Theo dấu người xưa

 

Rằm tháng giêng năm nay là lần thứ ba liên tiếp Huân được cha dẫn đi viếng cội thần Mai. Lần đầu tiên đến đây hồi còn học lớp sáu nó chỉ biết chơi năm-mười với thằng Thiện, con Mai cháu của ông Hai từ đình và ăn heo quay với bánh hỏi rồi về. Lần sau nữa lại nhằm vào ngày cưới của gia đình nên bà Hai và mấy đứa trẻ phải về dưới Thạnh Phú. Không có ai chơi đùa nên Huân phải lót tót theo cha đứng vòng quanh chung với mấy cụ ông cụ bà và các cô chú ngay từ đầu cho đến khi tan lễ.

Thấy người ta cung kính thắp nhang ở đàn xã tắc sau phần phát biểu và trước khi đọc thơ Huân đã lấy làm lạ. Đến chừng thấy các cụ ông cụ bà trịnh trọng vái lạy cây Mai thì Huân chỉ… nhắm mắt làm theo mà chẳng còn biết đầu cua tai nheo ra làm sao cả.

Huân cứ nghĩ rằng cây cỏ thì mình mắc gì phải lạy chúng. Nếu muốn trồng thì trồng, muốn đốn bỏ thì cứ việc đốn bỏ, đâu ai ngăn cấm. Còn cùng lắm nếu như có quá yêu quí chúng thì trồng ở đất nhà mình phải tiện ích hơn không. Chớ ai lại vượt ba bốn chục cây số, thậm chí còn hơn thế nữa chỉ đến đây cốt để lạy cây Mai ba lạy!

Mang suy nghĩ ấy bày tỏ với cha, ông phì cười rồi thong thả kể lại cho Huân nghe một câu chuyện. Chuyện kể rằng:

Đoàn tàu của Mạc Cửu rời vùng Thuận Hóa thấm thoát đã bước sang ngày thứ tám. Biển trời phương Nam lồng lộng gió, lớp lớp sóng xô rào rạt vào mạn tàu. Đang mùa gió Nam, ông cho đoàn tàu đi cặp vào gần bờ hơn. Phương Nam vẫn còn hoang vu lắm, những loài thực vật lạ thi nhau chen chúc mọc trên bờ; những đàn khỉ, heo rừng cùng những đàn chim cò đang thong dong xoãi cánh như ngầm hứa hẹn sự trù phú của vùng đất mới khai sinh.

Bỗng những người đang có mặt trên đoàn tàu nhất loạt ồ lên khi nhìn thấy đàn sếu đầu đỏ bất ngờ xuất hiện bay lượn trên vùng đất rộng che rợp cả khoảng không gian bên trong.

Đoàn tàu dong đi chậm lại theo lệnh Mạc Cửu và họ cùng dõi ngắm nhìn một cảnh tượng như thần tiên, mà họ chỉ được nghe kể lại từ những ngày còn tạm dừng chân ngoài Thuận Hóa: “Ở phủ Sài Mạc (sau gọi là Hà Tiên) thường hay có người tiên hiện ra trên sông…”.

“Người tiên” là đây chăng? Quả là đất lành chim đậu. Không lẽ đây lại là điềm ứng báo cho giấc mộng đêm qua?”. Mạc Cửu tự hỏi. Và ông ngây người, thả hồn mình bay theo đàn sếu đang chao lượn.

Đúng là đêm qua ông đã chiêm bao thấy một bụi Mai trắng to lớn dị thường, lớn hơn cả cây Mai ở Lôi Dương- Quảng Đông, quê hương ông. Dưới bụi Mai ấy luôn có đàn chim đông đúc bay lượn bên trên xếp thành hình những nàng tiên đang múa hát như giúp vui cho một nhóm mấy mươi người, diện mạo khôi ngô đĩnh đạc đang vây quanh chiếc bàn đá bàn bạc việc quân và tranh luận về học thuật.

Ông vụt nảy ra ý định dừng chân lại hẳn nơi này nhưng rồi vội xua tan cái ý nghĩ ấy đi. Vì trước đây không lâu, ông đã thảo một bức thư sai bọn Lý Xã, Trương Cầu dâng lên chúa Nguyễn Phúc Chu xin được cứu giúp và chúa đã vui vẻ chấp thuận lại còn hào phóng phong cho ông chức tổng binh, chỉ định ông về cai quản đất Hà Tiên mất rồi. “Nếu không…”. Ông thầm tiếc rẻ.

Gần đây triều đình Mãn Thanh mục ruỗng đã ra lệnh tróc nã quyết liệt những người trong phong trào “bài Thanh phục Minh” như ông. “Nhưng người Nam thật anh hùng nhân nghĩa. Khi xưa chính những người này- mà lớp hậu duệ của Chu Nguyên Chương, trong đó có đồng liêu của ông, sau này đã dám vô phép gọi là Nam Man- đã từng tha chết cho mười vạn quân Minh qua hội thề Đông Quan. Đến nay họ cũng lại vui vẻ chấp nhận cưu mang mình”. Ông lại trầm ngâm nghĩ ngợi.

Mạc Cửu lập tức cho đoàn tàu dừng lại.

Suốt một buổi đi thám sát, chừng mặt trời vừa quá đỉnh đầu người đội trưởng về tâu lại: “Bẩm tướng quân, ở đây chỉ có vài con lạch nhỏ tàu lớn không thể vào được”. “Thế còn dân tình?”. Mạc Cửu hỏi Trương Cầu, người được giao nhiệm vụ đội trưởng đội thám sát. “Bẩm tổng binh rất thưa thớt, suốt một hai dặm đường mới thấy có vài mái nhà tranh. Suốt một buổi sáng chúng tôi chỉ bắt gặp một nhóm bốn ngư phủ đang phơi lưới trên một cái gò cao, có lẽ là chỗ ban sáng đàn hạc quần tụ. Trông họ có vẻ hiền lành và dễ thân thiện”. Trương Cầu cung kính đáp lời.

Mạc Cửu đảo mắt nhìn dải rừng bên trong như để kiểm tra lại lần nữa báo cáo của người thuộc cấp. Không gian im ắng hoàn toàn, nhưng không hề gợn chút sát khí. Thỉnh thoảng đàn chim rừng thi nhau kêu táo tác rồi bay vút lên trời cao sau hồi âm thanh Hrừm… Hrừm… của chúa sơn lâm.

Đêm xuống tĩnh mịch. Ngoài tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn tàu người ta chỉ còn nghe tiếng rít của gió. Mọi người đang say giấc. Mạc Cửu bấm tay lần đếm rồi bỗng ngước nhìn bầu trời đêm đang chi chít những vì sao tìm kiếm. Kia rồi! Ôi, vì sao Bắc Đẩu xa xôi. Cố hương ơi chắc chẳng bao giờ ta còn có dịp quay về… Tất cả rồi cũng như giấc mộng phù sinh! Ông cầm ly “Hùng phá xà” lần bước đến khoang tàu phía trước… Sương đêm làm ướt đẫm những chiếc lá non của hai cây Mai nhỏ mà ông đã kịp mang theo trước khi rời quê nhà Lôi Dương, bắt đầu cuộc đào thoát. Ông rưới nhẹ nửa ly trà còn lại xuống hai thân cây nhỏ pha những giọt lệ âm thầm.

Thêm một chiếc xuồng cứu nạn nữa được hạ xuống phía bên trong cửa Đại, Mạc Cửu cùng đội thám sát bơi xuồng về hướng con rạch nhỏ. Nê địa đầm lầy với bạt ngàn lau sậy, họ phải vừa men theo đường nước vừa dùng binh khí bạt cỏ cây hai bên bờ để mở đường mà tiến sâu vào bên trong. (Có ngờ đâu sau này người đời đã dựa vào cái tính hiểm trở của vùng đất này mà đặt tên luôn cho dòng kinh- Kinh Chẹt Sậy). Không giấu được nỗi lo sợ, đôi lúc họ phải dùng sào, mái chèo thi nhau đập đùng đùng xuống nước và hô to “tả là… tả là…” để xua đi những con sấu đang bơi chập chờn quanh xuồng.

Mạc Cửu rì rầm khấn nguyện: “Trời cao đất dày chứng giám cho tấm lòng của kẻ mạt tướng này. Nếu có lòng gian ngoa tráo trở xin chịu chết chẳng toàn thây dưới vuốt hùm hàm sấu, còn không xin trời thần cho phép kẻ ngu muội này được bình yên đến đó một lần dù chỉ trong giây lát để tỏ lòng hàm ơn người và đất phương Nam đã rộng lòng dung chứa”.

Khi mặt trời đã lên cao, chừng độ quá giờ thìn đoàn đã trở lại được nơi bến nước dẫn đến cái gò cao ngày hôm qua. Cột xuồng xong, mọi người lục tục kéo nhau lên bờ. Ngoảnh nhìn lại phía dòng kinh thấy đàn sấu đang nằm rải rác đây đó ghếch mõm lên bãi nghé phì phì.

Trên gò cao có ngôi miếu nhỏ dựng bằng cây lá đơn sơ thờ con cọp lông vằn vàng đen. Xung quanh còn vương vất những vỏ bắp, xương cá bên bếp lửa đã được dập tắt tự bao giờ. Giở họa đồ ra, trầm ngâm giây lâu Mạc Cửu cho binh lính đào một cái lổ về phía hữu của ngôi miếu rồi ông đặt cây Mai vào lấp đất lại. “Hoành sơn nhất đái…”(1). Mạc Cửu thầm kêu lên.

Theo dấu người xưa - ảnh 1
Mai trắng (ảnh Internet)

Khấn vái xong ông nói với thuộc hạ: “Ta hi vọng sau này khi lập làng người đời sau đừng quên quay đại môn hướng về cây Bạch Mai này. Được vậy địa linh ở đây ắt sẽ sinh nhân kiệt”. Mọi người gật gù ngẫm ngợi ra chiều đắc ý vì họ tin vào tài phong thủy thuộc vào bậc cao thủ của thầy địa lý Mạc Cửu mà họ đã tin tưởng dốc lòng đi theo mãi đến nơi sơn cùng thủy tận này.

Bạch Mai được khai sinh từ đó. Tính đến nay đã gần ba trăm năm. Bao nhiêu tuổi tưởng như cũng chừng ấy bể dâu của cuộc đời mà Bạch Mai đã từng chứng kiến. Chỉ nửa thế kỷ gần đây thôi Bạch Mai đã ghi đậm bao cuộc chia ly, bao mối tình say đắm ở quanh đây. Còn nhớ những ngày Vệ Quốc xa xôi có chàng trai đã ra đi mãi mãi không về để tinh anh thấm đẫm vào tâm hồn người nhạc sĩ tài hoa vắt cả tim óc qua bao đêm dài bên dòng kinh Chẹt Sậy để dâng tặng cho đời bài Hòn Vọng Phu hoành tráng mà thê thiết… “Nơi phía Nam xa mờ. Ai bế con ngóng chờ. Như nước non xưa tới giờ…”(2). Rồi những cuộc trùng phùng rơi nước mắt. Bạch Mai đã chịu đựng và dung chứa tất cả, kể cả nỗi lòng của người mạc tướng ngoại bang năm xưa.

Còn nhớ vào một đêm tối trời của mùa xuân năm Mậu Thân 1968, từ trong hầm trú ẩn người dân ở đây đã hốt hoảng khi cảm thấy người mình như bị nhấc bổng lên khỏi mặt đất và kèm theo là tiếng nổ kinh thiên động địa của một quả bom cách bụi Bạch Mai chưa đầy ba mươi mét. “Nhưng kỳ lạ chưa!” - Sáng ra người ta trầm trồ - “Ngôi đình và cội Bạch Mai không hề hấn gì cả!”.

Biển vẫn bồi tụ và đất vẫn vươn dài về mãi tận phương Nam. Đến nay biển đã trôi xa lắm rồi.

Rồi thanh bình lại đến như một giấc mơ. Người ta ngạc nhiên với đầy vẻ thán phục. Nhưng không phải là kỳ lạ nữa vì người Việt chưa bao giờ biết giết hại bất kể kẻ nào dưới ngựa. Nhưng không giống như mười vạn quân Minh tiền bối của Mạc Cửu trước đây được Nguyễn Trãi tha mạng, những người lính bại trận năm trăm năm sau được ngồi quây quần dưới cội Bạch Mai lắng nghe những bài học về dân tộc, về lòng yêu nước và kách mạng…

Bạch Mai vẫn nhẫn nại cắm rễ sâu vào trong lòng đất nghe gió réo qua tàn mang theo hương vị nồng ấm của cuộc đời. Mùa nắng oi nồng qua đi, mùa mưa lại tới kéo theo những trận bão bùng, rồi gió chướng lại thổi…Xuân sang. Trời đất phương Nam bao lâu rồi vẫn luôn trôi theo cái nhịp điệu thân quen gần gũi ấy.

Rồi tiết Nguyên Tiêu lại đến, Bạch Mai trổ hoa và người đời lại lũ lượt dắt nhau đến thăm.

Nguyên Tiêu năm nay đến viếng cội thần Mai, Huân đã lớn hơn nhiều. Nó đã biết Bạch Mai không giống như các loài thực vật khác, hễ muốn trồng là được. Cả nước Việt Nam mình dường như chỉ còn duy nhất một mình nó. “Riêng cây Bạch Mai còn lại hôm đó ông Mạc Cửu đem về trồng dưới phủ Sài Mạc sau đó cũng đã chết từ lâu rồi”. Cha Huân nói vậy.

Nhìn cội Bạch Mai và ông hổ thờ trong miếu, Huân bỗng thương cảm lạ lùng. Nó thấy dường như do anh linh của người xưa hòa quyện nên khiến chúng cũng có thần sắc như con người ta vậy. Huân lại bắt chước cha và mọi người thắp nhang ở đàn xã tắc, dưới cội Bạch Mai như mọi năm nhưng lần này nó thành tâm và cung kính hơn trong từng cử chỉ chớ không làm lấy có như trước. Tiến về phía cội Mai với nén nhang trên tay, Huân lại liên tưởng đến cây sao ngoài góc vườn phía bờ rạch do ông cố trồng tự hồi nảo hồi nào. Cây sao nay đã lớn lắm rồi, dễ phải đến hai người ôm mới giáp. Chú bảy Trung chủ trại ghe cứ vô nài nỉ cha Huân hoài nhưng ông nhứt định không bán, ông nói rằng để dành đó cho con cháu mai sau có dịp dùng.

Vụt nhớ tới ngôi miếu nhỏ nằm ngang nhà vỏ ca, Huân đến xin cha thêm ba nén nhang nữa rồi đi về phía ấy. Bên trong miếu ông hổ đang nằm nghiêng quay đầu ra nhìn nó. Huân không còn sợ hãi như hai lần trước mà vừa cắm xong ba nén nhang, tiện tay nó nhón chân rồi vói vào bên trong xoa đầu con vật nói nhỏ: “Ai biểu mày giết hại dân lành làm chi nên người mới giết mày đó thôi. Nhưng người vẫn thương mày lắm, vẫn luôn muốn cùng mày chung sống. Người vẫn giữ nguyên vẹn bộ da cho mày và thờ cúng mày bao lâu nay đó, mày có thấy hôn?”…

Truyện ngắn của Từ Phạm Hồng Hiên

------------------------------

(1) Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

(2) Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác