Những ghi chép của tác giả Bùi Việt Phương

Là một thầy giáo dạy văn vùng cao Hòa Bình nhưng Bùi Việt Phương không hề xa rời đời sống văn học trong nước. Anh là một người chịu khó đi, chịu khó đọc và chịu khó viết. Nhiều bài viết ngắn của anh thu hút được độc giả, có lẽ bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với thực tế. Anh cẩn thận ghi chép những cảm nhận về cuộc sống của mình như những thói quen đánh giá về sự trưởng thành của từng học sinh trong lớp anh dạy. Xin giới thiệu một số ghi chép của Bùi Việt Phương gửi cho Ban biên tập Văn học Quê nhà.

 

Đồng tiền đầu tiên

 

Vậy là mai tôi đã có tiền! Năm nào tôi cũng được tiền mừng tuổi dù chỉ là cầm một lúc rồi đưa mẹ cất đi, mẹ sẽ tiêu gì, tôi không nhớ nữa. Lần nào từ miền Nam ra chú tôi cũng đặt lên cái bàn gỗ chữ U nào là quần áo, kẹo, bánh. Mấy thứ đó còn làm tôi khoái hơn mấy tờ giấy xanh đỏ này. Nhưng, mai thì lại khác, tôi không hay biết sẽ được bao nhiêu vì sẽ là những đồng tiền giấy thơm nức gửi về từ một tờ báo ở đâu đó xa lắm. Chắc là ở bên kia dãy núi chăng. Bố bảo: Có lẽ con sẽ là tác giả nhỏ tuổi nhất của số báo này. Điều đó thì tôi đã biết từ khi bác nhân viên bưu điện mang đến cho tôi. Ngoài đề địa chỉ gửi cho bố nhưng cả nhà đều biết là gửi cho tôi. Trang báo đầy những bài viết mà có đọc tôi cũng không hiểu hết là chuyện gì. Nhiều nhất là ảnh. Báo thời đó còn in đen trắng, ảnh thường in mờ và hay được người đọc cắt riêng dán lên sổ, lên tường nhà. Tôi tìm mãi mới thấy bài thơ bé xíu của mình được đặt phía góc tờ báo. Mà kìa, nó còn được tô điểm bằng mấy bông hoa của chú hoạ sĩ nào đó. Dưới bài thơ là tên tôi được ghi đậm và một dòng chữ: (học sinh lớp 3). Ôi! họ cũng biết cả cái lớp 3 trường làng của tôi nữa sao.

Đến hôm cả nhà nhận được tờ giấy mời lĩnh tiền của bưu điện thì lại thêm một niềm vui khác, tôi sẽ có tiền. Ba nghìn nhuận bút - khoản tiền mà tôi có được đầu tiên trong đời. Từ sáng nay, niềm vui ấy cứ lớn lên mãi trong tôi như người ta tìm thấy 3 kho báu. Hàng loạt những dự định được tôi nghĩ đến. Nhiều lắm, nhiều đến mức không nhớ hết. Bác hàng xóm đã thưởng cho tôi thanh kẹo lạc, quạt cho tôi đỡ nóng và bảo: Phương có tiền, Phương có cho bác vay bác mua cái nón mới không? cái nón cũ của bác gãy hết nan rồi. Tôi vừa nhai kẹo vừa gật gù đồng ý. Đến chiều đi học về, gặp chị ở gần nhà tôi đi xe đạp ở đâu về. Chị chở tôi sau xe đạp và bảo: Cho chị vay để sửa xe nhé. Để chị mua cái chuông xe, lần sau chị em mình đi nó sẽ kêu kính cong. Nhưng rồi lúc sau tôi lại nhớ đến bộ đồ dùng học sinh thật đẹp của Khánh, cái compa sáng loáng và chiếc thước kẻ nhựa trắng tôi lại thích. Rồi, lại cả con gà của thằng Hùng nữa chứ? Một con gà chọi thật oai phong. Lúc ăn cơm, cả nhà ngồi quanh chiếc mâm nhôm đã có nhiều chỗ vênh váo sau mấy bận chuyển nhà. Mẹ bảo: Nhà mình cũng phải sắm một chiếc mâm mới, cái mâm này có úp lồng bàn, gián vẫn bò vào được. Thế là tôi lại nhớ đến ba nghìn ấy. Ba nghìn mà ngày mai đi làm về bố sẽ đạp xe ra bưu điện lĩnh. Con đường bố đi gập ghềnh và nắng. Giá mà bố có một chiếc mũ mới chắc sẽ mát hơn. Cái bàn đạp trên xe của bố cũng bị hỏng mất một bên từ tháng trước… Cứ thế, đầu óc tôi quanh quẩn với muôn dự định, mà không hề có ý loại bỏ một món nào. Tôi thiếp đi trong một giấc mơ có gió mát ngoài khu vườn na đang trổ hoa…

Giờ tôi không còn nhớ ba mẹ tôi đã sử dụng ba nghìn con con ấy của mình vào việc gì. Nhiều khi nhắc lại mẹ tôi chỉ cười. Mẹ cười vì cậu bé lớp 4 của mẹ giờ đã lớn. Nhiều khoản tiền triệu bạc tôi kiếm được rồi cũng biến mất trong những chuyện tiêu pha thường nhật. Nó giúp ta tồn tại, trút bỏ những khó nhọc cần trang trải, cần quên như khi ta tắm, ta rửa xe… Nhưng mỗi khi lại thấy tên mình trên một tờ báo biếu gửi về từ toà soạn, tôi lại hình dung về dòng chữ (học sinh lớp 3) xinh xắn vẫn còn nằm dưới bài tôi viết. Đấy, ba nghìn đồng đầu tiên tôi kiếm được là như thế, nó như một ngọn lửa nhỏ từ que diêm ấm áp tôi giữ trong bàn tay qua bao mùa đông giá. Ba tờ giấy bạc trong tay tôi đã mỉm cười với ba nghìn dự định biến nó thành những việc làm tốt trong cuộc đời này.

 

Một thời phượng vĩ

 

Không biết tự bao giờ sân trường tôi đã có hàng phượng vĩ. Những gốc phượng khẳng khiu lạc giữa cơ man nào là bê tông, cốt thép, cửa kính tường vôi… cứ lầm lũi như thế suốt những tháng ngày đông giá. Trong cái nắng tháng tư hanh vàng, nắng tháng sáu đổ lửa xuống sân trường, tán phượng đơn sơ chỉ đủ làm nên chút bóng mát đơn sơ nhất. Nhìn lên tán cây đang đơm đầy nụ hoa, bác lao công dừng tay chổi:

- Mai mốt lửa phượng bùng lên là ve ngân khắp thành phố đấy cháu ạ. Hạ đang đương thì rồi!

Thế là từ bữa ấy tôi như bị cuốn vào đam mê của mùa hoa thật. Nhìn ra cửa lớp, vẫn những đốm nụ li ti, con ve cánh mỏng chắc vẫn còn ngủ yên trong kén. Những cơn gió cuối xuân hay đầu hạ- nào ai biết- cứ thản nhiên mà ru cành, lá, không một tiếng trả lời. Bất giác, giữa buổi trưa yên tĩnh, chợt thấy thời gian như đang trôi chậm quá. Tiếng thời gian ẩn trong tiếng lá cành xào xạc, thầm thì mà thao thiết. Để rồi đâu đó, chợt vang lên một tiếng trống trường.

Đã gần 20 năm trôi qua tôi mới có dịp trở về đứng bên hàng phượng vĩ. Những thân phương khẳng khiu giờ đã vững trãi hơn, da hằn những vết cửa nắng mưa, sạm màu năm tháng. Sân gạch mờ dấu rêu xưa, mòn từng thớ đất nung một thuở. Cái gì cũng khắc ghi tuổi tác, nôn nao lòng người khách trở về. Tôi ngược nhìn lên. Thật lạ. Những bông phượng vĩ như đang cúi xuống chào tôi. Người khách lạ hay cậu học trò bao năm tha hương khắp chân trời góc bể nay đã trở về. Ôi, chỉ những bông hoa là không có tuổi, tươi nguyên màu lửa phượng hôm nào. Rễ đã bao năm lầm lũi, cành đã một đời khó nhọc để giành cái sức sống tươi nguyên cho những chùm hoa.

Phía sau lưng tôi chợt ồn ào tiếng học trò tan lớp, tiếng trống trường vẫn trầm ấm như buổi hôm nào. Cô nữ sinh có đôi mắt đen hồn nhiên, tà áo dài tinh khôi đang cúi xuống nhặt một cánh phượng vĩ đặt vào lòng bàn tay bé nhỏ. Bông phượng mai này dẫu đã heo khô vẫn ánh sắc hồng trong trang giấy. Quanh bông phượng ấy là những dòng mực tím nhạt nhoà. Nước mắt tuổi học trò trong veo thấm vào trang lưu bút, thấm vào cánh hoa để giữ mãi hồn phượng hồng tươi thuở nào. Và ngoài kia, trong cái tập nấp của người xe, trong cái nhịp mưu sinh hối hả, vô tâm của cuộc đời, là những bông phượng đỏ trên giỏ xe học trò. Người qua đường tò mò ngoái lại, những tà áo trắng cứ bay bay rưng rưng trong nắng hạ. Bàn chân như muốn đạp chậm hơn một guồng quay của những vòng xe “Em chở mùa hè của tôi đi đâu” (1). Mai này mỗi lần qua phố, lại thấy đàn em áo trắng tan trường, em có ngoái lại nhìn phượng vĩ hay vội quay đi nén một giọt nước mắt rơi. Phải thôi em, đứng trước màu hoa ấy, dễ mấy ai cầm lòng được.

Tháng Sáu này trời hạ như xanh cao hơn, nhưng cơn mưa giông bất chợt không làm vơi đi cái nắng như đổ lửa. Bên trong những khung cửa sổ vẫn vang lên tiếng thầy, cô giảng bài. Ngoài sân, ve vẫn ca những nhạc khúc râm ran trên hàng phượng già nua. Sau một mùa hè, tiếng hát sẽ héo đi, con ve khô vỏ gửi hồn phiêu diêu chờ một năm sau lại được hóa thân thành tiếng hát. Những lứa học trò vô tư, tinh nghịch lưu luyến tan trường rồi sẽ chẳng bao giờ trở lại được hình hài xưa cũ. Chân lí đơn sơ ấy chỉ có những người thày thấm thía nhất. Một phút thời gian ngừng trôi, viên phấn kẹp hờ trên tay, đôi mắt bâng khuâng nhìn hàng phượng, lại có thêm một sợi tóc điểm bạc. Đã cất thật sâu tận đáy lòng, đã tiễn bao lứa học trò ra trường mà thầy, cô vẫn không vượt qua được phút bâng khuâng ấy. Bất giác, hình ảnh đó lọt vào đôi mắt người họa sĩ già đứng dưới sân trường. Bàn tay nhăn nheo vội đưa cành cọ, điểm nét bút xuất thần trên toan giấy. Ông là ai? Chính ông đang đi tìm câu trả lời ấy. Trở về đây khi thầy cô đã không ai còn nữa. Họ đã ra đi sau những tháng năm ghi dấu trên thân phượng vĩ. Lứa học trò trong bom đạn ngày nào đã ươm mầm, chăm bón một hàng phượng nhỏ. Trong những tháng năm bom đạn chiến tranh , máu đã đổ trên sân trường này. Một người thầy đã ngã xuống. Bàn tay cầm cây súng trường lúc ấy vẫn còn lấm lem màu phấn trắng. Chiếc áo xanh, dòng máu đỏ, nước da dám nắng… tất cả như vẫn còn nguyên vẹn trong kí ức người học trò đã tuổi xế chiều. Thầy đã hi sinh để bảo vệ bình yên cho bầu trời xanh trong, một khoảng sân trường. Thầy đã không bao giờ được nhìn thấy màu hoa đỏ ấy, màu hoa mà thầy và lứa học sinh đầu tiên đã khó nhọc vun trồng trong lửa đạn. Hôm nay hoa rực màu lửa cháy, còn gợi nhớ màu máu người thày đã đổ. Từng lớp học trò như đàn bướm trắng tung tăng vui cười. Bức chân dung về một người thầy bên khung cửa, xa xa là hàng phượng vĩ đã dần rõ nét. Người họa sĩ già lặng lẽ đi về dưới những tán lá đơn sơ lòng thật nhẹ nhàng. Hình như, trên vòm xanh kia đang có một tiếng thầm thì: Tuổi học trò cũng là một tuổi phượng hồng rực rỡ, hãy cháy hết mình!

-----------------
(1)
Thơ Đỗ Trung Quân

 

Ngày thống nhất nghĩ về mạch nguồn đất nước

 

Phải qua một chuyến xuyên Việt người ta mới thấm thía mảnh đất hình chữ S, nếm trải vị đắng cay, ngọt bùi của sản vật, hoa trái mới thấy hết đất nước mình muôn màu sắc, đáng yêu biết nhường nào. Nhưng bên cạnh đó, sự khác biệt rõ rệt của các vùng miền cũng gợi cái nhức nhối phân tranh, chia cắt thuở nào. Chuyện đàng trong, đàng ngoài, chuyện Bắc Kì, Trung Kì… mà chỉ đến khi “non sông quy về một mối” nỗi đau ấy mới nguôi ngoai. Để rồi mỗi lần sống lại cảm xúc ngày toàn thắng ta lại có dịp ngẫm lại chiêu sâu của hai chữ đất nước của cha ông truyền đời.

Non sông gấm vóc được dệt nên bằng những làng quê chứ không phải những đền đài, thái ấp. Bởi thế cái chân phác của rơm rạ, ruộng đồng, con trâu, cánh cò… trở thành chân đế vững chắc của tình yêu đất nước. Cắt nghĩa về những gì bình dị, đơn sơ nhất bỗng trở thành minh triết:

Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa

Của sông Kinh Thày

Có hương sen thơm

Trong hồ ngát đầy

(Trần Đăng Khoa)

Hạt gạo thành một báu vật bẩm thụ tinh chất của trời đất, của tình người. Làng quê với cái nền móng rơm rạ bỗng trở nên ấm áp nhất, dày dặn nhất như một bầu khí quyển. Và, bỗng dưng, nằm giữa “kén”ấy ta bỗng ngỡ minh sinh ra từ đó, ta như một hạt lúa vàng:

Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm

Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng

Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm

Của những cọng rơm xơ xác gầy gò.

(Nguyễn Duy- Hơi ấm ổ rơm)

Từ cái hạ mình của tầm vóc thi nhân xuống tới đời sống nông nghiệp, ta bỗng nhận ra một điều: Nhìn đất nước từ làng quê chợt thấy nhân dân như những cọng rơm gày mòn, bình dị. Tất cả nhựa sống đều dồn tụ cho những người con ra trận anh hùng như xưa dân làng góp gạo cho Thánh Gióng. Bởi thế mà khi khói lửa chiến tranh tràn tới, làng có cái nền móng, căn cốt để hoá thân thành những chiến luỹ:

Nơi ấy làng ta trở thành chiến luỹ

Lớp mẫu giáo tập bài ca đánh Mỹ

Ngã ba thôn nối lại một đường hào

Trên hố phòng không nhún nhảy nôi chao

Cháu ta ngủ dưới lùm ổi chin

Bên ngọn súng trường đợi giờ lên tiếng

(Hoàng Tố Nguyên)

Không kì vĩ bát ngát như thành ốc, nhưng làng quê vẫn sinh sôi, nhịp sống vẫn không ngừng nghỉ, tình yêu trái gái không đợi ngày im tiếng súng mà vẫn ngạo nghễ, bình thản trong bom đạn. Một khi, tình yêu đôi lứa đã thấm vào tình non sông, tình đất nước sẽ thổi hồn cho tình yêu thêm gắn kết:

Anh yêu em như yêu đất nước

Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần

(Nguyễn Đình Thi)

Biết khổ đấy, mất mát đấy nhưng vẫn yêu, câu thơ viết giữa ngày chiến trận nhưng đã khái quát luôn cả một phẩm chất tốt đẹp của tâm hồn Việt: Cái đẹp luôn vượt thoát qua cái khổ, vẻ đẹp luôn nảy nở từ trong tàn khốc, đau thương “vất vả đau thương”- “tươi thắm vô ngần” như tương khắc mà tương sinh, đối mặt nhau mà vượt qua nhau.

Trong những năm tháng ấy, hạnh phúc thiêng liêng nhưng lại rất giản đơn. Trong những niềm vui nhỏ bé nhất cũng phảng phất tình cảm về Tổ quốc. Từ những phần đất chúng ta giành được- qua lăng kính tiêu điểm- một ngôi làng, ngọn núi, dòng sông… đã hé rạng ánh sáng của tương lai đất nước. Phải là như thế nên khi đọc những dòng này:

Các anh đi

Ngày ấy đã lâu rồi

Xóm làng tôi còn nhớ mãi

Các anh đi

Bao giờ trở lại

Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong

(Hoàng Trung Thông)

Người đọc chợt nhận ra: Một dân tộc mà mỗi người dân bình dị biết tự đồng nhất mình với cuộc kháng chiến thì dân tộc ấy sẽ trường tồn. Hình ảnh về đất nước sẽ là hạt mầm, phôi thai bất diệt.

Sau ngày 30/4/1975, non sông liền một dải, tình yêu đất nước, yêu các dân tộc an em như sợi tơ mỏng manh không đứt trong bom đạn giờ đây có dịp sâu chuỗi, gắn kết các nền văn hoá thành bức hoạ đồ gấm vóc. Sau phút vỡ hoà hạnh phúc, nhiều tháng sau, năm sau (và có lẽ cả đời sau) ngỗi tĩnh tâm ngẫm lại trong ngày thống nhất: Đất nước là gì nhỉ? là “thể cộng đồng siêu làng” (GS Hà Văn Tấn). Phải rồi! Nhưng không phải là phép cộng đơn giản. Đất nước là một chỉnh thể diệu kì. Cắt lớp, phóng đại, nó là một thực thể đầy bí ẩn. Nói thật gọn, thật giản đơn, chợt thấy nó đã thấm vào máu trong huyết quản mà truyền lại cho cháu con ngàn đời:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…

(Nguyễn Khoa Điềm)

Một câu chuyện thật riêng tư đã đủ nói lên cái diệu kì của đất nước. Để rồi mỗi lần hình dung về đất nước ta lại chợt bồi hồi như những rung động đầu đời.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác