Mùa khói rơm


(Toquoc)- Người ta chỉ nói đến mùa bão, mùa mưa, mùa nắng, mùa gió… Khói mà cũng có mùa, nghe thật lạ! Nhưng đó là mùa của quê tôi.

Không nhớ từ khi nào mà khói rơm trở thành mùa. Có lẽ từ khi những mùa gặt qua đi. Thóc đã nằm im mơ màng trong giấc ngủ hạt gạo trắng hoặc cái mầm sống cựa mình để gửi lại mùa sau. “Ngày lên đồng”, thóc trong bồ, trong hòm. Những hạt thóc chưa kịp làm cuộc chia lìa “kẻ ở người đi” với rơm.Rơm ở lại đồng. Rơm và rạ cùng hội ngộ trên cánh đồng. Thân rơm phận cỏ thấp hèn chung cư trên những thửa ruộng với tháng ngày vô ưu. Không bị thời gian thúc bách, không bị nhuốm cái lo âu của con người, không bị cái sợ hãi của mưa to gió giật… Cho đến khi sức đã kiệt cùng với nắng với gió thì rơm hoá kiếp về với cát bụi. Một cuộc “hoả táng” đồng loạt diễn ra trên những ô ruộng. Khói mới đầu là là mặt đất rồi bông tơi như những sợi tơ bị đánh rơi. Sau đó thì khói như cánh tay vươn dài muốn được chạm vào mây. Khói chất ngất trời. Khói như sánh lại, như được cô đặc khắp không gian. Mùa khói rơm bắt đầu!

Những người bỏ quê về với phố. Cứ rong ruổi quên ngày quên tháng, quên hai vụ gặt ở quê nhà. Mỗi lần gọi điện về nhà thay vì câu hỏi như thường thấy của người quê “nhà đã gặt xong chưa” mà hỏi sức khoẻ, hỏi rau đậu tôm cá có bị nhiễm độc như ở phố không?... Hoá ra cái vô tâm nó dễ bị nhiễm đến thế! Cho đến khi khói cũng bỏ quê ra phố. Khói làm cuộc xâm lấn phố. Và người phố bắt đầu ca thán, bực bội vì khói thì nhiều người mới vỡ oà về một mùa gặt đã qua.

Gặp khói rơm ở phố bỗng giật mình như được gặp lại gương mặt của cố hương. Trong cái đám đông eo sèo khó chịu ấy có những khuôn mặt phảng phất nét khói sương nghèo khổ một thời đang bần thần nhìn khói. Khói đã gợi cho họ một quá vãng xa ngái sống lại.

Mùa khói rơm - ảnh 1

Cái thời đó, lúa gặt về được chất đầy sân. Những chiếc máy tuốt lúa ào ạt phân định thóc và rơm. Xong đâu đấy thì thóc được phơi ở sân, chỗ sạch sẽ nhất, đón được nhiều ánh nắng nhất. Rơm thiệt thòi hơn, được phơi khắp đường làng ngõ xóm. Những con đường mùa gặt nhanh chóng trở thành đường rơm. Cứ vài tiếng, “đường rơm” lại xuất hiện một người đội nón cầm cái sào lật rơm. Rơm khô bị lộn nhào xuống dưới, chỗ nào còn ẩm, ướt sẽ được hong lên trên cho nắng có việc làm. Khi đã thật khô,  rơm được kéo về nhà. Công việc tiếp theo là rơm được chất đống một cách cẩn thận, khéo léo, chứ không phải như bây giờ chỉ đợi khô là châm lửa đốt sạch.

Nhìn đống rơm mỗi nhà đã vơi vơi, để lộ cái cọc giữa là lúc vụ gặt cận kề, báo hiệu rơm sắp được chất đầy. Từng ôm rơm được xiên qua cọc rồi nèn chặt xuống, hết lớp này đến lớp khác. Mới nhìn qua, không thể nào tưởng tượng nổi, cả một sân rơm nhiều thế kia lại có thể được xếp gọn gẽ thành một đống ở ngay cổng nhà. Suốt bao nhiêu năm qua, hình ảnh đống rơm dường như đã trở thành một biểu tượng không thể thiếu của làng quê, của nông thôn Việt Nam. Rơm là thứ nhiên liệu sẵn có duy nhất không mất tiền mua để nấu nướng hàng ngày, không phải ưu phiền ngày mưa hay nỗi lo tăng giá vô cớ của củi, than, ga, điện… Ngày mưa, rơm chỉ ướt ở trên đỉnh, cứ ung dung mà thò tay rút ở giữa. Rút một vòng tròn thì thoải mái đỏ lửa từ sáng. Mỗi lần đun hết, đi rút rơm ai cũng nhớ một điều là phải rút cho đều kẻo cây rơm bị lệch về một phía trông như người gù trước nhà thật xấu xí và xơ xác. Vì được nén chặt nên cây rơm như chiếc nồi Thạch Sanh trong cổ tích, ăn mãi, rút mãi không thấy vơi đi tẹo nào. Phải thật lâu, phải tính thời gian bằng tháng mới thấy cây rơm vơi đi. Vơi đến đâu, nó lặng lẽ tụt xuống thấp dần chứ không biến dạng.

Đống rơm đã trở thành nơi nơi trú ẩn lý tưởng của trẻ con khi chơi trò trốn tìm. Là mái tóc khổng lồ để những bàn tay bé xíu rút ra từng sợi để chơi trò tết tóc mà không bao giờ hết. Là những nắm rơm được cuộn chặt thành “con cúi” mang theo mỗi buổi chăn trâu mùa đông. Lúc nào đói bụng thì chỉ cần quay vài vòng hoặc phồng mồm thổi lên là có lửa để nướng khoai nướng sắn, nướng muồng muỗng, châu chấu.

Rơm gắn bó thiết thực với cuộc sống của người nông dân. Thời còn thiếu chăm ấm đệm êm, nhiều nhà nghèo lặng lẽ bện rơm, lót dưới chiếu để giấc ngủ không bị chập chờn mỗi khi mùa đông về. Rơm thay ngói, lợp trên mái nhà. Rơm trộn bùn thành thứ vữa trát lên những mái nhà khung tre. Rơm được quấn thành ổ gà để mỗi khi nghe tiếng “cục ta cục tác” vội vàng chạy ra chuồng gà đã thấy một quả trứng trắng hồng ở đó. Rơm được khéo léo rút phần lõi tết thành những chiếc chổi đủ kích cỡ để quét nhà, quét sân, quét bếp. Rồi chuối, hồng xiêm còn xanh thì thể nào cũng được bà hoặc mẹ ủ bằng rơm cho chóng chín…

Ngày xưa, thức ăn chẳng có cao lương mĩ vị gì để trước mỗi bữa cơm đủ sức toả ra mùi thơm phức mời gọi. Chỉ có khói rơm bay lên mỗi nóc bếp là báo hiệu bữa ăn chuẩn bị bắt đầu. Khói rơm thân thuộc, len lỏi rồi hằn sâu vào tiềm thức những ai có tuổi thơ gắn với làng quê. Ngửi khói là biết rơm nếp hay rơm tẻ. Khói lẫn vào tóc, vào áo. Khói bám vào xoong nồi. Khói bắt vào rổ rá tre pheo ngày ngày tháng tháng thành màu nâu sậm mà không thứ thuốc nhuộm nào sánh được, không thứ thuốc tẩy nào làm bay màu được. Những nghệ nhân làm tranh tre muốn tạo ra bức tranh có gam màu lạ, bền đã không tiếc công sức đi săn lùng từng thanh tre nhuốm màu khói về chế tác.

Khói có mặt từ nhà nghèo đến nhà có của ăn của để. Khói nấu những bữa cơm đạm bạc hàng ngày cho đến giỗ tết, cưới hỏi, đám ma… Ai nấu không khéo thì khói mù mịt cay cả mắt. Rơm thì dễ đốt thật đấy. Nhưng không phải cứ nhét thật nhiều vào bếp là cháy to. Chỉ cần một lượng rơm vừa phải, vừa đun, một tay vừa đẩy phần rơm chưa cháy vào tiếp, một tay cầm thanh tời tãi mảnh rơm và khơi rộng bếp, đẩy phần rơm cháy hết ra xa. Nếu không như thế thì vừa khói, quay đi ngoảnh lại đã giật mình với đống tro giữa bếp. Vừa không khéo, vừa không biết cách đun, cứ im ỉm, om om với bếp rơm cứ cuống cả lên, như mê hồn trận. Không cẩn thận khói còn len lỏi cả vào bát canh miếng thịt. Cụm từ “oi khói” chê trách khéo léo cũng từ đấy mà ra. Mà đốt rơm cháy nỏ quá cũng dễ khét thức ăn, ngoài thì cháy và trong thì sống. Mở vung nhiều quá không cẩn thận tro của rơm rơi vào thức ăn cứ lốm đốm đen như rắc hạt tiêu.

Thế đấy, khói rơm cứ đều đều ba lần một ngày toả ra từ nóc bếp mỗi nhà nên không có mùa khói. Bây giờ nhiều người dân quê từ giã thói quen đun bằng rơm. Cứ sau khi gặt xong, rơm khô là tiện tay đốt sạch. Năm có hai vụ chiêm và vụ mùa vào tháng 5, tháng 10 là có hai mùa khói. Một thứ mùa đặc trưng của những vùng ngoại ô mấy năm gần đây. Một thứ mùa đã khiến những chiếc bếp ga ngự trị trong mỗi gian bếp và biết bao “cây rơm” vàng óng trước cửa nhà bỗng dưng biến mất. Sự thay đổi rất đỗi tự nhiên, đến mức khi cần dùng đến rơm như nướng cá, thui thịt… người ta mới ngỡ ngàng không còn nữa và cứ loanh quanh không biết tìm ở đâu ra. Tôi nhớ có năm, khi tết cận kề, những chân hương trên bàn thờ được rút bớt, thay tro trong bát hương mẹ cứ đi ra đi vào lo lắng không biết lấy đâu ra rơm nếp để đốt. Loanh quanh, hỏi han khắp làng trên xóm dưới cũng chưa đủ. Cuối cùng thì phải đi… mua rơm về đốt.

Có những lần, tôi hối hả trở về quê khi vừa thoát ra đoạn đường dài bị tắc. Trời đã nhá nhem tối. Thế mà khi đặt chân lên con đường cỏ cong cong nối từ các nhánh ruộng là hình ảnh lững thững của con trâu kéo chuyến xe cuối về nhà. Người nông dân đội nón - dường như nón là thứ đội đầu của họ ở mỗi khi ra khỏi nhà, bất kể nắng mưa, sáng tối. Thật lạ. Lưng áo họ đẫm mồ hôi ngồi trên xe lúa, tay cầm que nhắc nhở chú trâu đi thẳng hay rẽ. Tôi đã nông nổi nghĩ rằng, giá quê mình thỉnh thoảng cũng có tắc đường như ở thành phố thì chắc cuộc sống sẽ bớt nhọc nhằn hơn. Giờ đây, cuộc sống của quê tôi đã khấm khá hơn rất nhiều mà không có cảnh tắc đường. Hoá ra, có những thay đổi chẳng tuân theo một quy luật chung nào, nhất là giữa phố và quê. Cũng như khói rơm, có ai gọi là mùa như mình? Và liệu rồi vài năm nữa có còn không? 

 Hiền Nguyễn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác