Trầm tích sông


 

Sông hiến mình cho tất cả.

Đời sau không hề tiếc vơi đầy.

                         (Lời bài hát)

                                                                                                                       

Huế, một ngày gần 30 năm trước, rét mướt và mưa dầm! Chú tôi từ Quảng Trạch gọi điện báo: "Cụ sắp mất, anh ả về gấp!". Ba mẹ vội vàng gồng gánh ba chị em tôi về quê. Xe đò chạy từ Huế lúc xế trưa đến chiều tối thì dừng lại bên bến phà Gianh. Qua phà! Xe to xe nhỏ xếp hàng rồng rắn. Đợi! Đó là một hành động đã được cài đặt sẵn cho tất cả những ai qua lại bến phà này. 3 tiếng đồng hồ sau chúng tôi mới được sang sông. Đó là lần gặp sông Gianh thứ nhất trên hành trình về quê của gia đình tôi. Lần thứ hai chúng tôi chạm trán dòng sông với một chuyến đò. Đò Phù Trịch. 5 tiếng nữa cho một khúc sông. Lúc này đêm đã khuya, bến đò chỉ còn là một bãi bờ hoang vu, gió quăng quật, mưa sắc lạnh xiên thẳng vào mặt, không đau nhưng tê tái buốt giá và một túp lều con con trống huơ hoác của người bán nước. Cả nhà tôi dừng lại bên bến sông. Lặng lẽ. Vô vọng. Bốn phương tám hướng chỉ có đêm và đêm. Màn đêm được gió và mưa quết sánh lại, quánh đặc. Đứng bên bến sông nhìn hút sang bờ bên kia chỉ thấy một màu đen vô tận, không le lói ánh đèn, tịnh vắng âm thanh cuộc sống. Dòng sông có bến mà chẳng có bờ. Ba tôi chỏng lỏn một tiếng "Chờ!". Ba chị em tôi và mẹ nằm úp thìa trên chiếc chõng con ba tôi tìm thấy trong túp lều. Còn ông đứng ngồi không yên, đi lui đi tới liên hồi bên bến sông, thỉnh thoảng lại gửi vào không gian tao tác gió một tiếng gọi xa xăm "Đò ơi...". Mẹ tôi nằm trong lều thở hắt "Ăn cơm cho no mà chờ đò Phù Trịch!" Tất cả bị nuốt vào đêm, lặng im trong giá rét chờ trời sáng. Thế rồi đêm cũng qua, sông đã có bến có bờ và thấp thoáng một con đò đủng đỉnh trôi sang… Mẹ tôi mừng ra mặt. Ba tôi cau có nhìn lung ra mặt sông. Nhưng không kịp nữa …

Sau này mỗi dịp về quê, ba tôi thường đi tàu, kể cả khi phà Gianh đã được thay bằng cầu Gianh và đò Phù Trịch đã được thay bằng phà Phù Trịch. Ba tôi giận dòng sông… Còn tôi, trong đầu óc của một đứa trẻ con ngày ấy, sông Gianh rộng nhất trên quả đất này. Sự thật đó là con sông lớn nhất Quảng Bình. Con sông lịch sử.

Trầm tích sông - ảnh 1

Sông Gianh chảy từ đâu? Từ cao nguyên Côpi vời vời mù sương? Hay từ thăm thẳm lòng sâu sử sách? Lâu nay nhớ sông Gianh ta nhớ đến dòng sông lịch sử. Sông Gianh đó, nhát cắt hằn sâu trên hình hài đất Việt. Sông Gianh đó, nếp đứt gãy đoạn trường trong dằng dặc dặm dài sử nước. Một ngày tôi dừng lại bên bến sông xưa, nơi đã cùng ba mẹ đợi đò về quê chịu tang nội gần ba mươi năm trước, thấy ráng đỏ ban chiều lênh loang trên mặt sóng, dồn đuổi vô hạn vô hồi vào bờ bãi. Ngỡ đó là lớp lớp sóng lịch sử dâng về.

Do sự vô tình của trời đất hay theo ý đồ sắp đặt tạo hoá, sông Gianh nằm vắt ngang dải đất hẹp Quảng Bình. Chính vị trí địa lý này đã đặt lên dòng sông một trọng trách lịch sử dài lâu. Cả gan làm một việc động trời quay ngược bánh xe thời gian sẽ gặp những dòng sông trong một dòng sông: Lùi gần 20 năm gặp sông Gianh hân hoan kết nối đôi bờ bởi một chiếc cầu 9 nhịp yêu kiều, câu ca xưa "Thương em anh cũng muốn ra/ Sợ đường Lệ Thuỷ, sợ phà sông Gianh" chỉ còn trong dĩ vãng.

Lùi gần 40 năm gặp sông Gianh dậy sóng chống Mỹ, oằn mình gánh chịu mưa bom bão đạn, người sông Gianh cùng cả dân tộc ra trận:

"Em là ai?

Hở em có phải

 Người con gái

 Gặp trên bến nào đây: Minh Cầm hay Cảnh Hoá

 Thổ Ngoạ hay Thuận Bài?

Không còn nhớ rõ

 Có phải em, người con gái

 Tuổi mười bảy, mười lăm

Ôm trên người những cành quýt cành cam

 Của vườn mình không tiếc

 Phủ lên thành tàu một áo đẹp nguỵ trang

 Ôi đâu phải cành quýt cành cam

 Em lấy tuổi xanh

Em lấy cả thân mình

 Phủ lên tàu yêu dấu…"

          (Người con gái sông Gianh"- Lưu Trọng Lư)

Lùi hơn 50 năm gặp sông Gianh kiên cường kháng Pháp, dải đất Bình- Trị - Thiên ngập chìm trong khói lửa:

"…Hướng về nam/ Ai đã qua đèo Ngang, đã sang Ba Rền/ Mến dòng sông Gianh, biết danh luỹ Thầy/ Giờ đây lửa cháy ngút trời/ Máu nhuộm đồng xanh/ Ôi đau thương điêu tàn…".

Lùi hơn 200 năm lại gặp thêm một sông Gianh nữa - sông Gianh phòng tuyến thúc nhanh vó ngựa, đưa chân đội quân anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh bạt 3 vạn quân Trịnh, chấm dứt hơn hai thế kỷ Trịnh - Nguyễn phân tranh, thống nhất nước nhà. Lùi gần 400 năm gặp một sông Gianh khác, sông ngậm ngùi trở thành giới tuyến phân chia đất nước sau những cuộc chiến tương tàn huynh đệ Trịnh- Nguyễn. Vốc một ngụm nước sông quê vỗ lên mặt, nếm vị mặn mòi nước mắt và tanh tao mùi xương máu của biết bao đồng bào vô tội, nghe thảng hoặc trong gió tiếng ngựa hý, gươm khua cách nay đã gần tròn 4 thế kỷ. Bài hát "Hờn sông Gianh" của nhạc sỹ Lưu Hữu Phước có đoạn ca từ: "Trên sông chơi vơi, gió đưa hiu hắt xa vời/ Lan theo cơn gió, bấp bênh trôi máu ai pha hồng dòng sông?/ Vang theo hơi gió, tiếng ai khóc thầm trên lưng sóng?/ Thôi nhắc nhở chi khi Nam Bắc đoạn tình, tàn sát sinh linh/ Ôi sông Gianh! Hồn mi than khóc?/ Lòng mi đau đớn? Dòng mi căm hờn/ Vì đâu bao năm Nam Bắc tranh hùng bạo tàn/ Nên nước non đành chịu mờ ám/ Ôi sông Gianh! Lòng mi tủi chăng? Hồn mi hổ chăng? Dạ có buồn chăng?". Lùi gần 600 năm sông Gianh chứng kiến chiến thắng lẫy lừng của quân đội Lê Lợi - Nguyễn Trãi do tướng Lê Hãn chỉ huy cùng nhân dân đôi bờ đánh quân Minh xâm lược; Lùi hơn 900 năm gặp sông Gianh đưa tiễn Lý Thánh Tông, Lý Thường Kiệt vào đánh Chiêm Thành, giành lấy ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh về cho Đại Việt. Đất Quảng Bình chính thức về với Đại Việt từ đó cho đến ngày nay. Bởi vậy sông không chỉ là sông, sông là người "chép sử" trung thành cho cả chiều dài lịch sử, của không chỉ dải đất Quảng Bình mảnh dẻ mà của cả dân tộc Việt Nam cương cường và gan góc.

Từ ngàn ngàn, triệu triệu năm rồi cho đến mãi muôn sau, chưa có tên hay đã có tên, Đại Linh Giang hay sông Gianh, thuộc Đàng Trong hay Đàng Ngoài, của Chiêm Thành hay Đại Việt, dòng chảy miên man, mải miết của sông vẫn cần mẫn đắp bồi hình hài, tích tụ hồn phách và ôm trọn thân phận của những làng quê lành hiền và trù mật. Điều gì đã cho đất sông Gianh, người sông Gianh những phẩm chất trường cửu? Tôi từng nghe: "Những vùng đất nằm trên biên cương đều có sinh lực mạnh mẽ". Chiêm ngắm ở bất kỳ một góc độ nào, một nhãn quan nào, một thời khắc nào sông cũng có những vẻ đẹp riêng biệt. Có lần ai đó ngẫu hứng nêu ra luận điểm "Sông Gianh thuộc giống đực hay giống cái?" Giống cái vì sông nhân hậu và bao dung nhường kia! Giống đực vì sông hoành tráng và kiêu dũng làm vậy! Sai tất! Sông Gianh vừa là mẹ, vừa là cha. Sông Gianh sinh sôi. Sông Gianh nuôi nấng. Không hoa mộng như Hương Giang. Không bi hùng như Thạch Hãn. Không phô phang diễm lệ như Nhật Lệ. Không thôn dã nhu mỳ như Kiến Giang. Sông Gianh đa truân. Sông Gianh đa diện. Sông Gianh đa cảm. Như tâm trạng của một người có cá tính, khi rầm rập vượt thác băng ghềnh chở những hạt phù sa chắt chiu được từ lòng núi về hào hoa đắp bồi cho miền châu thổ bờ xôi ruộng mật, cho cỏ ngọt hoa thơm đôi bờ mỡ màng sức sống. Khi ơ thờ lững thững trôi qua những triền cỏ non xanh mơn man gió hát; khi ấm áp hiền lành ôm quanh thôn mạc an phận, khi sùng sục đau nỗi đau phụ bạc của đất và người. Sông đỡ nâng ấp iu hết thảy. Sông nhấn chìm cuốn phăng hết thảy. Sông Gianh là nôi sinh của cả một vùng đất, một vùng văn hoá.

Từ điểm khởi đầu phát lộ đến nơi thênh thang hoà mình vào biển lớn, sông Gianh đã dâng hiến hết thảy cho đất và đời, cho cây và người. Thế mới có trái vải Lệ Sơn đỏ như ngàn vạn đốm lửa treo đầu núi, con chắt chắt ở ngã ba sông Phù Hoá ngọt ngào bát canh rau vặt buổi trưa hè, triền dâu bãi bắp Châu Hoá, Mai Hoá đôi bờ mướt mát non xanh. Trên thủy trình của sông Gianh chỉ có đoạn chảy qua đất Phù Hoá mới có chắt chắt. Đó là một loài hến nhỏ, chỉ sinh sôi trong môi trường nước lợ. Nhà báo Nguyễn Quang Vinh cho rằng chắt chắt là sản phẩm sau một cuộc truy hoan giữa hai dòng nước. Dòng nước ngọt mảnh mai từ cơn mưa dông đầu mùa chảy từ núi cao xuống và dòng nước mặn cường tráng dào lên từ phía biển, gặp nhau, hoà quyện... dung dưỡng… kết tinh… Con chắt chắt trở thành đặc sản của Phù Hoá: Nhỏ xíu nhưng hàm chứa vị ngọt thanh nước mưa đầu mùa, vị béo ngậy dậy lên từ phù sa, mùi thơm tinh khiết cây trái miền thôn dã. Dòng nước sông Gianh đã cho hồn người sông Gianh thêm mỡ màu và tình người sông Gianh thêm đằm thắm. Đôi má bồ quân, mái tóc óng mượt suôn mềm như nhiễu như tơ của con gái những miền hạ lưu Quảng Văn, Quảng Hải…chẳng phải được nước sông Gianh tắm gội sao?! Trong "Tứ danh hương" tiêu biểu cho vùng văn hoá phía bắc tỉnh là "Sơn, Hà, Cảnh, Thổ" đã có ba địa danh uống chung dòng nước sông Gianh: Lệ Sơn - đất của văn nhân xuất thế; La Hà- đất khoa bảng "Bao giờ hết cát Mỹ Hoà/ Sông Gianh hết nước, La Hà hết quan" và Thổ Ngoạ - làng học, làng nghề.

Tôi là người sông Gianh! Chẳng phải vậy mà tôi thấy sông Gianh đẹp. Ở nhiều góc độ khác nhau: Địa lý, lịch sử, văn hoá và cả kinh tế, sông Gianh đẹp là lẽ đã được tạo hoá mặc định và thế hệ tiếp nối thế hệ người sông Gianh vun đắp. Tôi yêu dòng sông quê tôi! Cũng mặc nhiên như thế cho tất cả nhân sinh đối với quê hương mình. Tuy nhiên có một người yêu quê và tự hào về khúc sông quê đến đắm đuối mê muội, đến thắt ruột thắt gan - anh Nguyễn Bá Tăng, cán bộ cục Thuế Quảng Bình, người quê Quảng Liên- Quảng Trạch. Vào một dịp Quảng Liên đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Nguyễn Bá Tăng dẫn chúng tôi về quê làm phóng sự. Trong rất nhiều câu chuyện nói về quê mình có một đoạn dài anh xưng tụng dòng sông. Nếu gạt bỏ những gì thuộc về ý chí chủ quan của một người yêu quê như máu thịt để đánh giá khách quan thì khúc sông Gianh trôi qua Quảng Liên thật đẹp. Từ đập thuỷ lợi Tiên Lang nhìn xuống, băng tầm mắt qua những thửa ruộng lúa xanh, qua những mái nhà ấm áp làn khói bay, ta sẽ thấy sông Gianh mang gương mặt khác. Dòng sông được mở rộng ra, mặt sông tĩnh lặng xanh ngọc như mặt hồ và những hòn núi nhỏ rải rác gần xa như là một sự bày biện kỳ công của thiên tạo, cũng có hổ ngồi rồng cuộn, cũng có cung vàng điện ngọc…. Nguyễn Bá Tăng nói đó là một góc của vịnh Hạ Long. Và anh kể: Xưa xưa lắm, khi mặt đất này còn là một chốn yên tĩnh và trong lành để quần tiên du lịch, tụ hội rong chơi, khúc sông vòng qua quê anh là nơi các tiên nữ thường trốn ngọc hoàng xuống tắm. Vào một đêm trăng trong, sau khi đã vẫy vùng mây nước, mê đắm cảnh sắc trần gian và mệt nhoài vì đùa giỡn, các nàng ngủ quên không xiêm không áo. Có anh trai làng ngất ngưởng trước vẻ đẹp hư hư thực thực của tiên nữ, của cảnh sắc nước trời, muốn mãi mãi được chiêm ngắm những gì đang hiển hiện trước mặt đã giấu mất xiêm y của các nàng. Tỉnh dậy khi ánh ngày đã bừng sáng, hết đường về trời, bầy tiên nữ đành ở lại với nhân gian và lặn sâu xuống dòng sông ẩn tích. Những đêm rằm, khi trăng đã lồng lộng trên vòm trời họ hiện lên trên sóng nước vẫy vùng. Dân làng thường thấy ẩn hiện trong sương mờ bóng dáng của bầy tiên nữ và nghe trong không gian xa vắng tiếng cười vô ưu của các nàng. Cái tên "Tiên Lang" ra đời từ đó. Nơi quần tiên tụ hội gọi là vũng Tiên Lang. Quảng Liên còn có đập Tiên Lang. Người Quảng Liên được gọi chung là người Tiên Lang. Cũng theo lô gíc ấy, người Quảng Trạch được gọi là người sông Gianh.

"Ơi con sông hiền hoà, dịu dàng an ủi lòng ta/ Ơi con sông thiết tha, chứa chan chung tình sâu nặng/ Sông vỗ về đôi bờ, thì thầm ngày tháng khôn nguôi/ Sông hiến mình cho tất cả, đời sau không hề tiếc vơi đầy…", ngay từ lần đầu tiên được nghe những dòng ca từ tha thiết tình trong bài hát "Chảy đi sông ơi" của nhạc sỹ Phó Đức Phương tôi đã nghĩ về sông Gianh quê mình. Chạm vào sông là chạm vào kỷ niệm. Kỷ niệm của một đời người đã được sinh ra bên sông Gianh, ăn bát cơm con cá sông Gianh, đằm mình trong dòng nước sông Gianh để lớn. Thế nhưng dòng đời cuốn tôi đi, nhiều ngày rồi tôi không được "úp mặt vào sông quê", không được nhìn vào sâu thẳm dòng nước khi ròng khi lớn, khi mang sắc đỏ phù sa, khi biêng biếc da trời. Phải chăng những tầng nước đầy vơi, những sắc màu biến ảo ấy chính là màu kỷ niệm?!

*

Trong đời, những điều bí ẩn thường phát lộ một cách ngẫu nhiên. Trong khi đóng cọc để xây dựng cầu Quảng Hải mấy năm trước, người ta bất ngờ phát hiện ra một cái hang đá vôi nằm sâu 50 mét dưới đáy sông Gianh. Nghe nói thuộc hệ thống hang động hoang mạc kast Phong Nha- Kẻ Bàng. Sự kiện này gây sửng sốt những nhà nghiên cứu địa lý hang động Việt Nam và quốc tế, cả những người yêu quý sông Gianh, tự hào về sông Gianh… Hỡi sông Gianh! Ngoài những huyền tích đã lắng vào dòng sâu, những vẻ đẹp đã kết tinh vào đất đai làng mạc quê nhà, trong lòng "Người" có còn gì bí ẩn ?!

Trương Thu Hiền

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác