Mưa vẫn trải lòng quê nội

1. Được tin tốp cháu ở Sài Gòn, trong đó có thằng Hiện con trai người anh thứ Năm - Năm Thân - sắp về từ giã bên nội để cùng vợ con đi định cư bên Mỹ khiến ông Hấn không khỏi xúc động, lo lắng.

Giữa lúc một giáo viên sắp về hưu hay buồn chuyện vu vơ, vô cớ, vô tích sự, ông Hấn thường ngồi chờ dứt mưa để nhóm lửa đốt đi những thứ ông muốn thiêu hủy: những sách vở in ấn bằng giấy rơm không còn nhận ra mặt chữ, những tập giáo án soạn thảo cách đây bốn năm năm, sổ sách ghi chép, và có cả thư từ… Chính lúc ấy, lúc ngồi cạnh đống lửa trên lớp cát lấp ven con đường ngoại ô vắng vẻ bỗng bật ra trước mũi que tre trên tay ông Hấn một bức thư của thằng Hiện. Ông giật mình, liền dịch người về phía trước, hất mẩu giấy ra khỏi đống lửa. Ồ, một bức thư! Không ai đi đốt những bức thư? Ông nhủ thầm. Như vừa giành giật với lửa được một vật gì quí giá, ông Hấn vân vê mẩu giấy trên tay, nhẩm đọc.

Thư viết: “Theo gợi ý của chú Út, (mà dường như chú Út muốn biết gia cảnh và việc học hành của con?) chuyện ấy bắt đầu từ ngày ba má con bấm bụng bán chiếc xe Ta-xi, một phương tiện kiếm sống duy nhất của gia đình từ ngày ba con từ dưới quê theo bà cố trôi dạt lên đất Sài Gòn. Từ đó, ba con như người mất hồn, trút hết gánh nặng gia đình lên vai má con. Má bắt đầu tập ngồi chợ trời mua đi bán lại vài mặt hàng khan hiếm. Hậu quả lo toan quay quắt, sau này hồn vía má để đâu đâu? Lúc bấy giờ, Út Tấn còn nhỏ, năm anh em đều kiếm việc làm: Chị Liên bị tật bẩm sinh, đôi chân yếu ớt phải làm thuê bốc vỏ sen cho một Tổ hợp sản xuất hột sen. Thuận lên lớp tám giỏi Pháp văn, làm được bài tập tiếng Pháp phải bỏ học ngang, ngày ngày thân gái đội xịa bánh tiêu bán dạo. Uyên tập ngồi chợ trời với má trước khi nhận đứng bán hoa tươi cho người dì ở đường Nguyễn Trãi. Thằng Hòa nhận làm tạp vụ cho một cơ sở sản xuất loại chai trét ghe, trét xuồng…

Ông Hấn dừng. Ông dừng vì thói quen hay nghẫm nghợi, xét nét trước khi chấm điểm cho tốp học trò của ông. Hãy nhìn thật kỹ vào đôi mắt trẻ thơ mỗi lần người lớn nói về cảnh ngộ, hạnh kiểm, thang điểm từng học kỳ của nó? Trước mắt ông Hấn hiện ra những nét chữ tròn, đứng, dong dải chứa đựng chuyện không vui một thời của thằng cháu sắp gặp ông, giục ông đọc tiếp:

Còn thằng Hiện cháu chú Út suốt trong thời gian học cấp II phổ thông (1976-1979), kéo dài tới cấp III, học một buổi, làm mướn một buổi: Vác mía dưới bến Ba Son. Kéo xe chở hàng dệt chiếu cho Hợp tác xã. Phụ làm lưới kẽm cho một Tổ hợp ở phường Hưng Phú…

Trước tình cảnh đó, sau khi thi tốt nghiệp phổ thông, cùng lúc, con thi vào hai nơi: Cao đẳng Sư phạm - khoa Anh văn - và một trường đào tạo công nhân của nhà máy Việt Thắng chuyên sản xuất vải sợi ở tận Thủ Đức. Học làm công nhân cho nhà máy Việt Thắng đúng ba tháng chuẩn bị làm công nhân có tay nghề thì nhận được tin con đậu vào trường Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.

Học tiếp hay ra làm công nhân là hai sự lựa chọn của con và hết thảy thành viên trong gia đình?Ba con gượng dậy qua một thời gian dài thất nghiệp phụ giúp má chạy gạo, thu xếp việc nhà về quê nội mượn chút đất làm ruộng với hy vọng đám con không bị thất học. Cuối cùng, con quyết học tiếp.

Học tiếp… Nhập học qua một tuần rồi nhưng con còn do dự, cân nhắc “thằng Hiện nên vào trường Cao đẳng Sư phạm hay ra Thủ Đức làm công nhân?”. Đến gần hết tuần lễ thứ hai, con mới chịu cắp sách tới trường.

Từ nhà con ở ngã tư Chánh Hưng - Hưng Phú, qua cầu Chữ Y, rẽ trái xuống hết đường Nguyễn Biểu mới tới trường, dài bốn năm cây số. Vì mặc cảm, mỗi lần tan học, vài đứa không có xe đạp tụi con quặn lòng nhưng cố giả vờ đi chầm chậm chờ cho tốp xe đạp của bạn bè lũ lượt qua mặt, tụi con mới bước hối hả về nhà. Khổ nỗi, mười ba ký gạo nhà trường bán phân phối cho học viên hằng tháng, con phải lúc vác, lúc tha bao gạo lên xuống dốc cầu Chữ Y, men theo đường nhựa về tới nhà, mệt lã người…

Ông Hấn lại dừng. Lần thứ hai, ông Hấn dừng vì dè chừng một cơn mưa theo gió có thể ập tới lúc nào không đoán trước được. Mồ hôi đẫm lưng. Khi đó, ông Hấn vẫn không rời bức thư của thằng Hiện.

 Vẫn nét chữ tròn, đứng, dong dải thưa thiệt với chú Út nhiều chuyện sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm: Hai năm về nguyên quán Tam Bình, Vĩnh Long làm giáo viên. Trong hoàn cảnh khó khăn lúc bấy giờ, giáo viên ba tháng lãnh lương một lần. Ăn ở nhà tập thể bằng cây lá tạm bợ bên cạnh một hố bom to tướng. Không điện. Không có nước máy như ở Sài Gòn. Chịu đựng, vượt qua hai năm dạy học ở vùng sâu, vùng xa, Hiện được điều động về Sài Gòn vừa dạy, vừa phụ giúp gia đình, vừa học lấy Bằng Đại học. Chính khoảng thời gian sáu bảy năm học thêm, Hiện tìm hiểu, yêu thương một người con gái chung lớp chung trường dẫn tới kết hôn. Mãi đến nay, những người thân bên vợ Hiện đã định cư hết bên Mỹ có nhu cầu bức xúc muốn sum hợp gia đình…

Ông Hấn đọc xong, muốn đọc lại nhưng hai tròng kính trắng nhòe nhoẹt nước mưa. Ông bỏ mặc đống lửa đang cháy dở, vội vội, vàng vàng vào nhà. Chưa đọc lại bức thư của thằng cháu, một bức thư mà trước đây vì quá bận rộn lên lớp, hội họp nên chỉ đọc sơ sịa lướt qua, nay đọc kỹ lại, khiến ông Hấn ngỡ ngàng, xa xót.

- Phải Xiếu đó không vậy? Tám Xiếu?... - Ông Hấn cầm ống nói kề sát miệng, hỏi. Lại ngưng. Lắng tai nghe tiếng người từ phía bên kia đầu dây chốc lát, ông lên giọng với thằng cháu dưới quê như ra lịnh:

- Xiếu nghe cậu Út nói đây: Sáng mai hoặc trưa trưa một chút có tốp bà con trên Sài Gòn xuống thăm đó nghe. Ba người gánh cậu Năm Thân. Nhớ không?!

 Ông Út Hấn chưa chịu dừng. Với Tám Xiếu con trai người chị thứ Ba, ông được lòng, ông tin. Là vì lúc nhỏ Xiếu có một dạo quảy thùng cà rem kiếm sống trên đất Sài Gòn. Thứ nữa, hồi ở dưới quê sau ngày giải phóng, biết ông ngoại tham gia suốt thời kháng Pháp sang chống Mỹ, Xiếu phong chức “Thiếu tướng Trần Đăng” cho ộng ngoại. Xiếu còn bảo vệ “Thiếu tướng” và thường dìu “Thiếu tướng” ngồi xuồng sang sông ăn cơm. Tuy nhiên, vốn cẩn trọng và lo bao đồng, ông Hấn không quên căn dặn thằng cháu:

- Con chịu khó sang sông ra mộ ông bà ngoại… Nhớ nói với mấy cháu có mặt tại nhà. Thằng Hiện về kỳ này vừa thăm viếng mộ ông bà nội, vừa từ giã bên nội đi làm ăn xa lắm nghe…

Căn dặn thằng cháu xong vẫn chưa hết việc, ông Hấn còn trèo lên quét dọn gian gác xép bám đầy bụi bặm, bày ra trên sạp ván đủ mùng mền chiếu gối, có cả cái gạt tàn thuốc bằng sành phòng hờ tàn lửa rơi gần chất cháy. Nhà ông Út Hấn bắt đầu chộn rộn khác thường. Ngoài đường, đống lửa đã tắt ngấm. Bầu trời ui ui báo hiệu sắp vỡ ra những đám mưa muộn sau mùng ba tháng mười.

 

2. Mãi cho tới xế dài, tốp cháu Sài Gòn vẫn bặt tăm. Đang sốt ruột chờ chực, một chiếc xe khoảng bốn năm chỗ ngồi, cao dàn, sơn màu đỏ chói đỗ lại bên kia đường. Ông bà Út Hấn chưa kịp mở cổng, bốn đứa đã đáp đất dợm bước qua chỗ chủ nhà đang đứng. Tốp hai đứa: Hiện, Tấn đi te te qua lộ, vào tận sân nhà. Thằng Điểm cùng xe khom người coi sơ qua bốn lốp bánh trước khi dắt bác tài qua lộ.

Vào nhà, bà Út mất biến sau bếp. Ông Hấn ngồi giữa trên bộ ghế mây tiếp tốp cháu mấy khi xuống tới thành phố cuối đất cùng trời. Ngoài bác tài, cả ba đứa không còn lạ gì với ông nhưng ông cứ ngắm nghía sơ qua từng gương mặt: Hiện vẫn ít nói, hay trầm tư, từ tốn như hồi lên chín lên mười tuổi về quê nội tắm sông. Ngược lại, Tấn “xe tăng” cao lớn, dềnh dàng, nói năng hoạt bát, hồn nhiên. (Tấn thành danh “Tấn xe tăng” vì Út Tấn thi hành xong nghĩa vụ quân sự từ lò đào tạo thuộc binh chủng xe tăng). Thằng Điểm chồng con Thuận đứa giỏi Pháp văn dáng cao ráo, khỏe khoắn ra vẻ người đã vượt qua khúc quanh đời sống, có thêm phương tiện xe bốn bánh vào ra Vũng Tàu thu mua thủy hải sản.

Khối chuyện nhà, chuyện đời, chuyện thời tám hoánh tự nhiên vỡ ra… Chốc chốc, tiếng cánh cổng khép, mở ken két báo hiệu có người bà con lần lượt kéo tới gặp khách Sài Gòn. Không đủ chỗ ngồi nên phải chuyển người từ trên bộ ghế mây xuống nền gạch.

Loay hoay một chỗ hồi lâu, chợt nhớ, ông Hấn nhắc hờ tốp cháu để ý dòm chừng chiếc xe đỏ đậu bên kia vệ đường. Ông nhắc nhở vì để ý không thấy có đứa nào mang hành lý xuống xe. Nghe vậy, Hiện ngẩn người mở tròn hai mắt nhìn thằng em rể.

Điểm áy náy lên tiếng:

- Thưa chú Út, đồ đạc tụi con gởi hết bên Hải Châu. Tiện có chỗ gởi xe, tụi con đã thuê khách sạn…

- Cà Mau có khách sạn Hải Châu? - Ông Hấn ngạc nhiên hỏi.

Điểm thiệt thà phân bua:

- Mấy năm trước, Công ty chỗ con làm có người xuống đây quan hệ mua tôm. Hồi ấy, Hải Châu chỉ là nhà trọ nằm ngang Siêu thị, nay lên khách sạn. Sợ bận rộn chú thím Út…

Điểm dừng. Hiện ngồi thừ ra, không nói. Kế đến bữa cơm tối thêm một lần lắng lại vì ông bà Út Hấn ngỡ ra khách Sài Gòn có người ăn chay - thằng Hiện ăn chay tháng vì lời vái van Phật độ. Đến lúc ông bà Út Hấn ngồi ngậm tăm nhìn mấy món ăn bày biện ra trước mặt, có cả mớ tôm càng đặc sản của thằng cháu hành nghề sửa chữa xe hon-đa góp vào.

Thế là nhiều việc chuẩn bị tiếp khách của vợ chồng ông Út Hấn bị đảo lộn, chưa kể gian gác xép với chiếu gối mùng mền, cái gạt tàn thuốc bằng sành đêm nay nghỉ không.

Mà thật vậy. Ăn uống, chuyện trò qua quít, tốp cháu Sài Gòn lật đật về thẳng khách sạn. Tốp ở tại chỗ không mấy chốc tan theo. Ngôi nhà cấp bốn của thầy giáo Hấn trở lại trống vắng như thường ngày.

Sáng sớm hôm sau, mưa… Những cơn mưa dai dẳng làm nước dâng lên đọng vũng ở vài ngã ba, ngã tư giữa lòng thành phố cuối nước. Đi ăn sáng, mắc mưa. Cánh thằng Điểm lên xe bốn bánh vượt bùn sình đi trước. Tấn xe tăng thích cỡi hon-đa đội mưa ngắm cảnh đường về quê nội, đi sau. Sau nốt, Hiện muốn đi cùng chú Út bằng đường sông nước.

Chiều theo ý thằng Hiện, ông Hấn dắt cháu xuống bến tàu A dành cho các loại phương tiện đường thủy về ba huyện giáp tuyến rừng U Minh Hạ.

Bến tàu đây rồi, cớ sao hôm nay trống vắng đến không tưởng? Hỏi ra mới biết mình lẩm ca lẩm cẩm: Bến tàu đã dời xuống miệt dưới kia hồi nào, ông Hấn không hay! Lỡ đà, ông Hấn nhận ra người quen, lại là một bạn học thời niên thiếu, liền day sang nắm hai mẹ con lái chiếc xuồng be mười gắn máy Kô-le bốn mã lực. Xuồng chở vài bao thức ăn cho tôm, nổi hêu, dư sức chở người quá giang về tới Đường Cuốc ngang vàm Rạch Cui, coi như tới chỗ.

Qua khỏi khúc kinh xáng dài tăm tắp, nhà cửa ken dày hai bên bờ, xuồng đổ ra ngã ba sông lớn, rẽ trái, xuôi về hướng biển. Thằng Hiện nhìn sông lom lom, khẽ hỏi:

- Hồi gia đình mình tản cư, có mặt ba con, phải đi theo đường này không vậy chú Út?

Ông Hấn chậm rãi đáp:

- Ừa, đường này… Điểm xuất phát Sa Co, Tường Lộc chỗ trong bức thư con có nhắc, theo kinh xáng Trà Luộc, lòng vòng qua vài khúc sông lớn, tới Cần Thơ. Với mấy khạp nước ngọt Cả Côn bà nội trữ theo ghe, bắt nhánh kinh xáng Phụng Hiệp, đổ xuống…

Vẫn chuyện tản cư, ông Hấn tiếp:

- Bác Tư Thiết chèo lái, Năm Thân ba con chèo mũi. Tư Thiết, Năm Thân đóng vai trụ cột cảnh màn trời chiếu nước cho tới con sông Ông Đốc này.

Ông Hấn dừng vì mấy cơn gió mạnh thổi ngược trong lúc ngoài trời vẫn đổ mưa. Sông loang loáng một vệt trắng nhờ, chảy nhẹ, nhấp nhô ngàn lượn sóng vỗ ì oạp giữa hai bờ lá dừa nước xanh ngăn ngắt, thăm thẳm.

Như có một giáo án soạn sẵn trước khi đi, ông Hấn ngồi lắc lư theo nhịp sóng vừa nhấn nhá từng chuyện cho thằng cháu nghe. Nhiều nhất, chuyện tản cư, chuyện phận người trôi giạt, lênh đênh trên sông nước. Nhưng rồi không lâu, câu chuyện bị cắt ngang đột ngột khi chiếc be mười rẽ vào vàm Rạch Cui trước khi quay về bến đậu Đường Cuốc phía bên kia sông lớn.

Lần ra khỏi tấm tăng che mưa, ông Hấn đứng rung rinh trước mũi xuồng. Thay vì nói lời cám ơn, ông Hấn lên giọng thân tình hẹn với người đàn bà chủ xuồng và cô gái lái máy chắc chắn rằng ông sẽ ghé thăm nền trường cũ khi có dịp. Còn thằng Hiện nấn ná hồi lâu trên vực đất nhìn chiếc be mười đen trủi không dứt tiếng máy nổ bì bà bì bạch trong mưa và nhìn sông đăm đắm…

 Mưa vẫn trải lòng quê nội - ảnh 1


3.
Khác hẳn nhiều lần về thăm quê trước đây, lần này, ông Hấn có thêm niềm vui nho nhỏ, quí báu, vì ông có dắt theo tốp cháu ở xa tí mú về thăm quê nội. Tưởng đâu miếng thổ cư nhỏ nhắn, già cỗi với mấy ngọn dừa lão ngó trật ót, vài cây ổi, cây xoài chìm trong sự dửng dưng, vô cảm của con người? Không. Nay đã khác. Hoàn toàn khác. Ông nghĩ.

- Chào hết khách Sài Gòn nghe… Tôi bận chuẩn bị lo cơm nước cho khách đây… chút nữa gặp nghe - Tiếng Tám Xiếu từ bên kia con rạch nhỏ vọng sang bên này - Xiếu đứng trên vực đất do chiếc xáng mới vừa cạp đổ lên, tiếp - Các người anh em xuống tới đây động lòng trời! Mưa mút chỉ. Thấy không? Thấy xứ khỉ ho cò gáy này lên đời không?

Giọng Xiếu oang oang, vừa chân tình pha chút kiêu hảnh ý muốn nói thêm rằng: Mấy người anh em làm chủ xe bốn bánh. Tám Xiếu làm chủ vuông tôm chớ bở đâu!?

Ông Hấn tự dưng hởi lòng, hởi dạ. Thầy giáo Hấn vui vì ngó thấy gần đủ mặt các cô, chú, anh em bà con chú bác với tốp cháu Sài Gòn lần lượt kéo tới mảnh vườn xa hoang vắng. Ông Hấn vui còn vì lẽ trước mặt khu mộ xuất hiện một chiếc xe bốn bánh sơn màu đỏ chói và lủ khủ xe hon-đa..

Đi giữa tốp cháu Sài Gòn, ông Hấn bước những bước chậm chạp ra khu mộ. Đường ra khu mộ phải đi lòng vòng qua vài mô đất nhơ nhớp sình bùn do mặt đất vốn đã thấp phải hứng chịu dồn dập những cơn mưa như trút nước. Nước lên mấp mé tới vài gốc cây ổi còn sót lại sau khi sửa sang nhà mộ. Bày ra trước mắt đàn chim trao trảo vài trái ổi chín muộn, thơm lừng. Tiếng chim trao trảo nghe càng thêm rối rít.

Tấn xe tăng xăng xốm hơn ai hết, cởi giày, đi chân không. Điểm dìu mấy cô luống tuổi hàng cô vợ qua vũng nước gần cây mít quỳ, có cả ông anh vợ yếu đuối - anh Hiện - cùng ngồi chung xe từ Sài Gòn đổ xuống tới đây.

Hiện từ tốn, chẫm rãi, tay cầm mấy nén nhang bước thẳng tới bức vách xây gạch gắn ảnh ông bà nội. Hai tay Hiện run run. Vài sợi khói ngoằn nghoèo vương vương trước mặt. Mùi nhang thơm phảng phất, lan tỏa ra tới những vòm lá xanh lao xao. Hiện ngập ngừng…Một lúc lâu, Hiện đứng yên khấn vái. Không thành lời. Gương mặt ưu tư, đượm buồn như thầm nói mai mốt Hiện định cư nơi đất lạ, cách biển cách sông biết có về thăm quê nội được một lần nữa không?!

Quê nội: Tấn xe tăng chờ ngớt mưa tới đứng chụp ảnh dưới tàn cây ổi quỳ. Điểm đứng chụp ảnh buộc phía sau lưng nổi lên hình mấy cây dừa lão nơi trong chiến tranh có cái hầm bí mật giống hang cá trê của chú Út. Hiện đứng loay hoay trên khoảng sân ngập ngụa nước mưa khẽ nhắc cha dành mấy năm về đây làm ruộng. Đó là những năm chế Liên bốc vỏ hạt sen, con Thuận thôi học đội sàng bánh tiêu bán dạo, thằng Hòa thích tắm sông, lội đồng đòi theo cha về nội. Hai ba mùa gặt hái, lúc chưa có máy cày, máy xới, lúa quê nội trổ cờ, thất trắng tiễn hai cha con mang mình không trở về Sài Gòn!...

Tám Xiếu xuất hiện. Một chiếc phà tuốt lúa không rõ từ đâu tới cập bến giáp ranh trước mặt nhà bác Tư Thiết của tốp cháu Sài Gòn. Mưa… Từ một bến nước rộng dài bên này, phà thả nổi qua phía bên kia nhà Tám Xiếu bằng cây sào tre trong tay thằng cháu chống choãi sau lái.

Chủ vuông tôm Tám Xiếu khác xa thời bảo vệ “Thiếu tướng” Trần Đăng: Da nâu, tay chân đen sạm hiện rõ nét phong trần, dày dạn nhưng Tám vẫn giữ y nguyên tính xởi lởi, rời rộng, biết bà con xa, gần.

- Gấp quá, chạy rã chân kiếm chưa thấy món ăn nào lạ đãi khách. Nhưng Xiếu này bị cụt hứng vì nghe cậu Út nói chú Hiện trong tháng ăn chay! - Chủ nhà lên tiếng.

- Đừng lo - Hiện phân bua, vừa chỉ tay về phía khách ngồi chật nhà.

Tám Xiếu nổi bật vai chủ hao hao cái nền nhà mới nổi lên cao nghệu, ngồi như ngồi trên cái gò nổi cao nhất xóm chờ lún trước khi lót gạch bông. Một mình Tám Xiếu uống trót một ly rượu lấy thế chủ nhà, mặt mày ửng lên màu mận chín. Hiện ăn chay chấm mút món tương chao với mớ rau cải nghe xót xa trong ruột mỗi lần có chút rượu vào. Vừa ăn cơm, vừa xoay qua mấy vòng rượu đế, cuộc tiệc bỗng trở nên xôm tụ, thâm tình.

Tám Xiếu ghim chuyện bề chìm quê ngoại. Nhìn Hiện, Xiếu tự nhiên nhắc:

- Chú Hiện với anh em mình biết không, hồi trước giải phóng đó hả, tụi mình dễ gì gặp nhau thế này? Sáng sớm mới mở mắt đã nghe tiếng súng nhoi trời phía trên, phải chạy lánh miệt dưới; trực thăng đổ quân chắn hết mấy cửa rừng, phải vượt sông lớn sang bên kia; trời đánh tránh bữa ăn nhưng bom tấn, pháo bầy của Mỹ chẳng chừa một ai cả. Đêm ngủ không yên…

Xiếu vẫn dán mắt vào tốp khách Sài Gòn, càng ra vẻ người từng nằm bờ ngủ bụi trong chiến tranh, nhắc tiếp:

- Dân xứ này còn sống đây coi như sống sót. Tiền Hung hậu Kiết mà. Hồi trước khổ, nay sướng: được đi cầu đúc, nấu cơm nồi điện. Bước ra đường nhựa lên xe buýt vừa túi tiền. Xuống bến sông đón tàu cao tốc phóng nhanh…

Tám Xiếu chưa chịu thôi. Vẫn dán mắt vào đám đông, Xiếu tiếp:

- Ở Sài Gòn có cái gì, ở đây có cái nấy. Biết cả Giải bóng đá ngoại hạng Anh, thằng Chen-xi tuột dốc để đội bóng khó ưa leo lên đầu bảng đó nghe…

Tám Xiếu dẫn chuyện càng về sau càng sinh động, vui nhộn. Thêm rượu vào, lời ra giữa lúc ngoài trời mưa vẫn không ngớt hạt. Quang cảnh xóm vắng, rạch vắng, đường vắng, những hạt mưa rơi nghe nhẹ tênh, thánh thoát. Tiếng rì rào của mưa gió như dội lên từ phía bến nước, mặt sông.

Tấn xe tăng chịu chơi cưa hai cốc rượu, hoạt bát, lịch lãm vượt trội tốp khách Sài Gòn. Điểm dè chừng, giữ ý, thích nghe ai nhắc tới đời sống con tôm, con cá nơi này. Còn Hiện khép nép, từ tốn như chìm dần vào giữa đám đông sau khi chen nói đôi điều về việc đã thu xếp, ổn định gia đình, chỉ chờ ngày bay sang Mỹ.

“Chỉ chờ ngày bay sang Mỹ!”. Một câu nói đến tai người đã từng nếm trải qua chiến tranh, lại là người đứng trong đội ngũ Cách mạng lâu năm như ông Út Hấn, nghe sao nghịch quá, lạ quá. Đúng hơn, ông Hấn bị mặc cảm vì đi đâu, đã đành, đằng này, thằng cháu ruột mình sang Mỹ? Ông không yên nhưng ngoài mặt thầy giáo Hấn cố làm ra vẻ tự nhiên nhằm tránh trút bịnh bảo thủ, không thức thời, hoặc tuổi chưa phải già đã lẩm ca lẩm cẩm như một số người đã gán cho ông. Rồi từ chỗ ngồi giữa nền nhà, ông Hấn tự nhiên trôi vào một góc xa thư dãn.

Khác hơn cậu Út Hấn, Tám Xiếu hồn nhiên, tếu tác:

- Mỗi nhà mỗi cảnh. Mỗi cây mỗi trái mà. Hòa bình rồi, chú Hiện có hoàn cảnh riêng, tự quyết. Phần anh Tám Xiếu chỉ nhờ chú em mày một chuyện nhỏ xíu xìu xiu thôi.

Tám Xiếu tiếp:

- Dễ ợt. Mấy khi có người đi Mỹ. Chú mày qua Mỹ nhớ chuyển lời vợ chồng Tám Xiếu gởi lời hỏi thăm, chúc sức khỏe ông Ôbama Tổng thống! Vậy thôi…

Tám dừng. Tấn xe tăng kéo theo bác tài Sài Gòn cười lên hết cỡ. Nhìn ông Út Hấn, nhìn tốp giáo viên tới muộn, Tám Xiếu gợi ý thẳng cậu Út nên chấm điểm lưu lại sổ sách cho ba khách bà con từ Sài Gòn đổ đường xuống tới đất chằng chịt sông bùn này. Lập tức, từ trong góc xa, ông Hấn ngưng bấm bấm nhắn tin ra ngồi lại chỗ cũ. Sẵn máu nghề nghiệp, thầy giáo Hấn gật gù đồng tình. Ông nói:

- Đồng ý cho mỗi thằng cháu từ Sài Gòn xuống đây mỗi đứa được 9/10 điểm.

Ông Hấn ngưng như để xét nét, cân nhắc, lại tiếp:

- Riêng thằng cháu rể, phải đúng loại rễ cây cứng cáp như cây tràm, cây đước mới về tới quê vợ xa xôi, cách trở. Theo hướng đó, thằng Điểm được cộng thêm 1 điểm, bằng 10/10 điểm…

Ông Hấn nói xong, trong nhà Tám Xiếu ấm lên tiếng người.

Ngoài trời, mưa gió phủ mờ bến nước phía bên kia con rạch nhỏ, hiển hiện chiếc xe bốn bánh thành một chấm đỏ trong màn mưa. Mưa lớn, kéo dài. Khí trời se se lạnh. Mãi cho tới chiều mờ mịt mặt người hãy còn những hạt mưa rớt liêu xiêu. Mưa bụi. Chủ và khách đành chia tay trong khi mưa chưa dứt hạt, lại còn quây quần, nấn ná chỗ bến nước có chiếc phà gỗ neo đậu sau khi đưa rước khách sang sông.

Đấy, bước chưa tới chiếc xe bốn bánh chờ người, gặp ngay bến nước - một bến nước thường hiện rõ mồn một trong ký ức ông Hấn nơi chiếc ghe lườn hết đường tản cư ẩn náu dưới tàn cây gừa giữa đầy đặc những giề lục bình trổ bông tím lịm - nơi Năm Thân khóc thút thít như một đứa trẻ trong buổi chia tay những người trong gia đình mới vừa định cư để theo người bà tốt bụng tìm kế sinh nhai trên đất Sài Thành…

Ông Hấn đứng loay hoay hồi lâu trên bến nước trong lúc tốp cháu Sài Gòn ra khu mộ thắp nén nhang từ giã ông bà nội. Mấy ngón chân già nua, thô ráp của ông bấm thật sâu xuống lớp đất bùn. Đất sình bùn từ phía dưới lèn theo mấy kẽ chân làm lấp khuất hai bàn chân ông.

… Và cho đến lúc xe lên cầu đúc bắc ngang con rạch nhỏ, người già, người trẻ ngồi trong xe đều ngoái nhìn ngoái lại bến nước có chiếc phà gỗ đang neo đậu - Một bến nước tím lịm bông lục bình thủa xa - Một dòng sông chảy nhẹ giữa hai bờ lá dừa nước - Một góc vườn quê nội có những ngọn dừa lão, những xoài, ổi, cây mít quỳ… kết thành bóng dáng quê hương bất tử đã từng làm lớn lên biết bao nhân cách, tâm hồn con người! Ông Hấn hy vọng…

Cà Mau - tháng 01/2011

Truyện ngắn Nguyễn Thanh

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác