ta, còn tui kệ tui, mấy ông khỏi lo chuyện đó.

- Trời ơi chứ bộ anh tưởng tui rảnh lắm hay sao, cái này là ở trên người ta đưa xuống, tụi tui chỉ thi hành. Tại mình xui bị dịch cúm chứ ai mà muốn đâu, anh không muốn, tui cũng đâu có muốn.

Anh Tám nghe hai Thành phân trần nên cũng dịu bớt, trả lời:

- Thì tui biết là không phải tại anh rồi, nhưng mà tui tiếc bầy vịt quá, nuôi đã đời trời đất mà giờ mất trắng.

- Sao mất trắng được, nhà nước có đền bù cho anh chứ.

- Đền thì đền một phần thôi chứ sao mà hết được, cũng lỗ sặc máu chứ gì.

- Một phần đỡ một phần. Tui nói xui nghen, nếu lỡ vịt ăn mắc dịch mắc toi gì, nó chết hết, lúc đó ai mà đền cho anh đây? Có phải chết nữa không? Mấy con vi trùng vi khuẩn này mình đâu có kiểm soát được đâu. Rồi lỡ lây qua mình thì coi như tới số, người ta bị lây rồi đó, nói cho anh biết.

Nghe hai Thành trình bày, anh chỉ biết đốt thuốc hút mà không nói gì, nhìn thằng Thông từ từ leo lên bờ mà ánh mắt như vô hồn. Thấy vậy hai Thành tiếp:

- Giờ tui nói vầy nè anh Tám. Thấy vịt anh lớn rồi tui cũng tội. Giờ nếu bầy này trăm rưỡi thì tui kê lên cho anh ba trăm, cho anh đỡ một chút.

Anh đang đưa điếu thuốc lên miệng, nghe vậy liền quay qua nhìn hai Thành, không đợi anh lên tiếng, hai Thành tiếp liền:

- Nhưng mà đừng có nói ai biết nghen, biết chết tui à. Giờ lỗ chút đỉnh mà sau này mình gầy được, chứ lỡ có gì thì trời cứu.

Anh lại lặng im, kéo một hơi thuốc, nhìn thằng con đang đứng trước mặt mình, hai Thành giục:

- Sao anh Tám?

Anh kéo một hơi thuốc nữa rồi quăng xuống nước cái xèo, nhìn thằng con rồi nhìn hai Thành, anh nói:

- Mai qua nhà tui.

Hai Thành như trút bỏ được gánh nặng ngàn cân, tươi cười:

- Ờ, vậy nghen anh Tám, mai tụi tui qua. Thôi tui đi trước à.

Lúc đó mình hai Thành tự biên tự diễn, còn anh không nói câu nào. Khi hai Thành đi rồi, anh nằm võng, gác tay lên cái trán còn dính sình, nhìn xuống mương coi mấy con vịt giỡn ầm ầm làm sình nổi lên như nước mắm kho. Anh nằm đã rồi ngồi dậy, nghe người ta ru con ngọt như mía lùi: “Ầu ơ ơ ơ…, vịt nằm bờ mía rỉa lông, cám cảnh thương chồng tiếng khóc nỉ non”. Anh như đứt từng khúc ruột, nhìn trân trân hướng mé sông, năm ngón tay bấu chặt cây tràm. Ngoài kia bìm bịp lại kêu, con nước từ từ rút. Thằng Thông rụt rè, tiến lại hỏi ba:

- Bộ mai nhà mình đốt vịt hả ba?

- Ừ. Tiếng ừ của anh nghe sao mà nặng nề chua chát quá. Thằng Thông cũng không dám nói nhiều, nó cũng buồn, ngồi dựa vô gốc tràm băm băm đất cho tới chừng nát nhừ mới thôi.

Trong chiều đó hai cha con anh lùa vịt về. Nói là lùa nhưng thật ra chỉ một đoạn ngắn thôi vì lũ vịt đã quen đường đi lối lại rồi. Chúng đi thành hàng hai con đều đặn, chậm rãi trong nắng chiều phơn phớt hồng. Anh đi trước, quăng luôn cây bẹo lùa vịt, mấy cái bọc mủ xanh đỏ bay tứ tung. Thằng Thông đi sau, ôm hai con vịt què nặng, lâu lâu xua xua mấy con què nhẹ cho tụi nó đi nhanh lên. Ngày mai nữa là nó hết được thấy bầy vịt rồi. Nghĩ tới đó sao nó buồn quá! Nó vừa đi vừa nhìn con đường mẹp rạ mà nó đã lùa vịt hằng ngày, nhìn mấy đống rơm mà nó xốc ra như miệng núi lửa để lấy lúa cho vịt ăn. Bức một cọng rạ, nó làm kèn thổi te te. Nó không biết mai mốt tiếng kèn còn hay như vầy nữa không, nó sẽ thổi trong lúc chăn vịt hay chỉ là một trò vui trong phút giây nào đó…

Bầy vịt về tới nhà, rỉa lông tắm táp rồi lên chuồng, đêm dần xuống, trời dần khuya. Kể cũng lạ, bữa nay mặt trời mọc trễ quá chừng, thằng Thông dậy sớm, đợi hoài mà chưa tới giờ đi học. Nó nói bữa nay phải đọc thơ cho cả lớp nghe nên không nghỉ. Má nó đã mần xong mấy con vịt để tống tiễn nguyên bầy, hàng xóm cũng qua phụ. Không có đám tiệc gì mà nhà cửa rộn rã hẳn lên. Ba nó thì không biết có ngủ không mà cái chuồng tạm đã làm xong để lát người ta lùa vịt vô đó cho dễ bắt. Mọi thứ đã sẵn sàng, rốp rẻng hết. Anh Tám vừa hút xong điếu thuốc là hai Thành cùng bốn người nữa tới. Họ uống trà qua loa rồi bắt đầu làm việc. Họ lùa trăm rưỡi con vịt vô chuồng tạm rồi nắm đầu từng con bỏ vô bao. Lũ vịt dường như biết hôm nay là ngày tàn của chúng, chúng la quàng quạc, chúng giãy ầm ầm, đúng là không có cái giãy nào mạnh bằng giãy chết. Chỉ một lát là mười mấy bao vịt nằm chất đống ngoài ruộng, người ta tưới xăng lên, lũ vịt la càng ngày càng dữ, một số đã chết ngộp trong bao. Xong xuôi đâu đó, Hai Thành giở sổ ra, xé một tờ giấy, bật hộp quẹt đốt rồi quăng thẳng vô đống vịt nằm chình ình ngoài ruộng. Lửa cháy xém bao, mấy con vịt còn sống thoát ra ngoài, bộ lông trắng muốt của chúng đầy lửa đỏ, nhìn như một ngọn đuốc sống lao ra ngoài. Chúng cứ đâm đầu ra mà không định được phương hướng, chạy tới đâu rạ cháy phừng phừng tới đó.Thế là bốn người đi theo hai Thành lúc nãy đứng bốn góc, mỗi người cầm một cái gậy, hễ con nào bay ra là đập nằm thẳng cẳng. Có con còn giãy đành đạch rồi mới chết, có con vỡ óc chết tươi, một cuộc đồ sát không khoan nhượng. Một ông hàng xóm thấy có lửa nên sẵn dịp quăng mấy con vịt xiêm của mình vô luôn. Vịt xiêm mạnh hơn vịt ta, mình mẩy đầy lửa mà vẫn bay được lên trời. Chúng vỗ cánh phành phạch, mỗi cọng lông rớt xuống là một vùng rạ cháy. Rồi chúng cũng đuối sức, rớt tự do như ngọn lửa trời. Nhìn những cảnh đó, anh Tám hút thuốc điềm nhiên, tay run run, còn chị Tám khóc ròng sau cánh cửa, chân duỗi thẳng.

Khi thằng Thông đi học về là mọi chuyện đã xong xuôi hết rồi, nhìn ra chiến trường chỉ còn lại ít tro xương. Nó thấy ba nó đang ngủ, người đầy hơi rượu. Má nó đang cuốn mấy tấm mành mành, quét phân vịt còn vương vãi. Nó lại cái bàn ba nó hay ngồi uống trà, chỉ còn lại rổ hột vịt đang ấp. Đặt tay lên đó, nó nhìn lên ngọn dừa cháy đen vì khói lửa, lòng lâng lâng. Bỗng nó giật nảy mình, rút tay ra, da gà nổi như cá ròng ròng lên đồng loạt. Trong rổ, nó thấy một trứng vịt nhúc nhích, tiếng tách tách quen thuộc. Rồi nó nhìn má, cười nắc nẻ như cái tuổi thơ hồn nhiên của nó.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác