Người Thổ Hà - Làng quan họ


 

(Toquoc)- Làng Thổ Hà nằm sát ven sông Cầu, những buổi chiều khi ánh nắng chỉ còn le lói ở tít trời cao, bến sông Thổ Hà hiện lên đầy vẻ yên bình, đầm ấm. Từ những ngôi nhà ẩn sau rặng tre, những làn khói xanh lam bay lên, tỏa ra tận bờ sông. Những chuyến đò từ làng Vạn, Đại Lâm, hữu ngạn sông Cầu lướt nhẹ, cắt ngang dòng nước trong xanh, nhìn thấy đáy, đưa những người con đi làm xa về làng. Trên đò toàn người làng, họ kể với nhau những chuyện trong ngày, những mặt hàng lên giá, xuống giá, người nói, người cười, rôm rả, thỉnh thoảng xen lẫn tiếng thở dài của những người thua lỗ.

Người Thổ Hà - Làng quan họ - ảnh 1
Gốm Thổ Hà đang được phục sinh (ảnh Vov)


Hồi xưa dân Thổ Hà hàng ngày ra sông gánh nước, tắm giặt, trẻ con ba bốn tuổi đã bì bõm tập bơi ở gần sông nước, không thể không biết bơi. Các cụ vẫn nhắc: “Có phúc đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo”. Đàn bà, con gái ra sông tắm, ý tứ đứng gọn về một phía, quần thâm kéo cao quá ngực, vừa tắm vừa chuyện trò, nhiều khi cười rúc rích. Đàn ông thường tắm lùi lên trên, ở phía thượng lưu, họ chỉ chào nhau dăm ba câu, rồi bơi ra mãi tận giữa sông. Còn loại loai choai, ăn chưa no, lo chưa tới, bơi như ếch nhái, đùa nghịch trêu chọc, chửi tục, ngụp lặn khắp bến sông.

Từ xa xưa, làng Thổ Hà chủ yếu là làng chuyên nghề thổ mộc, đàn ông làm cang, làm tiểu, chum vại, đàn bà làm ruộng, đi buôn. Đất nung cang, tên gọi chung các loại đồ nung dân đã dùng ở các làng quê, phải mua từ xa chuyển về. Chiều chiều, những chiếc thuyền không mui đầy đất, tấp nập về bến, đậu kín một bên sông, nhìn từ xa dường như một núi đất nổi trên mặt sông, có lẽ vì thế có tên gọi Thổ Hà. Nếu những khi thuyền về, ở Thổ Hà, sông đầy những thuyền đất thì những chuyến thuyền đi lại đầy những chum vại đỏ hồng, tươi tắn trong ánh nắng ban mai. Trận lụt tháng tám năm bốn mươi lăm, đê sông Cầu vỡ về phía Bắc Ninh, cả một vùng Yên Phong, Võ Giàng, Từ Sơn, Quế Dương đầy nước.

Những chiếc chum, chiếc vại, chĩnh... từ các lò cang Thổ Hà ngập lụt trôi đầy đồng, dạt vào các làng lân cận, mọi người thi nhau bơi ra, kéo về nhà. Thời thịnh vượng, oang Thổ Hà theo dòng nước sông Cầu di khắp nơi, lên ngược, về xuôi, những chiếc chum đỏ au đứng ở góc sân hứng nước từ những chiếc máng bằng thân cau bổ dọc, ở một làng quê Nam Định, những chiếc ang màu da lươn bóng loáng, đựng nước mắm ở Vạn Vân, ở Hải Phòng, Cát Hải những chiếc chĩnh xinh xinh đựng mắm tép, đặt ở giữa sân, chịu đựng nắng mưa, đợi ngày ngấu, những hũ tương thuộc bộ nhị “tương cà gia bản”, dùng cho thợ cày ăn quanh năm, ở các làng quê Bắc Ninh, Bắc Giang đều từ các lò nung Thổ Hà. Thuở ấy, nhà trung khoa, đại khoa ở Thổ Hà mọc lên như nấm, chợ họp cả sáng, cả chiều, hàng thịt, hàng cá, hàng xén, hàng rau.. . đủ cả. Trên bến, dưới thuyền lúc nào cũng đông vui, người đi lại như mắc cửi, tiền vào như nước, các cô gái theo thuyền đi xa, nhưng đêm trăng, xuôi gió, thuận buồm, hát ví, hát đối vang cả trời mây sông nước. Những cô gái làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm, khăn đen mỏ quạ, thắt đáy lưng ong, mỏng mày hay hạt, ăn nói lưu loát làm say đắm biết bao trai tơ các làng bên cạnh. Những chàng trai Thổ Hà ngực trần rộng, nở, bắp tay cuồn cuộn, đội những thúng đất, chạy băng băng trên những ván cầu, bắc từ thuyền lên bờ, chuyền đất cho lò nung, làm cho biết bao cô gái mất ăn mất ngủ, mắt thâm quầng mà nói rằng: “Chàng đi thiếp quyết theo cùng/ Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”. Người con gái Thổ Hà mãnh liệt, mười ba tuổi đã biết đi buôn theo chúng bạn, theo chị theo em, trước khi theo bạn tình. Hội làng Thổ Hà nổi tiếng khắp vùng phần vì ý nghĩ, nghi lễ, phần vì những cô gái đa tình, duyên dáng. Hàng năm, vừa ăn tết xong, cả làng già trẻ, gái trai, đã rậm rịch vào Hội.

Người Thổ Hà - Làng quan họ - ảnh 2

Không khí hội làng Thổ Hà thật sôi động, người xem hội đứng chật ních (ảnh Internet)


Hội làng diễn ra ở một khu vực rộng, gần đình, có đủ các loại trò chơi dân gian của vùng đồng bằng Bắc Bộ: đánh vật, kéo co, cờ người, đánh đu... Đình Thổ Hà được Bộ văn hóa xếp hạng di tích văn hóa, lịch sử từ nhiều năm nay, đình xây theo kiến trúc thời Lê, đao đình uốn cong hình con rồng chầu ngẩng đầu lên, khác hẳn kiến trúc cổ Trung Hoa, sàn bằng gỗ lim, ngày giỗ chạp xếp được cả trăm mâm cỗ. Một lần, cách đây hơn chục năm tôi đi chơi hội Thổ Hà, đã quá trưa vẫn thấy một số cụ già ngồi ở gốc cây đa gần đình làng, tôi đánh bạo hỏi các cụ còn làm gì ở đây, chưa về. Một cụ bà hơn sáu mươi trả lời: “Chúng tôi đợi đông người, hát vài canh quan họ”. Tôi thấy lạ, chao ơi, những cụ già đã gần đất xa trời, răng rụng, móm, vẫn thích hát quan họ kia ư. Khoảng một tiếng sau, ăn xong bữa cơm hội ở nhà người bạn thân, tôi trở lại gốc đa, thấy một đám đông, phần lớn là trẻ em đang xúm xít vây quanh nghe các cụ già hát quan họ. Ôi, lòng say mê nghệ thuật của người dân thật cao cả. Mãi sau này, đọc sách của Ma-sơ-lốp nhà khoa học kinh tế, nói rằng: “Nhu cầu tự thể hiện là nhu cầu cao nhất của con người, cao hơn cả nhu cầu ăn mặc, ở... Người nào cũng có nhu cầu tự thể hiện, sau khi những nhu cầu bản năng của họ đã được thỏa mãn. Các họa sĩ muốn thể hiện tài năng của mình qua các bức tranh. Các nhà văn, nhà thơ thích thể hiện sức sáng tạo của mình qua các tiểu thuyết, các tác phẩm thi ca, nhiều khi họ cần sự nổi tiếng, sự thừa nhận của xã hội hơn cả nhuận bút, họ quan tâm nhiều hơn đến giải thưởng này, danh hiệu kia theo quy luật “một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp”. Ngẫm nghĩ, tôi càng kính phục những bà cụ của làng Thổ Hà. Sau này, gặp ông anh họ ở làng tôi, một làng quan họ chính gốc, cháu nội, cháu ngoại đầy đàn, tôi ngỏ lời muốn rủ vài anh bạn ở Hà Nội về nghe hát quan họ. Anh hỏi tôi: “Các chú định nghe hát bao lâu” - “Độ một đêm”. Ông anh tôi ngúng nguẩy, lắc đầu: “Hát một đêm chua miệng, không bõ. Các chú cứ về đây. Chúng tôi sẽ hát vài ba ngày, vài ba đêm. Đừng lo gì sất. Tôi còn vài tấn gạo. Ngày rượu thịt, đêm cháo gà, được chưa?”. Đó, nỗi say mê của dân quan họ là như thế, đúng như nhận xét của Ma-sơ-lốp.

Ngày nay, Thổ Hà vừa được công nhận là làng quan họ, cùng sinh hoạt với bốn mươi chín làng quan họ Bắc Ninh. Thổ ngơi ấy, con người ấy, quan họ sinh thành, nẩy nở là đúng thôi. Thổ Hà tuy ở bên kia sông Cầu, nhưng cũng giống như làng Vân, về mặt văn hóa, rất gần với phong tục tập quán của các làng thuộc Yên Phong, Võ Giàng của Bắc Ninh. Cỗ ở làng Thổ Hà là cỗ bày trên dàn, mỗi mâm vài chục món, ăn hết lại chuyển xuống, chiếc giò cắt xong, bày ra đĩa người ta thấy có hình chữ “Phúc” hoặc chữ “Song hỉ”, tài thật. Đó cũng chính là cỗ ở Khúc Toại, Đồng Kỵ. Từ Thổ Hà, qua đò, sang làng Vạn, đi vài ba cây số là đến làng tôi, làng Khúc Toại. Không biết từ bao giờ, dân hai làng đã đi lại với nhau. Tôi không biết, nhưng một ông thợ mộc ở rể làng tôi lại biết. Ông vốn là người làng Thổ Hà biết. Ông kể, trong cuốn Địa chí Hà Bắc có viết rằng, làng Khúc Toại từ xa xưa đã sớm biết làm nghề gốm, nhưng đến khi đất làm gốm hết thì một bộ phận cư dân Khúc Toại vượt sông Cầu sang địa phận Thổ Hà hiện nay tiếp tục làm đồ gốm, lập nên làng Thổ Hà. Do vậy, dân làng Thổ Hà hàng năm vẫn cử một đoàn bô lão đem theo xôi gà về góp làm giỗ tổ ở làng Khúc Toại. Trai gái hai làng cũng do vậy vẫn hay đi sang làng nhau mỗi khi làng bên kia có hội và đấy cũng là dịp họ gặp, làm quen, quấn quít lấy nhau, nên vợ nên chồng. Tục lệ này chấm dứt vào những năm đầu cách mạng tháng Tám do những biến động xã hội thời kỳ Việt Minh chống Pháp. Có lẽ, vì những mối quan hệ hội hè, đình đám, giỗ tết ấy mà ông thợ mộc kia mới trở thành rể làng tôi. Và có lẽ cũng chính vì thế mà sau ngày giải phóng miền Nam, sau hơn hai mươi năm xa cách, ông chú tôi ngoài năm mươi tuổi từ Sài-gòn về thăm quê, anh em họ hàng làm mươi, mười lăm mâm, mừng ngày đoàn tụ, một bà cô bấm vai tôi, nói nhỏ: “Cái bà mặt trái xoan nhỏ nhắn, ngồi khuất ở cột kia, ngày xưa chú mày định lấy làm vợ đấy!”. Nói theo ngôn ngữ thanh niên hiện nay thì bà ấy là người tình của chú tôi. Bà ấy khoảng gần năm mươi, người mỏng mày hay hạt, gọn gàng, chưa có vẻ sồ sề của những người phụ nữ đã qua sinh nở. Thấy dáng điệu bà hơi khép nép, dụt dè tôi không dám đến chào và hỏi chuyện. Bây giờ tôi hơi hối hận, không hiểu trong thời gian xa cách ấy, bà vẫn đợi chú tôi hay đã lập gia đình. Chỉ có điều tôi kính phục hai người là thời gian không làm họ quên nhau, không những vậy, họ còn dám công khai đến nhà nhau như thế này, tình yêu của họ phải mãnh liệt, lớn lao vô chừng. Nếu còn gặp chú tôi, tôi sẽ hỏi cơ duyên, gốc gác cô gái Thổ Hà, người tình một thuở của bậc cha, chú. Ôi, cô gái Thổ Hà ngày xưa, tại sao cô không trở thành thím của tôi!

Năm ngoái, về quê vào dịp tết, tôi được nghe câu chuyện thi hát quan họ giữa làng tôi và làng Thổ Hà. Những liền anh, liền chị ở Khúc Toại vốn là những người truyền nghề cho người bên Thổ Hà, quý mến nhau lắm, vừa là tình nghĩa thầy trò, vừa là bạn bè anh em. Trong lần thi hát đối quan họ, say sưa với lời ca tiếng hát, liền anh, liền chị làng Thổ Hà thắng Khúc Toại. Kết quả cuộc thi tài làm cho cả hai phía đều ngẩn ngơ, khó xử, một cô gái quan họ Thổ Hà ôm chầm lấy liền chị Hai Xổ làng Khúc Toại: “Chị ơi, em không định như thế. Em say hát quá. Chị ơi, chị thương em”. Hai chị em ôm nhau mãi. Làng Thổ Hà hiện nay có một dàn quan họ thật tề chỉnh: Lớp trên mười tuổi, lớp trên hai mươi tuổi, lớp trên bốn mươi tuổi, lớp nọ kế tiếp lớp kia, đó là tiêu chuẩn của một làng quan họ.

Tôi trở lại làng Thổ Hà tìm hiểu về sự hưng vong của một làng thủ công truyền thống. Hình bóng của những cô gái khăn đen mỏ quạ, những cảnh tượng thuyền đất, thuyền vôi, thuyền nan, thuyền cang đi lại nhộn nhịp không còn nữa. Đường làng vẫn sâu hun hút giữa hai bờ tường xây bằng tiểu, trong nhà, ngoài đường đầy những dàn tre, dùng để phơi bánh đa mì tráng bằng bột gạo. Bánh đa mì phơi khô rôn rốt vẫn còn độ ẩm nhất định, được đem thái ra thành những sợi dài, nắm thành từng nắm như hình một ống tre ngắn, một chiếc lạt buộc thắt đáy lưng ong xung quanh. Bây giờ, cả làng làm bánh đa mì, nước bột còn dư sau khi xay, tận dụng để nuôi lợn. Loại bánh đa mì này dùng để nấu như một món canh. Ngày xưa, khi chưa có mì ăn liền làm bằng bột mì cùng với bột tôm, cua, thịt gà, món bánh đa mì được xếp vào loại chủ bài trong một bữa ăn thịnh soạn, gần ngang với miến tàu ở vùng đất Kinh Bắc cổ kính. Thảng hoặc nhà có người ốm, nấu bát bánh đa mì với thịt nạc là hảo hạng, yên tâm. Ngoài việc làm bánh đa mì, đàn bà con gái đi buôn khắp Lạng Sơn, Hải Phòng, Móng Cái, Sài Gòn... tiện gì buôn nấy, có lãi là buôn. Không còn ai làm chum, vại, tiểu, chĩnh... Hết rồi hình ảnh những người khênh tiểu sành, chum, vại đi trên đê làng Vạn, làng Đặng trong nắng chiều bảng lảng. Hết rồi những con thuyền đầy chum vại theo dòng sông Cầu giương buồm chạy về Vạn Kiếp, Lục Đầu Giang. Bến đò hoang sơ, những con đò lầm lũi qua sông, thỉnh thoảng mới có một chuyến đò dọc. Phía xa xa, lác đác một vài con thuyền câu cắm sào, đợi nước, vắng vẻ, đìu hiu...

Thổ Hà không chuyển kịp thời thế chăng, không theo kịp cơ chế thị trường ư, khi Nhà nước cho phép bung ra thì làng nghề truyền thống của Thổ Hà mất đi, và chỉ quanh quẩn với những dàn bánh đa mì, bánh đa nem và đi buôn hàng chuyến. Thời vàng son của Thổ Hà đã lùi xa.

Thổ Hà thiếu đất, thiếu than làm chum vại hay sao? Giá thành chuyên chở vật liệu quá cao, hàng bị ế ẩm? Không phải, từ xưa Thổ Hà vẫn phải mua đất từ xa chở về, mua than từ Hòn Gai, Uông Bí. Còn giá cước vận chuyển đất cao? Ta hãy xem làng Bát Tràng, họ cũng không có đất, phải lên tận Sóc Sơn mua chở về, họ cũng không có than, phải mua tận vùng mỏ Quảng Ninh.

Cách đây mấy tuần, tôi cùng vài người bạn Thái Lan sang Bát Tràng mua đồ gốm sứ, đóng đầy một hòm giấy cho lên ô tô: ấm, chén, bát, bình, lọ cắm hoa, cả đĩa in hình phong cảnh, chân dung, tranh nghệ thuật... Họ khen men Bát Tràng loại thì giống men đời Đường, đời Tống, loại thì giống đời Minh bên Trung Quốc. Những hàng giả cổ của Bát Tràng nếu không tinh, dễ bị nhầm là đồ từ đời nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn, những đồ dùng trong nội phủ. Khách Nhật, Pháp khen hàng Bát Tràng đẹp, rẻ. Mỗi ngày, có hàng trăm khách nước ngoài đến thăm, mua sản phẩm.

Thổ Hà có thể học kinh nghiệm của Bát Tràng chăng? Dăm năm trước đây Bát Tràng xấp xỉ như Thổ Hà, nhưng biết đổi mới, Bát Tràng đã trở thành một làng đô thị hóa gần trăm phần trăm, đường xá trải nhựa rộng rãi, nhà cao tầng san sát, khang trang, một số xưởng làm đồ gốm được đặt ngay ở tầng năm, khách thoải mái lên xem, nhìn tận mắt, sờ tận tay, thấy vui mắt họ mua ngay, thịnh vượng lắm.

Phải chăng đồ mai táng hiện nay cũng cần chất lượng cao, những chiếc tiểu sành nặng trình trịch, màu nâu sẫm xỉn kia, cần được cải tiến cho đẹp mắt, cho tương xứng với những chiếc áo quan chạm trổ, sơn nhũ vàng, có lắp một tấm kính ở phần trên mặt người quá cố. Những chiếc giếng khoan ở nông thôn đang làm giảm nhu cầu của chum vại dùng để đựng nước, những hũ đựng tương trở nên không cần thiết bằng những bình nhựa trắng dung tích một vài lít, thế là đủ, không còn ai phải ăn tương, cà đựng hoặc muối suốt năm trong những chiếc hũ sành. Thời đại mới đòi hỏi phải có những bài ca mới. Thổ Hà đã có những cách tân gì để ngành nghề truyền thống khỏi mai một, những câu hỏi chưa có lời đáp.

Gần sát Thổ Hà là làng Vân, chuyên nấu rượu từ xửa, từ xưa, nay vẫn giữ được nghề của cha ông để lại, đã có một số cải tiến, đã cho ra đời một loại rượu gạo, ngon, chất lượng cao, đựng trong những chiếc bình gốm tương đối cầu kỳ, vẽ hình một ông lão quắc thước, tóc bạc, râu dài, tay cầm xích tượng, lấy lại cái tên vua ban ngày xưa: “Vân Hương mỹ tửu”. Nghe nói loại rượu ấy đã xuất khẩu ra nước ngoài, có bán ở sân bay quốc tế Nội Bài, nhưng hình như chưa có thương hiệu quốc tế, chưa thâm nhập sâu vào thị trường ngoài nước. Những đổi mới về chất lượng, mẫu mã chưa làm hài lòng các “thượng đế”. Giả sử những vị vua ngày xưa, đã từng dùng “Vân Hương mỹ tửu” cho những cuộc tình tính tang với các cung tần mỹ nữ, nay sống lại, ta đem “Vân Hương mỹ tửu” dâng lên, chắc nhà vua sẽ lắc đầu, tay chỉ vào những chai Whisky, Napoleon, Johnnie Walker, Black Label, Hennesy, X.O nói rằng: “Trẫm thích “xài” loại kia”. Bài học của làng Vân sẽ bổ ích cho Thổ Hà đổi mới.

Thế đấy, đổi mới một loại rượu, một mặt hàng chum vại, tiểu sành đâu có dễ. Ai chẳng muốn giầu, muốn sang, nhưng làm thế nào đây. Tôi định thu xếp công việc, về ở hẳn Thổ Hà một vài tháng, cùng bà con khôi phục lại nghề gốm, vì tôi khi công tác ở trường đạị học kinh tế, vốn đã đi nghiên cứu ở nhiều làng nghề thủ công mỹ nghệ, cũng đã tích lũy được một số kinh nghiệm. Nhưng tôi chợt nghĩ rằng, Thổ Hà không thiếu người tài. Cuối tháng ba vừa qua, về dự đám cưới ở thị xã Bắc Ninh, gặp một phụ nữ gốc Thổ Hà, chị thuê cả tầng hai cửa hàng bách hóa Bắc Ninh rộng hơn năm trăm mét vuông để kinh doanh áo cưới. Chị cùng chồng sở hữu một hiệu ảnh hiện đại vào loại nhất trong những tỉnh cận kề Hà Nội, tổng đầu tư không dưới mười tỷ. Xa hơn nữa, Thổ Hà đã từng có những bà chủ hãng nước mắm ở Cát Hải, Cát Bà cạnh tranh nghiêng ngửa với hãng Vạn Vân thời Pháp thuộc. Tiềm năng của Thổ Hà ở đâu, ở ngay trong đầu những người dân đang trụ ở quê, hay ở những người con xa xứ, ở cơ chế hay sự hạn hẹp của bản than? Bao giờ Thổ Hà trở lại thời hoàng kim trước đây hay Thổ Hà sẽ chỉ vút lên với những làn điệu dân ca quan họ lúc nào cũng chờ đợi những “người ngoan”, “người ơi, người ở đừng về”. Thật là mông lung. Câu trả lời còn ở phía trước.

Trong tôi giờ đây còn đọng lại kỷ niệm một lần qua bến đò Thổ Hà thời chống Mỹ. Hôm ấy, tôi từ nơi sơ tán Nhã Nam về thăm quê. Mọi khi từ phố Thắng ra bến đò Đông Xuyên đi trên đê phía hữu ngạn sông Cầu, về làng tôi ngon ơ, vì đò to, bến đi dễ. Lần ấy, ngược lại, tôi đạp xe theo đê tả ngạn sông Cầu để được ngắm các làng Trúc, Lát, Vân, Thổ Hà. Bất ngờ hôm đó nước to mà tôi không biết, càng về xuôi nước càng to, sông càng rộng. Về đến làng Vân tôi định sang đò, nhưng chần chừ, hy vọng ở Thổ Hà sông sẽ hẹp hơn. Nhưng không phải, bến song Thổ Hà rất rộng, đối diện với bãi sông phía làng Vạn, nước đã ngập hết, sông trở nên mênh mông hơn và đây là bến chót, không sang, không về nhà được. Chiều đã muộn, không còn đò qua sông, tôi đánh liều vào nhà dân nhờ chở giúp. Một ông già nhanh nhảu nói: “Con cho anh ấy qua sông”. Tôi theo cô gái trạc mười tám đôi mươi bước lên một chiếc thuyền thúng, chiếc xe phượng hoàng xếp ngang hai bờ thuyền, ngay trước mặt tôi. Cô gái chèo ngược thuyền lên phía thượng lưu, tôi ngạc nhiên nói: “Tôi đi sang ngang cơ mà!”. Cô gái cười tủm tỉm: “Phải chèo ngược lên, rồi mới thả xuôi mới cập bến được. Nước chảy xiết lắm!”. Chiếc thuyền chui qua những lùm tre, chòng chành, một ít nước ào vào thuyền, tôi thấy dại vì trót đi phía đê bên này. Ra giữa sông thuyền rơi vào xoáy nước, thuyền nghiêng, một bánh xe đạp ngập trong nước, tôi hét lên: “Đắm!”. Tôi không biết bơi, kinh hoàng nhìn cô gái, mặt tái đi, cô gái cố kìm giữ chiếc sào cho thuyền cân trở lại. May quá, lần ấy chiếc thuyền không đắm, nhưng tôi lại đắm vào trong đôi mắt đen láy của cô gái, dáng người thon thả, mặt trái xoan, hai má lún đồng tiền. Gần đây, có một đêm, nghĩ đến chú tôi, tôi giật mình tự hỏi: “Hay là cô gái kia là con gái người đàn bà ngồi khép nép ở phía sau cột hôm liên hoan mừng chú tôi về thăm quê”.

Những ngày cuối tháng tư, trời bắt đầu vào hạ, nắng đã lên, trời xanh trong, gió nhẹ. Tôi cùng anh bạn dạy ở Đại học Mỹ thuật - Công nghiệp về Thổ Hà, chuẩn bị cho mẹ anh về thăm quê dối già. Mẹ anh là cô gái Thổ Hà xinh đẹp ngày xưa, về làm dâu nhà ông Chánh Khôi làng Vạn, nay đã ngoài tám mươi. Ông Chánh Khôi dòng họ Ngô Bá định cư ở xã Vạn An này đã nhiều đời, có ông Ngô Bá Bình làm chủ tịch huyện Yên Phong sau khi cách mạng tháng Tám thành công. Chi họ Ngô Bá nổi tiếng ở Sài Gòn thời chống Mỹ cũng từ đây mà ra. Người tiêu biểu là bà Ngô Bá Thành, một luật sư thời Sài-gòn chưa giải phóng, hoạt động cho phong trào yêu nước, chống Mỹ trong nội đô, sau ngày thống nhất đất nước đã được bầu làm đại biểu Quốc Hội nhiều khóa. Bà mẹ anh bạn tôi về thăm quê ba ngày, gặp lại được nhiều bà con nội ngoại, lấy làm mãn nguyện lắm, cuối năm đó qua đời vẫn khịp dặn con cháu chôn ở quê.  

Tôi về Thổ Hà hôm ấy cũng còn muốn xem làng văn hóa này đã có những thay đổi ra sao. Rời khỏi con đò chòng chành trên sông nước sông Cầu, lên khu đất rộng gần đình, đã thấy một không khí nhộn nhịp của ngày hội. Những biểu ngữ màu đỏ tươi chăng khắp nơi, cổ động cho ngày bầu cử. Một cán bộ đi vội vã ở sân đình, nói với người dân đang phơi bánh đa mì: “Những thứ này hôm bầu cử là phải dẹp hết”. Một cậu thanh niên đáp lại bằng giọng miền Nam: “Khỏi lo, chú hai à. Hôm đó mọi thứ sẽ sạch banh”. Tại trụ sở Ủy ban, ba bốn thanh niên nam, nữ ngồi lập danh sách cử tri, những trang giấy khổ lớn trải rộng trên bàn. Dân số ở đây biến động dữ lắm, ăn tết xong mọi người kéo nhau đi làm ăn, buôn bán khắp miền đất nước. Họ ghi chép, gạch xóa, hỏi nhau, dáng vẻ đăm chiêu, mệt mỏi, thỉnh thoảng lại ngước mắt nhìn ra xa. Theo chỉ thị của Ủy ban, đây là cuộc bầu cử đầu tiên của thế kỷ 21, các đoàn thể chính trị - xã hội của xã như Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội phụ nữ, Hội nông dân... đều phải góp phần đảm bảo an ninh chính trị, đề cao cảnh giác... xứng đáng là một làng văn hóa của tỉnh.

Thổ Hà hôm nay đã mang dáng dấp của một làng quê đô thị hóa, lên khỏi bến đò, đã thấy ngay những quán thợ may, vải vóc treo la liệt, phần lớn là vải Trung Quốc rẻ tiền, dựng một bộ complê ở đây chỉ mất vài trăm nghìn, những cửa hàng tạp hóa, hàng ăn, quán karaokê nối tiếp nhau, chợ búa họp suốt ngày, thanh niên nam nữ ăn mặc tươm tất, quần bò áo phông đủ cả.

Nhờ anh bạn tôi lân la dò hỏi, tôi đã tìm ra cô gái má lúm đồng tiền, suýt đắm đò cùng với tôi vào năm nước lớn thời chống Mỹ. Năm nay cô gái ấy khoảng bốn mươi, nhưng dáng người còn thon thả, là hạt nhân của đoàn quan họ, cô hát giọng kim, ít người có, vẫn nụ cười tủm tỉm năm nào, đôi mắt đong đưa, lúng liếng... “Lúng liếng là lúng liếng ơi... ”. Tôi không dám nhìn lâu đôi mắt ấy, sợ lại “đắm” lần nữa, vội hỏi sang kế hoạch của liền anh, liền chị Thổ Hà phục vụ cho ngày bầu cử. Cô cho biết lần này tốp quan họ của các cô cùng với các ca sĩ tân cổ giao duyên của xã sẽ quyết làm cho nổi đình đám xứng đáng là làng quan họ. làng văn hóa. Cuối cùng cô nói với chúng tôi: “Hôm ấy chúng em chờ các anh đấy. Đến hẹn lại lên nhé!”. 

Bút ký của Nguyễn Tiến Lộc

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác