Mùa yêu và lễ hội trống thiêng


(Toquoc)- Bụp bùm bum…bum… Roa lữ Giàng ơi!*

Bụp bùm bum…bum… Roa lữ Giàng ơi!

Bụp bùm bum…bum… Roa lữ Giàng ơi!

Ngọn lửa thêm bập bùng dưới ánh trăng mơ.

Nhịp thở hẹn hò trai gái bản gấp gáp làm chung chiêng bờ suối.

Tiếng trống giục trăng lên. Tiếng trống gọi bạn tình bấy nay cách núi trở non lặn lội tìm về một đêm tình ái. Tiếng trống báo mùa yêu. Tôi như say như ngây trong tiếng trống ấy. Không níu giữ điều gì của thực tại ngập ngụa tham vọng hưởng thụ và khoái lạc, tôi thả hồn trôi miên man trong miền trăng sơn cước mong cướp giật được từ đôi mắt sâu thẳm của cô gái bản, đánh cắp được từ nụ cười thật thà của chàng trai bản chút hồn nhiên để hóa giải mọi u uất phồn hoa… Mùa trăng sơn cước Ma Coong và lễ hội trống thiêng đánh thức sinh sôi đưa tôi về miền thanh tịnh.

Đúng vào độ xuân nồng, mọi sinh vật như vừa được bơm tiếp một thứ hóc môn hứng khởi căng tràn khao khát, cũng là lúc tiếng trống của người Ma Coong vang lên. Băng qua màu xanh da diết của vô vàn loài thảo mộc dại vùng rừng nguyên sinh Phong Nha Kẻ Bàng, trôi giữa cung đường 20 lênh đênh sương trắng, tôi đã lên được Cồn Roàng. Bản nhỏ của người Ma Coong hiện ra giữa thung lũng, tinh khôi trong đất trời biên giới. Mùa này con suối Aky trở nên nhu mỳ và trong trẻo. Từ trên dốc cao nhìn về có thể thấy vóc dáng của mấy sơn nữ khỏa mình soi bóng. Cái nhan sắc hồn nhiên đến man dại, khuôn ngực căng nhức, bắp chân nâu giòn gợi thèm muốn tồn sinh trỗi dậy. Chẳng hiểu sao những lần lên núi như thế này đều mang đến cho tôi cảm thức của một kẻ trở về, tự do và tin cậy bước thong dong vào bản như quay gót về nhà. Bản đang vào hội trống thiêng. Trong ngôi nhà sàn củ kỹ dung chứa nhiều bí ẩn của người Ma Coong, chủ đất Đinh Xon nhỏ thó nhưng chân tay bền chắc như một loại dây rừng rất tự nhiên thay xống áo đón khách với nụ cười cởi mở. Rượu thiêng cay nồng. Thịt rừng muối. Và cả một típ xôi nếp nương… Tất cả được Y Hôn bưng ra trên chiếc chõ mây bóng màu năm tháng. Cả căn nhà dậy lên mùi hương của những rẫy nếp chín, mùi nguyên sơ của núi non, sông suối, đất trời miền biên viễn. Rất nhanh, Đinh Xon bốc thịt, nhón xôi bằng đôi tay đen đúa và cáu bẩn mời mọi người ăn. Tôi vô tư đón lấy không chút nghi ngờ bởi chắc chắn tất cả những gì ông ta vừa đưa cho tôi không có chất hủy diệt, kể cả trên đôi tay có thể là nhiều ngày chưa được rửa ráy kia. Văn minh hiện đại tuyệt nhiên không lảng vảng, những mặt người màu mè son phấn trở nên kệch cỡm, vậy cho nên con người và cỏ cây nơi đây cứ thế mà ngạo nghễ sống, không đề phòng và sợ hãi, không bon chen và luồn cúi. Một ngày lang thang trong bản nhỏ của người Ma Coong, hòa nhập thực thụ vào đời sống của đồng bào, uống rượu cần ăn thịt muối, ngồi cời than bên bếp lửa nướng cơm lam, tôi muốn cởi bỏ lớp vỏ bọc phố thị chật ních và ngột ngạt, phủi trơn tâm hồn ham hố của mình để sống thỏa thuê một ngày mà không cần đến ngày mai. Bạn tôi nói “Không thế, em cũng đã giống đồng bào!”. Tôi cười “Nếu được vậy thì đó là sự may của tôi!”

Ngoài kia, lũ trai làng đang hè nhau buộc trống. Sân bản râm ran, có cả cười vui lẫn cáu bẳn, có cả nhẹ nhàng thân thiết lẫn khùng ngộ. Tôi không hiểu ngôn ngữ của người Ma Coong nhưng cảm nhận được niềm hứng khởi của họ trong dọng cười, ánh mắt và sự hiện hữu một cách thật hoàn hảo của chiếc trống đặc biệt. Trống của người Ma Coong không như trống của người Kinh. Thân trống được đẽo gọt nguyên khối từ cây Chi cup già nua trên đỉnh núi. Mặt trống làm bằng da thú dân bản săn bắt được trong năm. Tuyệt nhiên không sử dụng các loại vật liệu hiện đại, mặt trống được neo giữ bằng một loại dây mây ninh nhừ trong nước nóng và nêm chặt bằng những đoạn tre già đẽo nhọn. Trông nó như một quả cầu gai hiền hòa. Theo chủ đất Đinh Xon, thân trống hiện tại đã được cha ông làm từ hơn 30 năm trước. Màu gỗ sẫm lại nhưng thớ gỗ đã vằn lên những đường cong tuổi tác. Này là tháng… Này là năm… Cứ đến mùa trăng tháng giêng, chiếc trống ấy lại tỉnh giấc, kích hoạt sinh sôi….

Mặt trời mọc, rồi mặt trời lặn. Tất cả những hòn lèn cao, núi cao, suối to, suối nhỏ đều có trời. Cầu trời giúp đỡ cho bà con may mắn. Trồng lúa, lúa đày bồ. Trồng ngô, ngô đầy sàn. Nuôi bò, bò đầy chuồng. Dân bản không ốm đau bệnh tật…”. Ngồi trước mâm cúng với đầy đủ sản vật của rừng: Gà, cá, thân đoác, đọt mây, lõi đót non, chuối rừng, nếp rẫy, chủ đất Đinh Xon lầm rầm khấn vái. Ngọn nến sáp ong cuốn tròn vào chiếc bát con cháy hơn nửa hắt một thứ ánh sáng huyền hoặc làm cho gương mặt Đinh Xon ma mỵ không kể xiết. Thứ ánh sáng ấy làm cho lễ cúng thêm phần linh thiêng. Sau lời khấn, Đinh Xon đứng dậy nhún nhảy. Những động tác múa khá đơn giản về điệu thức nhưng cùng với nụ cười thoát xác của ông gợi cho tôi cảm giác bí hiểm. Hình như bị chính nụ cười và điệu múa của Đinh Xon thôi miên, một cô em Nghệ An trắng nõn và tươi xinh đến dự hội vừa kịp sắm một bộ trang phục dân tộc cho hòa hợp khung cảnh cũng đứng ngồi không yên, nhún nhảy liên tù tì và cười như đang lên cơn mê sảng… Sau lễ cúng, hội trống thiêng bắt đầu. Rượu cần được rót trực tiếp từ vò vào cơ thể, chảy tràn ra từng mao mạch, cơ bắp đường gân của trai bản đã căng lên và nóng dậy. Gái bản váy áo khéo khắm khiêu khích theo mỗi đường cong, môi hồng má ửng bị mùi mồ hôi hoang dại của trai bản quyến rũ cũng phập phồng mời gọi.

Chủ đất Đinh Xon ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu con, hút rượu cần và xem trai gái bản đập trống. Ông nói “Mình gìa rồi. Mình không có người yêu nữa. Chỉ có lũ trai gái là còn say tình. Mình thì…say rượu”. Trong cơn men chếnh choáng, Đinh Xon kể tôi nghe cội nguồn của mâm cơm cúng Giàng và cái lễ hội đập trống có 1 không 2 này “Ấy là những ngày xưa lắc lơ, xa lắm, cha mình nói từ năm 1720, có 2 gia đình chạy giặc Chiêm thành mà đến đây trú ngụ. Chốn rừng thiêng nước độc, ốm đau bệnh tật chỉ biết cầu Giàng phù trì ẩm hộ. Một hôm có bà vợ của một gia đình bị đau nặng. Ông chồng không còn cách nào khác là lập ban thờ cúng Giàng. Lễ vật là những thứ kiếm được của rừng và tự tay họ trồng trỉa mà có. Đó là: Con gà, con cá, cây đoác, cây mây, đót non, chuối rừng, nếp rẫy. Thật kỳ diệu là sau lễ cúng bà vợ khỏi hẳn. Từ đó trở đi, trên mâm cúng của người Ma Coong mình luôn luôn phải có những thứ này. Ngày xưa, bản mình nghèo, chẳng có Nhà nước hay bộ đội giúp đỡ như bây giờ. Đồng bào làm được gì ăn nấy… Nghèo lắm! Khổ lắm! Vậy mà vẫn còn bị một con khỉ vàng đến ăn cướp lúa ngô… Để đuổi khỉ, đồng bào mình phải đánh trống, gõ chiêng… Dần dà thành tập tục…”. Tôi hỏi ông về chuyện tình một đêm, ông cười hóm hỉnh và trả lời rất thoáng “Ờ… ờ… thì thức đuổi khỉ… không biết mần chi… Sau ham yêu nhau quá, khỉ lẻn vô ăn hết lúa. Bản mới ra quy định ai ưng chắc phải đuổi được khỉ vàng đã rồi ưng…Vậy nên phải đập thủng trống đã mới được đưa nhau đi…”. Và ông cười rất vang…

Phàm những gì đợi chờ nhiều thì mong ước lắm. Cái lễ hội trống thiêng của người Ma Coong trên đại ngàn sơn cước này cũng khéo bày trò đốt nóng khát khao. Đêm 16 tháng Giêng âm lịch được gọi là “Đêm trời cho”. Gái trai có tình ý, những người tình thất lạc dù đã có vợ có chồng vẫn được quyền yêu một đêm này. Không lòng vòng khách khí, không đưa đãi phỉnh phờ, chỉ cần nhìn ánh mắt là hiểu rồi lặng lẽ theo nhau. Quả là một lễ hội đầy nhân bản. Có lẽ những con người hiện đại cần phải suy ngẫm về lễ hội này để thấy rằng chưa hẳn chúng ta đã là người đi trước…

Bụp bùm bum… bum… Roa lữ Giàng ơi!

Bụp bùm bum… bum… Roa lữ Giàng ơi!

Bụp bùm bum… bum… Roa lữ Giàng ơi!

Tiếng trống dồn dập, hối hả, càng khuya càng có vẻ trở nên phấn khích. Nghe giọng trống có thể biết của trai bản hay gái bản, của người tình già hay vẫn đương xoan. Tuy nhiên trầm buồn hay thỏ thẻ, hùng dũng vang xa hay hổn hển khẽ khàng, tôi vẫn nghe được sự quyện hòa quấn quýt rất riêng tư của từng nhịp trống đôi. Tưởng như đó là khúc dạo đầu cho một cuộc mây mưa…

Trăng 16 mơ màng. Cây cỏ đẫm ướt sương. Những khối núi già hiện ra trầm mặc và bí hiểm trong đêm mờ. Đã có nhiều đôi trai gái không đủ kiên nhẫn chờ phút giây trống thủng lặng lẽ đưa nhau xuống bờ suối cạn. Bóng họ khuất hẳn vào rừng cây.

Roa lữ Giàng ơi!

Roa lữ Giàng ơi!

Roa lữ Giàng ơi!

Trống thủng!

Tôi không còn xác định được cụm từ ấy được vang lên từ đám đập trống giữa sân bản hay vọng về từ bờ suối Aky. Chỉ thấy càng khuya, sân bản càng thưa vắng. Dưới mái tranh, lũ trẻ con mặt mũi tù hì tù hà nghiêng đầu ngủ muồi trên ngực mẹ, mấy ông già bà lão ngồi củ mỉ cù mỳ rít thuốc rê và hút rượu cần. Họ im lặng trong đêm sâu. Có lẽ mỗi người đang nhớ về người tình đã xa của đời mình. Họ cũng đã có những mùa trăng rục mềm bên bờ suối. Lũ con trai đến tuổi cập kê chưa tìm được bạn tình vẫn còn ngất ngư bên những vò rượu cạn. Lễ hội đã dịch chuyển hẳn xuống bờ suối. Thiếu tá biên phòng Trần Minh Lợi đứng như trời trồng giữa sân bản. Tôi hỏi “Tại sao?” Lợi đáp “Em thấy thương những cô gái bản khi nghĩ đến ngày mai của họ!” Tôi hiểu tấm lòng của Lợi. Ngày mai… ngày mai… sẽ có những cặp đôi nên vợ nên chồng. Và những đứa trẻ ra đời. Và… vất vưởng mưu sinh. Nhưng đó là chuyện của ngày mai. Đêm nay hãy cứ vui đi cho ngả nghiêng trời đất.

Bút ký của Trương Thu Hiền

----------------

* Roa lữ Giàng ơi!: Sướng quá Trời ơi.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác