Trên sông khói sóng...*



(Toquoc)- Tôi không thích Đồng Hới mùa nắng. Mùa nắng Đồng Hới khô rốc và vô cảm. Tôi cũng không thích Đồng Hới mùa mưa. Mùa mưa Đồng Hới mết mát và mất hồn. Tôi chỉ thích Đồng Hới mùa sương giăng. Hồn phách và tình! Đó cũng là mùa hoa sữa bắt đầu toả hương. Mùa sương giăng ngắn ngủi, có khi chỉ dăm ba ngày. Mùa hoa sữa thì dài hơn nhưng thường kết thúc bi đát. Khoảng tháng 8 đến tháng 10 hàng năm hoa rộ trắng cả vòm cây, toả hương đến 9 tầng trời. Rộ đến đâu rụng đến đó, những bông hoa hình cánh sao xinh xẻo thơm tho rải nhẹ xuống mặt đường và... bầm nát dưới chân người... Thương một đời hoa! Sớm mai như mọi sớm mai, quên đi những hệ luỵ ngày qua, bước ra đường lòng đầy phấn khích, mong một ngày bình yên, đột nhiên gặp dòng sông sầu miên mơ màng màu sữa trắng, tất cả như đang trôi trong huyền thoại. Tinh khôi! Thánh thiện! Lòng chợt chùng xuống, trầm lắng và tơ tưởng. Có điều gì xao xác len nhẹ vào hồn, nấn ná mãi... bần thần mãi... Kể với bạn, bạn nói như tát nước vào mặt: "Bọn văn nghệ các cậu chúa hay nhiễu sự!". Ừ, biết rứa mà chẳng chừa. Bệnh nặng hung rồi! Di căn rồi! Bạn nói: "Ứớc chi ngành y tế chế tạo ra loại văcxin ngừa bệnh dại cho bọn văn chương thơ phú hè!?". Cười ha..ha..ha... bạn lao ra chợ theo áo áo quần quần để rơi lại mấy tiếng "Thần kinh!".

Chạnh lòng, tôi ngược gió cô độc cạnh dòng sông...

*

1. Nhật Lệ là một cái tên rất gợi. Thế cho nên lâu nay các học giả đã mất rất nhiều thời gian để bàn về ý nghĩa của cái tên này. Nhật Lệ là gì?

Mỗi thời đại dòng sông có một truyền thuyết riêng, nhưng dù truyền thuyết như thế nào cũng gắn với số phận những khách má hồng. Đời Lý, đó là nơi nàng Mỵ Ê - ái thiếp của vua Chiêm cự tuyệt tình chăn gối với vua Lý, tuẫn tiết để giữ trọn nghĩa Tao khang. Sông nước mắt đong đầy. Đời Trần, một hồng nhan mang tên Huyền Trân cũng lưu dấu gót ngà bên bờ vắng. Từ "Lệ" ở đây chỉ nước mắt của Huyền Trân Công chúa. Thân gái dặm trường, bước chân đi làm dâu xứ người là bước vào lịch sử, nàng khóc tiễn đưa một đời con gái, khóc tiễn đưa mối tình chỉ còn là mộng tưởng với vị quan hành khiển trẻ tuổi tài cao Trần Khắc Chung. Nước mắt công chúa chảy thành sông. Sử cũ còn ghi: Đời nhà Trần, vua Trần Nhân Tông là một vị hoàng đế có tâm hồn rộng mở của kẻ sỹ hào hoa và phiêu lãng. Trong một chuyến vi hành, ông vào đất Chiêm và được nghênh tiếp nồng hậu. Nể tình lân bang hay nuôi mộng mở mang bờ cõi, vua hứa gả con gái Huyền Trân cho Chế Mân vua Chiêm. 5 năm sính lễ cầu hôn, thượng hoàng Trần Nhân Tông hứa gả nhưng triều đình tuyệt giao. Vua Chế Mân đắm say sắc hương công chúa chốt hạ ván cờ hôn nhân bằng hai châu Ô, Lý. Vời rước người ngọc Huyền Trân về làm Hoàng hậu Chiêm Thành. Khi đoàn rước dâu của Đại Việt đến vùng đất địa đầu bờ cõi là Quảng Bình ngày nay, trước lúc đặt chân lên đất người, Huyền Trân công chúa đã quỳ xuống nơi miền biên viễn nước nhà nhỏ lệ tạ từ. Đó không phải là dòng nước mắt hạnh phúc của cô dâu về nhà chồng, nàng khóc thương thân, khóc đưa tang mối tình đầu trong trắng để hành nghiệp lớn. Nước mắt nàng chảy trắng đất. Thương một phận đời, trời cũng chít khăn tang vào không gian bằng những sợi mưa, nước mưa và nước mắt hoà trộn chảy thành sông - sông Nhật Lệ. Mới hay bậc Đế vương cũng có nỗi đau của bậc Đế vương, sự hy sinh của bậc Đế vương có giá Đế vương. Cái giá phải trả ấy dành cho muôn đời con cháu. Vậy nên phải vì quá yêu Huyền Trân Công chúa, muốn lấy danh phận nàng làm chút danh giá cho quê hương hay có phải muốn con sông Nhật Lệ nhuốm chút màu huyền thoại mà người Đồng Hới có câu chuyện ấy. Chỉ dám tưởng rằng hơn 700 năm trước, bóng Huyền Trân đã soi vào mặt sông. Lại có ý kiến, tên sông Nhật Lệ dường như được đặt lại trong dịp di dân mở cõi đầu tiên trong lịch sử nước Việt của triều Lý vào những năm từ 1075. Đây là đợt di dân đầu tiên để vào giữ đất và khai khẩn phương Nam, gồm ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh. Danh xưng Nhật Lệ ra đời để chỉ dòng nước mắt nhớ quê cũ, chốn xưa của những kẻ tha phương mở cõi.

Một ngày nắng, mặt trời thức giấc sớm, đứng bên này thành phố vượt tầm mắt qua khỏi bán đảo Bảo Ninh, ta bị mê hoặc bởi vẻ rỡ ràng của ánh ngày đang tới. Những vòm cây ngái ngủ, những mái nhà lô xô được nắng sớm dát vàng và sông rực đỏ như có dòng nham thạch trôi xuống từ mặt trời. Thành phố gương mặt hoàng cung. Ông Nguyễn Quốc Toàn, người suốt cuộc đời gắn bó với những dòng sông và những chiếc cầu khi giải nghĩa về hai từ " Nhật Lệ" đã cho rằng "Nhật Lệ trong trường hợp này là một danh từ kép chỉ một con sông cụ thể ở thành phố Đồng Hới - Quảng Bình. Nó được ghép bởi một danh từ đơn (Nhật) với một danh từ đơn khác (Lệ)"... Để làm sáng tỏ ý kiến này ông Toàn đã tham khảo quyển "Nhật dụng từ điển" của Đài Bắc xuất bản năm 1990, ở mục chữ "Lệ" là danh từ và cho biết thêm: "Tác giả sách dẫn ra một câu thơ của Hồ Thiên Du: Nhật chi lệ bất vô chi chúc giả" nghĩa là "Sự rực rỡ của ánh sáng mặt trời thì không nơi nào là nó không chiếu đến được". Lấy ba chữ đầu "Nhật chi Lệ" và giản ước đi chữ "chi" ta có từ "Nhật Lệ" có nghĩa là Sự rực rỡ của ánh mặt trời".

Người rành Hán học luận giải theo lôgic Hán học, tôi là người duy tình tôi luận giải theo kiểu duy tình. Với tôi, Nhật Lệ là dòng sông huyền sử, dòng sông chát mặn và đắm đuối.

 Trên sông khói sóng...* - ảnh 1

2. Xa quê, tôi nhớ sông thắt ruột. Sông, đó là nơi tôi tha hồ thì thầm những điều mình lo nghĩ mà chẳng sợ lỡ lời. Sông nhẫn nại lắng nghe và âu yếm vỗ về. Những người chuộng yoga rất thích ngồi bên sông. Khi tâm và thân mất quân bình người ta bước ra sông. Làn nước ấy, khoảng trời ấy giúp con người ta giải toả năng lượng bẩn, thu nạp năng lượng sạch, lấy lại tâm an lạc. Phải thế chăng mà người Bảo Ninh làm nhà đều hướng mặt ra sông. "Nhật Lệ, ngay từ đầu nguồn đã là nơi kết tụ và hoà nhập của hai dòng nước đậm đà hương sắc: Một bên Long Đại, ấp ủ khí thiêng của núi rừng, nước non hùng vỹ, kỳ tích giang sơn; một bên Kiến Giang chứa đựng tinh hoa ruộng đồng, làng quê, phong hoá sâu sắc, trù mật, nếp đất văn chương"(**) Với cội nguồn màu mỡ thi hứng và hồn thiêng tích tụ từ khí đất khí trời, Nhật Lệ luôn luôn có sức quyến rũ mãnh liệt các bậc chính nhân quân tử và khách má hồng…

Thế gian đang nôn nả lao về phía trước. Tôi tụt hậu, lạc lõng, tôi bấu vào quá khứ. Rất may trong hành trình đi ngược ấy tôi đã gặp rất nhiều lưu khách bên một dòng sông. Thoảng trong gió giọng thơ của vua Lê Thánh Tông phiêu diêu "Bến chiều đất cát lạnh lùng/ Cồn hoang sương giá gió tung cỏ bồng", của Ngô Thì Nhậm huyền trần "Thuyền đến Ô long đã tối mờ/ Sông ngân trong suốt lớp mây thưa/ Tôi xa muôn dặm muôn cung khuyết/ Chú lái canh ba rộn tiếng hò…". Lại thấy trên đoản lũy Trấn Ninh ngậm ngùi bao dấu đục của thời gian, lồng lộng bóng Nguyễn Du "lâm bồn" những cảm tác để đời "Nhật Lệ trên thành mây mới bốc/ Vừa tan hơi nóng, khí trời trong/ Ngoài thành núi núi đều màu tốt/ Đầu bến cây cây rộn gió lồng/ Tóc bạc quê người già chẳng chết/ Cúc vàng năm ngoái lại đâm bông…". Nguyễn Du đã lấy khung cảnh "cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia" làm cảm hứng để có: "…Buồn trông cửa bể chiều hôm/ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?/ Buồn trông ngọn nước mới sa/ Hoa trôi man mác biết là về đâu?/ Buồn trông nội cỏ dầu dầu/ Chân mây mặt đất một màu xanh xanh/ Buồn trông gió cuốn mặt duềnh/ Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi…". Bóng hồng thướt tha của người đẹp thơ ca Việt Nam Thuý Kiều cũng đã lưu dấu bên bờ Nhật Lệ?!

 

3. Chuyện sông "chắp nhặt dông dài" thế để thấy dòng sông ta đang có mấy ngàn năm qua là sông thơ. Cũng từng binh đao sinh tử, cũng ly biệt cách xa… nhưng thời nào cũng có những người thơ lưu dấu và tiếng thơ được cất lên, thời nào cũng thấp thoáng dáng hình liễu đào soi bóng. Trong không gian mênh mông trời nước vẫn còn đâu đây ảo ảnh mình liễu xương mai nàng Mỵ Ê xinh đẹp, huyền tích dáng kiều Huyền Trân Công chúa cúi đầu tạ từ đất mẹ lên đường làm "Sứ giả" hoà bình, nguyệt thẹn hoa nhường nàng Kiều tài hoa bạc phận đơn chiếc trên lầu Ngưng Bích ngóng vời góc biển …Nhưng Nhật Lệ còn soi bóng những nữ anh hùng.

Năm 1802 luỹ Trấn Ninh và vùng cửa sông Nhật Lệ là chiến địa giữa quan quân nhà Tây Sơn do Đô đốc Bùi Thị Xuân thủ lĩnh với quân Nguyễn Ánh trong cuộc chiến cuối cùng mong cứu vãn vương triều Tây Sơn. Tiếc thay canh bạc đã tàn, vận trời khó đổi, ngọn gió Đông Ngoài đã giúp hạm đội Nam kỳ đánh tan thủy quân Cảnh Thịnh, nên mọi gắng gỏi của Tướng hồng quần- bà Thiếu phó đô đốc trở nên tuyệt vọng. Vậy nhưng trước mặt Nguyễn Ánh bà vẫn tự tin mà rằng "Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc Hà…" Nữ đô đốc đầu tiên nước Việt đã gieo vào đất này hạt mầm tròn căng ngạo nghễ lòng yêu nước. Để rồi thế kỷ 20, Nhật Lệ có Mẹ Suốt “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung/ Gió lay như sóng biển tung trắng bờ…” chèo đò đưa bộ đội sang sông; có mẹ Khíu ngâm mình trong biển chỉ huy đội tàu nữ Minh Khai bám ngư trường đánh cá; có chị Lý vượt mưa bom bão đạn đưa tin sang sông cho bộ đội ta kịp giờ nổ súng; có mẹ Nghèng “sống trong cát, chết vùi trong cát” bền bỉ tô màu cho đồi cát bằng màu xanh dương liễu. Trong linh khí nước trời, bóng họ vẫn còn trong gió trong mưa, trong nắng trong mây. "Sang sông Nhật Lệ một chiều

Con mơ bóng mẹ thân yêu ngày nào

Mái chèo khuấy cả trăng sao

Nắng trưa ướt áo bạc màu sương mai

Đò ngang một chiếc thân gầy

Chở con, chở tháng năm đầy chiến công

Tay chèo vượt mọi bão dông

Đạn bom đâu át tiếng lòng thuỷ chung…

(Mẹ Suốt- Nguyễn Thị Được)

Không biết có phải do bao đời qua, đời nào sông cũng in bóng những người phụ nữ nên một người trai Đồng Hới - người mà mỗi mao mạch chảy trên cơ thể được lọc từ nước sông Nhật Lệ, người chào đời khi sông đã mấy ngàn năm tuổi, giờ tóc anh bạc nhưng sông sẽ mãi xanh, đã dâng trào thi hứng mà có những dòng thơ:

"Nhật Lệ giọt mắt ngày dài thảm lụa

Quanh co đỏng đảnh vắt lên làng

Cho biển bạc đồng xanh

Cho mặn ngọt giao hoà

Nối thuyền bè năm tháng lại qua

Chở nặng tình yêu

Miếng trầu cay chợ Chè, chợ Côộc

Tìm về say chợ Bến cuối năm

Con nước đa mang tưới mát bến bờ

Dâng phù sa nuôi xanh cây lá

Đến mùa đơm hoa ra quả

Nhận về mình khúc lở, khúc bồi

Cả đời sông tắm táp đời người

Tiếng cười vui lăn tròn con sóng

Chảy dài năm tháng chẳng nguôi

Đáy sâu ôm đau buồn lặng lẽ"

(Đồng Hới, Khúc huyền tưởng- Thái Hải)

Trong nhãn quan nhà thơ, sông là hiện thân của người đàn bà từ bi. Có yêu kiều - đỏng đảnh. Có đa mang - chi chút. Có nhẫn nại - hiến dâng. Có niềm đau lắng đọng - nỗi vui dâng trào.

*

Tạ ơn các bậc tiền nhân! Đất nước ta sống hôm nay không chỉ được đánh đổi bằng tuổi trẻ của bao người trai mà còn bằng cả đời xuân của những người phụ nữ. Và cả dòng sông nữa, vẻ diễm kiều của sông, nét thư nhàn của sông và dáng tư dung của sông là của hết thảy những hy sinh ấy. Con người hiện đại hay vô tình. Sống vô tình. Hưởng thụ vô tình. Ai hay sông cũng có hồn vía của sông. Một dòng sông là một bản thể cô độc chảy trên mặt đất nhưng dưới mỗi tầng nước khi xanh khi đỏ kia là chiều dài và bề dày lịch sử. Sáng sáng chiều chiều ai thơ thẩn bên sông, vui hay buồn, cô đơn hay sum họp xin hãy nhớ cho rằng ta đang đối mặt với ký ức, diện kiến với linh hồn của các tao nhân mặc khách. Trước sông, anh hùng thêm khí phách, hồn thơ thêm thanh tao.

Trong hệ thống sông núi Quảng Bình có một cặp sóng đôi non Mâu, biển Lệ: núi Thần Đinh ngang tàng chầu về phương Bắc và sông Nhật Lệ cũng đỏng đảnh chảy lên phía ấy. Có người thơ tán tỉnh kiểu thơ: Sông núi còn tình, mắc chi con người chẳng kết đôi?! Biết thế nhưng tình người ấm lạnh vô chừng, hợp tan bất chợt, còn tình sông núi muôn đời bền vững. Có vậy mới tạo nên đất, nên đồi, nên làng, nên bản… và những nơi ấy sớm sớm, chiều chiều mãi mãi ấm áp nồng cay làn khói bay. Sông và núi đó là nơi hồn người trú ngụ! Vùng văn hoá phía Nam tỉnh, sông Nhật Lệ và núi Thần Đinh là hai bản thể văn hoá, trong đó sông là miền thơ, sông cũng chính là một bài thơ hoàn hảo về ngôn từ và cấu tứ.

Trương Thu Hiền

---------------------

* Ý trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu

** Địa chí Đồng Hới- Nguyễn Tú

*** Theo nhà văn Hoàng Thái Sơn

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác