“Trèo lên Ba Dội nhớ cô bán hàng”

 

(Toquoc)- Người Thanh Hóa, nhất là cư dân vùng thị xã Bỉm Sơn ai cũng thuộc nằm lòng câu ca dao Ăn trầu nhớ miếng cau khô/ Trèo lên Ba Dội nhớ cô bán hàng. Câu ca này đã được truyền tụng hàng trăm năm gắn liền với huyền tích Thánh mẫu Liễu Hạnh, thuộc hàng tứ bất tử trong tâm thức người Việt, lần thứ ba giáng trần hóa thành cô gái xinh đẹp bán quán hàng ở đỉnh đèo Ba Dội.


“Trèo lên Ba Dội nhớ cô bán hàng” - ảnh 1
Đền Sòng Sơn- Thanh Hóa (ảnh Internet)

 

Cụm di tích quốc gia đèo Ba Dội

Hiện không mấy ai còn xa lạ khi nói đến cụm di tích quốc gia Đèo Ba Dội- Đền Sòng Sơn- Đền Chín Giếng- Hồ Cánh Chim… nằm gần địa giới hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa, thuộc địa bàn thị xã Bỉm Sơn.

Nếu đi từ Bắc vào Nam theo quốc lộ số Một, Đèo Ba Dội là con đèo cao đầu tiên quy tụ bao danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, án ngữ giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Chẳng thế mà Đại thi hào Nguyễn Du khi qua đây đã không nén nổi xúc cảm về cảnh non xanh nước biếc hữu tình vừa thơ mộng, vừa hùng vĩ qua áng thơ bất hủ:

Đạp mây núi Ba Dội

Kẻ lãng khách lại qua

Trong mắt thu đất lớn

Ngoài khơi thấy biển xa.

Đặc biệt, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương có một tuyệt tác thuộc vào loại nhất nhì của thơ Nôm Việt viết dưới dạng đố thô giảng thanh về con đèo này, cách đây hàng trăm năm, mà đến nay không mấy ai không biết:

Một đèo, một đèo, lại một đèo,

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.

Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,

Hòn đá xanh rì lún phún rêu.

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,

Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.

Hiền nhân, quân tử ai mà chẳng...

Mỏi gối, chồn chân vẫ muốn trèo.

Vua Thiệu Trị, một vị vua lãng mạn vào bậc nhất nhì triều Nguyễn, trong một lần vi hành phương Bắc qua đỉnh đèo Ba Dội vào mùa hạ năm 1842, từng đề thơ lên vách đá nơi đây:

Giữa lối xanh um núi chất chồng

Tầng tầng phóng bước cưỡi Cầu Long

Chẳng như Vương Ôc chừa lối tắt

Còn giống La Phù biệt lối thong

Đón gặp thẳm xa xuôi một ngọn

Vươn cao trùng điệp biết bao vòng

Thanh, Ninh hai trấn đây ranh giới

Đúc diệu kỳ quan, lượn khắp vùng.

Hiện bài thơ này vẫn được bảo vệ bằng một lầu bia cao 4m giữa đỉnh đèo này. Trước đấy vị anh hùng áo vải Quang Trung khi tiến quân ra Bắc tiễu trừ giặc Thanh cũng đã từng qua con đèo này. Vì ngưỡng mộ phong cảnh nơi đây, nên Ngài đã cho tướng sĩ nghỉ lại mấy hôm vừa để thưởng ngoạn cảnh non nước mây trời, vừa để dưỡng sức.

Ngoài con đèo ra, ở vùng này còn có một hồ nước tự nhiên hình bán nguyệt, nằm giữa 4 ngọn núi bao phủ bởi một hệ động thực vật rất phong phú. Hồ có dáng một con chim đại bàng tung cánh bay, như gợi trong ta một khát vọng vươn cao, bay xa. Đấy chính là Hồ Cánh Chim. Trong hồ có một Hang Cá Thần, hàng năm cứ đến độ giêng hai, một đàn cá toàn thân màu đỏ lũ lượt kéo về tung tăng bơi lội trong hồ, nhưng khi hết Lễ hội Đền Sòng thì đàn cá tự nhiên biến đi đâu mất. Người dân quanh vùng cho đó là các Nàng tiên của Thiên triều phái xuống theo hầu Thánh mẫu Liễu Hạnh…

Gần Hồ Cá Thần có một chiếc cầu bằng đá do Hoàng Thái hậu nhà Lê phát tâm công đức xây dựng từ năm thứ 33 triều Cảnh Hưng (1772). Cầu được bắc qua con suối trong veo lượn quanh, uốn khúc về phía Đông hợp lưu cùng chín dòng nước phun lên từ lòng đất, tạo thành chín giếng nước tự nhiên chảy suốt đêm ngày. Người dân quanh vùng dựng nên ngôi đền cạnh chín cái giếng đó và đặt tên là Đền Chín Giếng. Đền cũng là nơi thờ Cô Chín - một tiên nữ được Vua cha Ngọc Hoàng cho theo hầu Thánh mẫu Liễu Hạnh. Đền Chín Giếng nằm cách Đền Sòng khoảng 1km về phía Đông.

Như vậy có thể thấy cụm các di tích ở vùng này, ngoài việc gắn với huyền tích Thánh mẫu Liễu Hạnh, còn làm cho bao thi nhân, chính khách trước đây phải nao lòng, ngưỡng mộ.

 “Trèo lên Ba Dội nhớ cô bán hàng” - ảnh 2
Lễ hội đền Sòng (ảnh Internet)


“Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh”

Sự tích Đền Sòng Sơn ở Thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa gắn liền với Thánh mẫu Liễu Hạnh, một trong tứ bất tử đã hằn sâu vào đời sống tâm linh của người Việt. Theo truyền thuyết, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là Tiên Chúa Quỳnh Nương con gái của Ngọc Hoàng Thượng Đế, vì phạm lỗi làm rơi chén ngọc trong một buổi Lễ chầu Thiên Đình nên bị đầy xuống trần gian. Trải qua 3 lần hóa sinh, Liễu Hạnh với quyền năng, công đức vô biên, tấm lòng thương yêu chúng sinh vô hạn, đã dạy cho nhân dân biết trồng dâu nuôi tằm dệt vải, xua đuổi thú dữ, đánh tan kẻ thù xâm lấn bờ cõi. Nhưng Đền Sòng Sơn khác với nhiều ngôi đền, ngôi chùa khác là ở chỗ Đền thờ cả Phật Bà Quan Âm Bồ Tát, Đức Thánh Trần Hưng Đạo Vương, Ngọc Hoàng, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và hai vị tiên nữ theo hầu Thánh mẫu Liễu Hạnh trong lần thứ ba giáng thế là Quế Nương và Nhị Nương, cùng nhiều chư vị quan lại của Thiên triều.

Điều ấy cho thấy Đền Sòng Sơn là ngôi đền thờ mang tính chất tổng hợp nhất:

Thờ người có công với nước, người có công giúp đỡ dân nghèo, thờ Phật và thờ Thánh. Như vậy ngôi Đền này đã hội đủ các yếu tố thiên thần và nhân thần, đạo và đời, Phật giáo và tín ngưỡng dân gian, vua quan và thảo dân. Theo lời người chủ nhang, Thánh mẫu Liễu Hạnh là người có công giúp đỡ dân nghèo, được người dân coi trọng và giữ gìn nghiêm cẩn hơn. Minh chứng là dành Cung Đệ Nhất, gian chính tẩm để thờ Ngài, cùng Quế Nương và Nhị Nương tọa lạc hai bên. Ban thờ này phần lớn thời gian đều cửa đóng then cài, rất ít khi mở, trừ khi có những vị khách đặc biệt đến thăm. Còn các vị khác tọa hai bên tả hữu để khách thập phương đến cúng vái và cầu nguyện. Còn hai gian bên của Cung thờ Mẫu Thoải (Thần Nước) và Mẫu Thượng Ngàn (Thần Núi).

Xung quanh ngôi Đền còn có biết bao huyền tích. Chuyện kể rằng, có một cụ già ở làng Cổ Đam (bên khu Đền Sòng Sơn) một đêm nằm ngủ mơ thấy Thánh Mẫu báo mộng về bảo dân làng phải xây dựng ngôi đền thì mới được hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Chính vì thế mọi người trong làng đồng ý để cụ già đó cắm chiếc gậy tre của mình ở vị trí bất kỳ trong khu đất của ngôi đền cũ. Mọi người bảo nhau rằng, nếu chiếc gậy đó mà mọc được thành cây sẽ lấy đúng vị trí đó để xây dựng Đền. Quả nhiên một thời gian sau, chính chiếc gậy tre đó đã nảy mầm và mọc lên cành lá xum xuê. Sau này người dân đã lấy vị trí đó để làm nơi xây dựng đền.

Người ta vẫn truyền tụng nhau câu chuyện kể về nhiều đồ vật tế lễ và bài trí trong đền như bia ký, hoành phi câu đối, các bức tượng quý hình hổ, báo, trâu cũng bị đánh cắp. Kẻ cắp các đồ vật ấy đi đường bỗng nhiên ngã dập sọ và chết không kịp cứu. Người nhà tên kẻ trộm sợ quá đành phải âm thầm đem trả lại những đồ vật trên cho ngôi Đền. Thì ra ở đời dù có tham lam đến đâu cũng phải biết chừa của Thần Phật, nếu không muốn bị Thần Phật trừng phạt.

Cần nhớ rằng tục thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh gắn liền với cư dân vùng lúa nước châu thổ sông Hồng và một số địa phương khác trong cả nước như: Phủ Giầy (Nam Định), Sòng Sơn (Thanh Hóa), Tây Hồ (Hà Nội), Lạng Sơn, Ninh Bình, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Nam...

Không phải ngẫu nhiên mà ở khắp mọi nơi đâu đâu người dân cũng lập đền thờ Thánh Mẫu. Mẫu Liễu xuất hiện khi xã hội nước ta ở vào thời điểm rối ren. Sự tranh giành quyền bính giữa các triều đại Lê- Mạc- Trịnh- Nguyễn diễn ra liên miên và kéo dài nhiều thế kỷ. Lòng dân ly tán, đức tin giữa bề trên và kẻ dưới, triều đình và thảo dân bị phôi pha. Đấy là những yếu tố khách quan. Về khía cạnh chủ quan, tục thờ Mẫu đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt Nam từ thời Âu Cơ. Hình tượng và câu chuyện về Thánh mẫu Liễu Hạnh như là sự tiếp nối bất biến của văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Nguyên lý Mẹ, Âm tính trường cửu của vũ trụ khởi xuất từ huyền tích mang tính lịch sử với Quốc mẫu Âu Cơ là Mẹ của giống nòi Hồng Lạc.

Dẫu rằng, hai vị Quốc mẫu là Âu Cơ và Thánh mẫu Liễu Hạnh đều khoác trên mình những giai thoại, huyền tích mờ mờ ảo ảo, nhưng lại nói lên một sự thật rất hiển nhiên, Việt Nam là một nước nông nghiệp. Con người được nuôi sống từ hạt gạo, củ khoai. Cuộc sống người Việt gắn bó với thiên nhiên, đất và nước là hai yếu quan trọng để làm nên hạt gạo. Chính nhờ những điều kiện ấy mà con người được bảo tồn và phát triển. Vì thế những vị Thánh như: Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Thiên, cùng Quốc mẫu Âu Cơ, Thánh mẫu Liễu Hạnh… đều được tất thảy cộng đồng người Việt tôn thờ ngay từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc cho đến tận hôm nay

Việc thờ phụng các Thánh mẫu ngoài mục đích bày tỏ lòng biết ơn những người đã bảo vệ, chở che và ban phúc cho con người, còn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt, nó mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với các thế hệ mai sau, nên giá trị của nó còn mãi trường tồn với thời gian. Không biết có phải vì những điều nói trên mà Đền Sòng trở nên thiêng nhất xứ Thanh?

Đỗ Ngọc Yên

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác