Nguyễn Văn Lanh và Lời thề thứ 11

 

(Toquoc)- Dáng mạ mỏng như một chẽn lúa và hiền hơn bóng cò. Mạ ngồi bên đứa con trai của mình, yêu thương đưa ngón tay gầy lần nhổ từng sợi tóc bạc trên đầu anh “Chưa chi đã già!”. Anh cười “Con thì già rồi. Còn mấy thằng bạn con lại không bao giờ già. Bọn hắn ở luôn ngoài đảo…”. Mạ nhìn ra ngõ nhỏ trước nhà “Năm ấy con từ đảo về, nếu không có đôi mắt của con, mạ không còn nhận ra thằng Lanh của mạ nữa. Mới đó mà đã hơn 20 năm… Tóc con bạc cũng phải.”

Tháng 9, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Lanh về quê ở xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh giỗ cha. Anh đã có những ngày ấm áp bên mạ… Tôi được gặp anh trong dịp ấy.

Displaying nguyen Van Lanh.jpg

Thiếu tá Nguyễn Văn Lanh và mẹ
 

Trong các anh hùng LLVTND của quê hương mình đang sống hôm nay, Nguyễn Văn Lanh là người trẻ tuổi nhất. Gặp lần đầu, tôi gọi Nguyễn Văn Lanh bằng anh. Lanh cười “Không! Không! Đừng gọi em là anh. Em còn trẻ mà. Em vừa mới cưới vợ năm ngoái”.

Nguyễn Văn Lanh sinh năm 1966 bên dòng Long Đại. Tuổi thơ anh cơ cực trong tình cảnh chung của đất nước những năm chiến tranh. Khi vừa đủ lớn để hiểu lẽ đời và ý thức được phận sự của một thằng con trai trong gia đình đông con, hết lớp 7 Nguyễn Văn Lanh lặng lẽ xếp bút sách vào rương, ra đồng cùng với mạ lấp hố bom thành ruộng, trồng lúa, ngược thác Tam Lu cùng cha lên rừng đẵn gỗ dựng nhà. Dòng Long Đại nông sâu có khúc, thác Tam Lu lên xuống 3 tầng. Những năm tuổi trẻ lặn lội mưu sinh, Lanh đã quen mấy sải bơi, mấy nhịp chèo. Kể từ khi mở mắt nhìn mặt trời, cuộc đời mỗi con người đã có một lập trình riêng, người ta gọi đó là số phận. Lập trình cuộc đời Lanh đã bắt đầu từ những sải bơi tay dọc dòng Long Đại.

Tháng 8 năm 1985, Nguyễn Văn Lanh nhập ngũ vào Lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam. Ngày 25 tháng 2 năm 1988, đơn vị của anh nhận nhiệm vụ xây dựng công trình phòng thủ tại đảo Gạc Ma. Đảo Gạc Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa, thực chất là một bãi đá san hô, nổi chìm theo con nước. Người ta thường gọi Đá gạc Ma. Năm đó Nguyễn Văn Lanh là trung sĩ, tiểu đội trưởng công binh thuộc đại đội 9, tiểu đoàn 887, trung đoàn 83 Quân chủng Hải quân. Bắt đầu chuyến đi đảo đầu tiên trong đời lính, Nguyễn Văn Lanh viết thư báo tin cho gia đình “...Đơn vị của con đã được lệnh ra xây dựng đảo. Đó là tâm nguyện của những chiến sỹ Hải quân nhân dân Việt Nam. Cha mạ và các anh chị em trong gia đình yên tâm. Con vẫn khỏe và hứa sẽ hết mình thực hiện khát vọng nam nhi phụng sự đất nước”.

Chiếc tàu 604 chở phân đội công binh của Nguyễn Văn Lanh hú ba hồi còi dài chào đất mẹ, hướng ra Đảo. Từ trên boong anh nhìn về dải đất Việt đang mờ xa dần trong tầm mắt. Giữa cảnh trời nước mênh mông bát ngát, anh nhớ về dòng Long Đại xanh ngăn ngắt ở quê mình, thầm hẹn sau chuyến công tác đặc biệt này sẽ về ngụp lặn trong dòng xanh tuổi thơ ấy. Tưởng đang đi về phía bình yên để xây dựng thêm bình yên, Nguyễn Văn Lanh và đồng đội bất ngờ phải dự phần trong một cuộc đối đầu không cân sức giữa Quân đội ta và Quân đội Trung Quốc. Đó là cuộc chiến Gạc Ma. Để tìm hiểu thêm về sự kiện Gạc Ma năm 1988, tôi đã nhờ anh Google trợ giúp và thực sự xúc động khi đọc được những dòng lịch sử ghi lại một cách chi tiết và xem một đoạn clip được tung tự do trên mạng về diễn biến của nó. Những người lính Hải quân Việt Nam không vũ khí, chỉ bằng trái tim nóng hổi và cánh tay cuồn cuộn sức trai kết vào nhau giữ đảo. Phía Trung Quốc, tàu chiến, súng ống lăm lăm. Súng Trung Quốc nổ, từng người lính của chúng ta ngã xuống… Hỏi có trái tim Việt nào bàng quan được?! Trong những vòng xoáy ký ức Nguyễn Văn Lanh, tiếng gọi của người đồng đội- đồng hương, Thiếu úy Trần Văn Phương- Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma luôn luôn vang lên: Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân”. Thiếu úy Trần Văn Phương, người xã Quảng Phúc, huyện Quảng Trạch hy sinh trong trận đánh này và được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân ngay sau đó.

Năm đó tôi 24 tuổi. Ngày 11 tháng 3 đơn vị công binh E83 của bọn tôi lên tàu HQ-604 ra đảo Gạc Ma để thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch CQ-88 (“Chủ Quyền 88”). Cả tàu, ai cũng hăm hở vô cùng. Trường Sa là một cái tên quen mà lạ bởi đây là lần đầu tiên cả phân đội được ra làm nhiệm vụ tại đảo. Được đến đó là niềm mong ước của mỗi người lính Hải quân. Ngày 13 tháng 3, sau gần hai ngày chỉ thấy trời và nước, cả tàu rất vui, có thằng nhảy loi choi sung sướng vì đã nhìn thấy đảo. Đảo là Tổ quốc. Thế nhưng chúng ta vừa đến vị trí đảo Gạc Ma như kế hoạch, thì tàu Trung Quốc cũng ầm ầm lao tới áp sát và dùng loa gọi sang uy hiếp. Mặc cho lính Trung Quốc quần đảo quanh tàu, lực lượng công binh bọn tôi khẩn trương triển khai làm nhiệm vụ, dùng xuồng chuyển vật liệu xây dựng lên đảo còn Lữ đoàn 146 của anh Phương (Trần Văn Phương) cắm cờ và triển khai 4 tổ bảo vệ. Lữ đoàn 146 trực thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân nhận nhiệm vụ phòng thủ quần đảo Trường Sa với mệnh lệnh “bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ cho được vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc”, cũng đi cùng tàu 604 với chúng tôi. Ngay trong đêm 13, rạng ngày 14 phía Trung Quốc điều thêm 2 tàu hộ vệ trang bị pháo 100mm và 4 tàu chiến đấu cỡ lớn đến gây áp lực yêu cầu chúng ta rút khỏi đảo Gạc Ma. Lính công binh chỉ lo xây dựng không có động tĩnh gì về quân sự. Tuy nhiên do Trung Quốc tăng cường lực lượng, nhóm 3 người trong đó có tôi, anh Phương và cậu Tư được cử bơi vào đảo bảo vệ cờ, anh em thủy thủ hình thành tuyến phòng thủ đảo. Thấy không làm lung lay ý chí của bộ đội ta, 6g sáng ngày 14 tháng 3 năm 1988, Hải quân Trung Quốc đổ bộ lên đảo giật cờ. Một trấn chiến đấu giáp la cà và không cân sức diễn ra. Anh Trần Văn Phương làm cột cờ sống bị bắn hy sinh. Tôi lao vào thay anh Phương giữ cờ. Lính Trung Quốc ỷ thế đông và có vũ khí tập trung giằng co lá cờ Tổ Quốc trong tay tôi, cột cờ văng ra xa, tôi quấn cờ vào người không cho chúng nó giật thì bị lê đâm và bắn bị thương... Bộ đội ta không có vũ khí, chỉ biết nắm tay nhau đứng vòng quanh khu vực đảo. Trung Quốc dập pháo tới tấp. Chúng ta hy sinh 64 người, bị Trung Quốc bắt đi 9 người, thương vong rất nhiều. Hình ảnh máu đồng đội đổ đỏ cả mặt biển, đứa bị thương, đứa hy sinh chưa bao giờ nguôi ngoai trong nỗi nhớ của tôi. Cuộc chiến đấu tay không ở Gạc Ma thường xuyên trở về trong giấc ngủ, đau thắt ngực. Ngày ấy tôi bị thương nặng, mấy tiếng đồng hồ sau mới được đưa về đảo Sinh Tồn mổ. Đó là lần duy nhất tôi đặt chân lên một đảo nổi nhưng lại tàn phế mất rồi. Trong đơn vị công bị xây dựng đảo của Lanh ngày ấy có rất nhiều người Quảng Bình. Các anh nhập ngũ một ngày và được biên chế vào một đơn vị...

*

Những tin tức về sự kiện ngày 14 tháng 3 trên bãi cạn Gạc Ma bay về đất liền, về Quảng Bình như một vết dao cứa bất ngờ. Máu cứ âm thầm chảy ra đớn đau nhưng vì đâu không ai biết một cách tường tận. Một người họ hàng trong gia đình Nguyễn Văn Lanh tình cờ nghe được thông tin về các chiến sỹ Hải quân của ta “gặp nạn” qua Đài tiếng nói Việt Nam, rỉ tai nhau “Không biết thằng Lanh nhà mình có hề hấn chi không?”. Mạ là người biết cuối cùng... Nỗi đau cô đặc lại trong ánh mắt. Rồi ngày nắng cũng như ngày mưa, mạ chân chim chạy bộ non chục cây số trên đường sỏi từ nhà ra mé đường 15 ngừa Lanh. Lanh hay đi trên con đường này để về nhà. Thấy bóng mẹ đứng nôn nao cuối đường là anh bắt đầu co giò chạy nhào đến “Mạ! Mạ”. Vậy mà lần này mạ đợi mãi, đợi mãi, 1 ngày... 49 ngày... 100 ngày... như thế mạ đội nón ngừa con như ngày nào mạ ngừa con ngược dòng Long Đại, ngược thác Tam Lu lên rừng đẵn thêm gỗ làm nhà cho mạ trước khi lên đường nhập ngũ. Bóng dáng Lanh chỉ là ảo ảnh trong mắt mẹ “Tưởng hắn về đó rồi nhưng lại không phải hắn”. Bặt tin! Cả nhà quyết định lập ban thờ vọng. Nhưng ngày 101 mạ có tin anh, thằng Lanh của mạ còn sống. Lúc đó Lanh đang được chuyển từ viện quân y này sang viện quân y khác điều trị các vết thương. 1000 ngày sau anh trở về, trả cho mạ một cơ thể mỏng tang. Từ một chàng trai 75kg cơ thể lực lưỡng anh còn lại một nửa. Xót con nhưng mạ không buồn, thằng Lanh của mạ đã nghe lời mạ dặn “...ra đi vì Tổ quốc thì hãy vì Tổ quốc vẹn tròn...”. Chỉ cần Lanh còn trái tim là mạ lại nuôi Lanh lớn. Rồi Lanh lại lên đường...

*

Nguyễn Văn Lanh được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân năm 1989, một năm sau cuộc chiến trên bãi cạn Gạc Ma- Quần đảo Trường Sa xảy ra. Năm ấy anh 24 tuổi. Bởi những thương tích trong trận chiến đấu tay không với quân Trung Quốc 24 năm trước, sức khỏe của anh giảm sút hơn một nửa. Hôm gặp Lanh, tôi bất ngờ vì vóc dáng quá gầy gò của anh. Hiểu ra cái nhìn của tôi, anh nói “Em thế này là ngon lắm rồi đó. Quân chủng rất quan tâm đến sức khỏe của em và tạo điều kiện hết mức để em tham gia công tác”. Hiện nay, Nguyễn Văn Lanh mang quân hàm Thiếu tá, cán bộ thuộc Bộ tư lệnh Binh chủng Hải quân chi nhánh phía Nam. Tôi đọc Lanh nghe một đoạn trong bài thơ Tổ quốc ở Trường Sa của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, đoạn có hình ảnh của anh và Trần Văn Phương:

Khi hy sinh ở đảo đá Gạc Ma

Anh đã lấy ngực mình làm lá chắn

Để một lần Tổ quốc được sinh ra

Máu các anh thấm vào lòng biển thẳm.

Cờ Tổ quốc phất lên trong mưa đạn

Phút cuối cùng đảo đá hóa biên cương

Anh đã lấy thân mình làm cột mốc

Chặn quân thù trên biển đảo quê hương.

Lanh im lặng… đôi mắt xa thẳm. Ngoài trời mưa đang rơi. Dòng Long Đại trước nhà mù mịt khói trời, miệt rừng phía Tây mờ ảo đến vô thực. Lanh nhìn về phía ấy, trong mắt châng lâng nhớ. Anh lái câu chuyện sang hướng khác “Hồi còn ở nhà, tôi rất thích bơi trên dòng Long Đại những ngày mưa. Mạ tôi sợ tôi chết, khóc ầm nhà. Cha tôi “Kệ! Làm thằng con trai phải có dũng khí mới nên. Sống chết có số. Lo chi”. Vậy mà ngày nhận tin tôi “gặp nạn” ở Trường Sa, chưa biết sống chết thế nào, bà lại không khóc. Cắn chặt nỗi đau đợi tôi… Hôm tôi từ Trường Sa về, mạ xuýt xoa nắn bóp khắp con người tôi, cha nhìn tôi rất kỹ “đàn ông đàn ang cần chi béo tốt đẹp mã. Cốt cái ở bên trong”. Tôi đi góc biển chân trời không quên tình thương của mạ tôi, chí khí của cha tôi và lời thề của người lính Hải quân để sống và chiến đấu. Quân đội Nhân dân Việt Nam nói chung có 10 lời thề dành cho Quân nhân, riêng quân chủng Hải quân có thêm lời thề thứ 11 “Chúng ta xin thề trước hương hồn của tổ tiên, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc!”.

Mạ anh nhỏ bé ngồi bên, móm mém cười và ngắm nghía đứa con của mình “Anh hùng một lần chứ không phải anh hùng cả đời đâu. Đang còn sức khoẻ thì phải yên tâm công tác để trở thành anh hùng trọn đời”. Tôi bất ngờ vì lời của người mẹ. Phải chăng vì thế bà mẹ cả đời chỉ quen đi chân đất này mới có được người con anh hùng như Nguyễn Văn Lanh./.

Trương Thu Hiền

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác