Một số phong tục, văn hóa ứng xử trong ngày Tết

(Toquoc)- Xuân là mùa của vạn vật sinh sôi nảy nở, giao hòa, cây cối đâm chồi nảy lộc, mùa yêu đương, mùa giao duyên nam nữ. Mùa xuân khí hậu dung hòa, “dương thi” (thi hành, chủ động), “âm thụ” (âm nhận chịu, thụ động). Nên xưa, mỗi lần Tết đến, các cụ hay treo câu đối ẩn tàng lí thuyết Âm- Dương, ca ngợi mùa xuân ấm áp, khí trời Dương thịnh Âm suy:

Tam dương khai thái

Ngũ phúc lâm môn.

(Năm mới đến mở ra những điều tốt đẹp

Năm điều phúc lớn sẽ vào nhà)

Câu đối trên ngụ ý cầu chúc cho những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với gia đình.

Hiểu câu đối trên cần hiểu cách tính thời gian mùa xuân của cha ông xưa. Nhất dương là từ ngày Đông chí (22/12 Dương lịch, tháng Một âm lịch). Nhị dương là tháng Chạp. Tam dương là tháng giêng đầu năm mới, mặt trời ấm áp mang sự sống sinh sôi, khí mùa xuân nóng ấm, chủ về sinh, sẽ đẩy lùi khí âm lạnh ẩm của ngày đông. Xuân là sinh mà xuân cũng là xanh! Mùa của vượng mộc (Cái hoa xuân nở,cái lá xuân xanh/ Ai muốn chiết cành hãy đợi mùa xuân).

Lễ hội mùa xuân vì thế trở thành Hội làng của cư dân nông nghiệp. Khắp nơi nơi nam nữ họp bạn, hát giao duyên, chơi đánh đu, tung còn…

Xuân là từ gốc Hán đã Việt hóa. Có mùa xuân của đất trời và có mùa xuân của lòng người. Ở Việt Nam, ngày Tết văn hóa theo cách ta thường gọi được mở đầu bằng Tết Cả, Tết Nguyên Đán (Tết Đoan Ngọ, Tết Ngâu… còn lại trong năm đều xem là Tết con, Tết nhỏ). Theo chữ nghĩa Tết Nguyên Đán - buổi sớm đầu tiên, vạn vật sinh sôi, tươi tốt. Nên ngày mùng một tháng Giêng còn được gọi là ngày Tam Nguyên, Tam thủy. Vì ngày đó là thời điểm mở đầu cho: năm, tháng, ngày. Đó là sự bắt đầu, đổi mới, lại mới, thêm mới của đất trời, giao thừa của năm qua và giao thời của năm mới.

Qua đây ta thấy được đúng Tết là thời điểm thiêng liêng, là điểm nút vừa là cắt đoạn cái liên tục của thời gian, cầm trịch cho nhịp điệu sinh hoạt của con người và vạn vật, đánh dấu buổi hồi sinh, sự trẻ lại của toàn vũ trụ. Do vậy có biết bao phong tục, tập quán, ứng xử cộng đồng, những kiêng kị… trong ngày tết cần quan tâm trao đổi, lưu truyền đến xuân hôm nay. Đó là mùa xuân của sự hòa hợp. Nhưng hòa hợp thế nào giữa truyền thống, dân tộc với hiện đại giao lưu, hội nhập, vốn luôn nhiều xô bồ trong giới trẻ, và cả xã hội hiện tại. Hiển nhiên rất cần luận bàn!

 Một số phong tục, văn hóa ứng xử trong ngày Tết  - ảnh 1

Một số tập quán, phong tục đón tết cổ truyền

Chúng ta đang ở thời khắc vào những ngày cuối cùng của năm Nhâm Thìn - 2012.

Cứ vào những ngày tất niên của tết cổ truyền, mọi người như hòa vào không khí nô nức, rộn ràng đón xuân. Ông bà ta hay nói “không có gì gấp bằng gấp tết”. Quả thật vào những ngày cuối cùng của năm, ai ai cũng vội vàng, tất bật bộn bề bao nhiêu là công việc. Trong nề nếp của cổ lệ ông bà, với truyền thống tín ngưỡng phồn thực, mỗi người đều giữ thói quen bình thường là cuối năm phải giải quyết làm cho bằng hết, dứt điểm mọi công việc của năm cũ. Làm chết làm sống cũng phải hoàn tất, không để dây dưa sợ ảnh hưởng đến năm mới. Nếu có nợ nần phải giải quyết, xóa bao xích mích, phiền phức trong năm cũ, nếu có…

Từ chuyện nhà cửa dọn dẹp, trang hoàng đến việc may mặc, chuẩn bị quần áo mới, thức ăn, đồ dùng… Tất cả cần đủ đầy cho 3 ngày tết, làm điểm cho sự mới mẻ, tươi vui, no đủ suốt cả năm tiếp theo.

Từ trẻ con đến người lớn đều chưng diện quần áo mới, chuẩn bị bộ cánh đẹp nhất cho ngày đầu năm để cầu được ăn sang, mặc đẹp quanh năm.

Ngay cả chuyện quét nhà, kể từ lúc giao thừa cho đến hết ngày mồng một sẽ không quét ra mà gom vào một góc để cầu phúc, cầu lộc, tích lũy thịnh vượng.

Nói lời phải lựa lời đúng, lời hay không làm ai giận, cho đẹp lòng mọi người, bản thân sẽ tránh được tai bay vạ gió trong năm mới. Nhỡ có chuyện gì không vừa lòng thì cũng phải cố nhịn làm vui để tránh điều xui xẻo, xúi quẩy.

Chọn một việc tốt để khai thông công việc, chọn điều vui để khai bút đầu xuân.

Người trong nhà chọn điều thích nhất của nhau để làm cho nhau trong ngày mùng một, mang lại niềm vui hạnh phúc cho cả gia đình. Lựa chọn người tốt, sống nhân đức, thành đạt để xông đất vào sáng sớm mùng một…

Tất cả những sự kiêng kị mang chút mê tín như trên cứ được lập lại mỗi tết, và tự nó đã toát lên truyền thống văn hóa của ngưới Á Đông. Tất nhiên có chức năng giáo dục cộng đồng một cách rõ nét, cụ thể. Nhờ đó mỗi người tự rèn mình, giữ thói quen xử sự thật tốt đẹp như ngày tết, biết điềm tĩnh và dịu lòng lại mỗi khi gặp chuyện bất bình. Những tập quán này cần được lưu giữ ở mỗi gia đình Việt Nam, rất cần để giáo dục thanh niên tuổi trẻ, nhất là trong thời buổi kinh tế thị trường, giao lưu, hội nhập văn hóa toàn cầu hiện nay.

 Một số phong tục, văn hóa ứng xử trong ngày Tết  - ảnh 2

Về việc cúng kiến, chưng bày

Ngày tết, việc cúng kiến, xếp đặt bàn thờ gia tiên, bày mâm ngũ quả, chưng bày hoa kiểng, và nhất là chọn hoa chưng tết đều rất được coi trọng. Việc làm này vừa là phong tục thể hiện sự hưng thịnh của xã hội, vừa biểu hiện mức sống, cách sống, văn hoá thẩm mĩ của gia chủ.

Ngày tết xưa, việc chưng câu đối cũng chiếm vị trí quan trọng bậc nhất. Câu đối viết trên nền giấy đỏ, treo trước mỗi nhà vào ngày tết vừa có ý nghĩa trang trí, vừa thể hiện nghệ thuật chơi chữ, tài năng trí tuệ, khí phách và tình cảm của tác giả, gia chủ. Câu đối thường tập trung vào đề tài xuân tết, vui mừng… Có câu đối chữ Hán, chữ Nôm hoặc nửa chữ Hán, nửa chữ Nôm. Về thể loại có câu đối thơ, câu đối phú. Câu đối thơ mỗi câu thường 5 hoặc 7 chữ, viết theo nghiêm luật thơ Đường. Câu đối phú nhiều chữ hơn viết theo lối văn biền ngẫu.

Về việc chưng hoa, người Việt thích chơi hoa đào, hoa mai vì đây là 2 loại hoa luôn nở rộ đúng vào dịp tết Nguyên đán. Việt Nam cũng là một trong những quê hương, xứ sở của đào bích, đào phai. Rất nổi tiếng với đào Nhật Tân, rừng đào Sapa, Chi Lăng…

Hoa mai, hoa đào đi vào thơ ca từng làm rung động lòng người, qua câu thơ của Thiền sư Mãn Giác, của Nguyễn Du…

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai - ( Mãn Giác)

(Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai)- Ngô Tất Tố dịch thơ.

…Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông… (Nguyễn Du)

Vào mùa xuân Kỉ Dậu, vua Quang Trung sau khi đại thắng quân Thanh đã cho mang cành đào từ Thăng Long vào Phú Xuân tặng công chúa Ngọc Hân để báo tin vui chiến thắng.

Nếu cánh đào hồng tươi mượt mà nở rộ, trở thành biểu tượng mùa xuân nơi miền Bắc có khí hậu lạnh, thì ở miền Nam, những ngày tết không thể thiếu cành mai vàng. Khi những cành đào ở Nhật Tân - Hà Nội bắt đầu trổ hoa thì từ Huế vào, Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn, xứ sở Nam bộ, khắp nơi nơi từ Bình Trị Thiên đến Cà Mau rợp trời một sắc mai vàng tươi rực rỡ. Hoa mai có đài xanh đậm, ngày xưa thường 5 cánh, bây giờ có thể lên đến trên 20 cánh vàng óng như tơ. Hoa mai vàng thuộc họ Lão mai. Hoa mai trắng thuộc họ phụ mận (nhị độ mai - mai nở hai lần).

Hoa mai biểu tượng cho sự trang nhã, thanh cao, sự đẹp đẽ của tâm hồn. Vẻ đẹp cao quý của con người cũng thường được ví với hoa mai. Câu thơ của Cao Bá Quát đề bức tranh hoa mai như sau : Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Cả đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai).

Người Nam bộ luôn giữ thói quen thích chưng bày và trồng nhiều mai vàng trước nhà. Thường lặt lá mai vào thời gian khoảng 2 tuần trước tết. Việc chăm sóc cho hoa mai nở rực vàng vào đúng ngày tết còn gửi gắm cả ước nguyện: may mắn. Nguyện ước ấy tha thiết đến độ người Nam bộ chấp nhận luôn từ đồng âm, khác nghĩa: (hoa mai - may mắn)

Điều thú vị là trong mong ước của việc chơi hoa mai nói trên có liên quan đến thói quen phát âm sai của người Nam bộ, biểu hiện cả trong việc chưng bày mâm ngũ quả: cầu - dừa - đủ - xoài - sung (với ước nguyện: cầu vừa đủ sài, sung túc…)

Thói quen bày trí cây quất sum suê từ Bắc vào Nam cũng thể hiện mơ ước sung túc.

Việc nấu bánh tét ở miền Nam và gói bánh chưng ở miền Bắc vừa có liên quan đến sự tích, phong tục dâng cúng bánh dày bánh chưng vừa thể hiện tính cộng đồng trong sinh hoạt chuẩn bị đón tết. Cả gia đình, họ hàng, thôn xóm, nhà nhà rộn rịp gói và nấu bánh làm cho không khí tết thêm rộn ràng; đượm thêm hương vị, khi nồi bánh tét thơm lừng hương nếp mới quyện với mùi hương lá chuối, lá dong… Không khí lúc quây quần chờ bánh chín cũng là giờ khắc đợi chờ phút giao thừa thiêng liêng gõ nhịp… Vừa hồi hộp, vừa trang trọng, đầy mong ước tốt đẹp, mang dâng bánh cúng bái tổ tiên, đón rước ông bà…

Như vậy từ chuyện kiêng kị quét nhà đến việc giữ miệng, mở lời chúc tụng bao điều tốt đẹp, đến việc chọn người xông đất, chọn hướng xuất hành… đều thể hiện truyền thống văn hóa, giao tiếp ứng xử trọng tình, coi trọng quan hệ của người Việt.

Tất cả mọi thứ như đều được tập trung dồn hết cho chuẩn bị trước và trong tết. Nhìn những câu đối đỏ, hoa thắm tươi trang trọng trên bàn thờ, rồi các phong bao lì xì, chúc xuân chúc tết, đến mâm ngũ quả, cặp dưa hấu dán thiếp đỏ… tất cả cùng phát huy tác dụng làm đẹp cho đời, mang mùa xuân ấm no hạnh phúc cho mọi người.

Mỗi khi xuân đến, mỗi người cũng giữ thói quen ngồi “tính lại sổ đời” để thấy thời gian tiếp nối đi qua trên chu kì năm tháng, để mỗi người tự nhận ra hành trình cuộc đời mình - đến và đi. Mà đi thì luôn luôn còn là ẩn số. Do vậy khi còn hiện diện trong cõi nhân sinh rất cần, luôn luôn cần sống thật, sống hết mình, hết lòng để không hoài phí; sống vị tha, mở rộng lòng để được thanh thản, và tự nhủ: để không phí hoài tuổi thanh xuân…

Lê Huỳnh Diệu
(ảnh Internet)

-------------------------

Bài viết có tham khảo tài liệu:

Ban Văn hóa văn nghệ Trung ương. Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989 - 1995. Cục xb-Bộ Thông Tin 1988.

Trần Quốc Vượng. Bài viết Mùa xuân và phong tục. Sách đã dẫn, nêu trên.Tr352.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác