Khi giấc mơ bay đong đầy hoài niệm


(Toquoc)- Bản thân tôi là đứa quê mùa - thứ thiệt. Năm 1985 là lần đầu tiên tôi thấy chiếc máy bay - thứ thiệt. Năm đó cha mẹ dắt tôi lên Sài Gòn để đưa ông bà ngoại đi Canada. Sáng tinh mơ khi chuông nhà thờ Huyện Sỹ chưa hết độ ngân ngân, khi sương sớm còn vương vương như màn mây mong mỏng, thì bà con và hàng xóm của ông bà đã có mặt đầy đủ trong nhà. Lúc đó tôi chưa biết buồn, chỉ thấy phơi phới trong lòng vì được một chuyến đi chơi đến phi trường mà thôi. Khi đến sân bay người lớn ôm nhau bịn rịn, nước mắt rớt trong nụ cười, nụ cười vơi trong tiếng khóc. Đối với chúng tôi vào thời ấy, quyết định di cư ra nước ngoài đồng nghĩa với việc rời xa quê cha đất tổ, từ bỏ người thân, bỏ lại căn nhà đã bao năm dung dưỡng bản thân mình, và đành quên đi tất cả. Một chuyến đi xa này ắt khó có ngày trở lại.

Cha tôi vốn không nhiều nước mắt, và vốn không quen với chia lìa bi lụy nên dắt tôi đi ra phía trước nhà ga nơi có đặt một chiếc máy bay Boeing 707 màu trắng to đùng để tránh không khí oi bức ồn ào bên trong. Lần đầu tiên tôi thấy một loại phương tiện giao thông to lớn dường ấy. Nó cao đến độ tôi phải ngước hẳn mặt nhìn đối diện với ánh mắt trời ban sớm chói chang. Lóa mắt vì màu kim loại trắng, vì những ô cửa sổ tròn tròn vuông vuông, và vì nó là chiếc máy bay. Chúng tôi quê mùa thứ thiệt, chỉ biết máy bay trực thăng qua mấy bộ phim Mùa gió chướng, Cánh đồng hoang, hay lâu lâu nghe tiếng trực thăng bay phành phạch ngang đầu mà cả xóm chạy lúp xúp mỏi mắt nhìn theo còn không kịp. Cha tôi nói chiếc máy bay này bị hư nên mới được trưng bày ở phía trước nhà ga này. (Tôi không rõ có phải chiếc máy bay này bây giờ được đặt ở một quán cà phê đường Hồng Hà, Tân Bình hay không.) Tôi được cha ẵm lên để đứng trên bánh xe màu đen thui, nhưng tôi sợ điếng hồn vì e rằng nó bất thình lình lăn bánh thì thế nào?

Nỗi lo sợ không lớn bằng sự kích thích tò mò kỳ lạ. Tôi ao ước được đứng cao hơn nữa, được ngắm nhìn vào bên trong thân máy bay, để thử xem nó có đẹp và sang trọng như xe đò Ba Tri đi Sài Gòn không, muốn được nghe tiếng nổ inh trời của nó, và rất ngây thơ - muốn được hửi khói máy bay, tưởng như nó có mùi ngòn ngọt như khói xe lam mà sắp nhỏ tụi tôi thường chạy theo sau để hít hít như bầy chó con hay đánh mùi giày dép. Cha tôi nói máy bay sẽ chạy lấy đà và khi nó đạt đến tốc độ tối đa VR thì sẽ nhấc mình lên khỏi mặt đất vì sự tác động kép của lực đẩy và lực nâng. Tôi chẳng cần hiểu lực gì cả, chỉ tròn dẹt mắt nhìn chiếc máy bay to đùng đùng này mà không hiểu điều gì sẽ xảy ra với hành khách bên trong. Họ sẽ cong người hoảng vía khi bay vù vù lên mây, hay sẽ vẫn còn khóc hụ hụ như những người đang đứng bên trong nhà ga? Hay máy bay này sẽ đưa họ đến nơi nào đó tít xa diệu vợi mà người ở lại nhớ nhung khôn cùng? Ước mơ được bay đến một miền đất xa xôi lạ lẫm đã được ươm mầm từ dạo ấy trong tôi.

Chúng tôi đưa ông bà vào bên trong phòng kính và đứng vẫy tay chào nhau ở đấy. Mẹ tôi lấy khăn tay lau nước mắt, rồi thúc giục chúng tôi đi lên lầu để đứng ở trên sân thượng nhìn ông bà và các hành khách khác ra máy bay. Phía dưới có chiếc xe buýt dài dài với một vài ghế ngồi từ từ chạy ra một chiếc máy bay màu trăng trắng đang hạ cầu thang. Tôi mỏi mắt nhìn xem ông bà ở đâu, nhưng chỉ thấy mọi người chầm chậm bước lên cầu thang phía sau, vẫy tay chào về phía lầu chúng tôi đang đứng, nên chẳng nhận ra ai là ai. Có lẽ tất cả mọi người chào mọi người, chào Việt Nam lần nữa chăng, nên không ai nói một lời nào. Sân lầu vặng ngắt lạ thường, nhường lại không gian được đong đầy tiếng động cơ ầm ì như nhiều tiếng phà qua sông đồng loạt khởi động. Chiếc máy bay chạy ra đường băng xa xa xanh màu cỏ rồi lao vút mình vào khoảng trời vô hạn, để lại chúng tôi một nỗi buồn, cũng vô hạn vô chừng, và từ từ để lại một vệt khói trắng mỏng manh trên nền trời xanh ngắt. Hóa ra máy bay đồng nghĩa với nước mắt và chia tay.

Từ lúc đó trở đi, trong lòng tôi lúc nào cũng nuôi một giấc mơ được bay trên nền trời cao xanh thẳm, đến một miền đất lạ để được mặc tình khám phá mức độ bao la của đất trời. Có lần tôi tình cờ đọc một quyển sách tiếng Anh cũ mèm của chị Tư được xuất bản từ hồi trước giải phóng, thấy một loại lá màu đỏ có ba cạnh lớn, trên mỗi cạnh được chia đều ra ba hoặc bốn khía nhỏ hơn. Chị Tư nói đó là lá maple, chỉ có ở những nước ôn đới, và dĩ nhiên ta không bao giờ thấy được lá này ở Việt Nam. Tôi nói rồi có ngày chị em mình cũng sẽ thấy được lá này, nhưng chị nạt ngang nói đừng tào lao nữa. Tụi mình còn không có tiền mua vé xe đò đi Bến Tre chỉ có vài chục đồng bạc nữa là, thì nói chi đến chuyện đi đâu đó ra nước ngoài! Mặc kệ, vì không cần tiết kiệm với ước mơ nên tôi vẫn bay bổng với ước mơ của riêng mình trên bầu trời xanh thẳm với muôn điều bí ẩn. Tôi biết rõ rằng chị em chúng tôi chẳng bao giờ vọng ngoại, nhưng tất cả đều mộng tưởng về những chuyến phiêu lưu kỳ thú nào đó trong đời, tưởng tượng về một thế giới rộng lớn mênh mông đang tồn tại bên ngoài thị trấn miền biển nghèo nàn và bên ngoài cánh cửa nhà mục nát đóng ỉm im suốt hai mùa mưa nắng buồn thiu. Một chuyến đi xa cho thỏa lòng hiếu kỳ của tuổi trẻ.

Chuyện đà đã gần hai mươi năm. Cuối cùng, sau những lần dành dụm một ít tiền lương khiêm tốn, vào năm 24 tuổi tôi tự khao mình với một chuyến đi Phú Quốc bằng máy bay, loại ATR-72 cũ kỹ với hai cánh quạt, lên khách ở cửa sau với sức chứa khoảng 68 người. Chuyến bay chỉ kéo dài 20 phút nhưng đó là một trải nghiệm nhớ đời khi tôi được đàng hoàng ngồi trên một cái ghế êm ái trong ca bin lành lạnh nhìn ra ô cửa sổ vuông vuông và nhìn thấy cảnh vật chạy thụt lùi nhanh nhanh. Tiếc thay tôi mất quá nhiều thời gian để quan sát mọi thứ bên trong lẫn bên ngoài nên không thể hưởng thụ hoàn toàn cảm giác bay. Đầu tiên phải nói đến sự hồi hộp khi thắt dây an toàn. Tôi tưởng sẽ rắc rối vì mọi người đều nói lên máy bay phải “thắt dây”, cứ nghĩ rằng mình sẽ ngồi buộc cọng dây nào đó tựa như cột gút dây ni lông. Nhưng nó đơn giản đến mức sau khi bấm đầu dây này vào đầu móc kia mà mình lo lo không biết đã làm đúng thao tác chưa, chốc chốc tôi lại so sánh cách làm của mình với cô tiếp viên xinh đẹp đứng thực hành mẫu các thao tác an toàn bay. Cô diễn nhuần nhuyễn cách mặc áo phao nếu máy bay rơi xuống biển. Hóa ra tai nạn máy bay là điều vẫn có thể xảy ra - dù xác suất của nó ở mức một phần một triệu - và điều đó có nghĩa là hành khách đang đánh đổi một nguy cơ vốn chẳng bao giờ hiện hữu nếu họ chọn cách ở nhà mãi mãi.

Tôi phải bám chặt người vào thành ghế mà không dám lộ nét mặt lo sợ ra ngoài vì e rằng những người xung quanh phát hiện vẻ nhà quê thứ thiệt của mình, mắt giả bộ lơ đãng nhìn ra ngoài xem sân bay Kiên Giang nhỏ xíu rụt rè chạy ngược phía sau. Rồi khi máy bay đang chạy vù vù bỗng đột ngột cất mình rời khỏi mặt đất, ruột gan của tôi giật thót, tay càng bám chặt vào thành ghế, miệng há hốc nhìn Rạch Giá tròn tròn dưới mây, thấy biển cả xanh ngăn ngắt như nằm trong cái tô lớn có miệng rộng hình vòng cung, mà tự hỏi lòng sao nước không trào ra ngoài miệng tô này! Rồi khi máy bay leo lên những cụm mây trắng tinh lấp lánh ánh mặt trời buổi sáng, thân máy bay rung lên khi lao mình vào những màn mây đùng đục, tôi thậm chí không dám trở mình vì sợ máy bay chao nghiêng và mất thăng bằng. Tai ù ù vì sự thay đổi áp suất, đành ngậm miệng nhai khơi khơi, xem ra cảm giác bay này cũng không hẳn là thú vị đối với thằng nhà quê như tôi. Nhưng chí ít thì mơ ước được bay lên trời, thậm chí còn cao hơn cả những cánh diều lộng gió ngày thơ, đã trở thành hiện thực. Dù vẫn còn ở trong nước, nhưng cảm giác được bay trên trời cao khiến tôi xao xuyến kỳ lạ, phần tự hào, phần háo hức, và một phần sờ sợ chết yểu theo kiểu nhà quê.

Khi giấc mơ bay đong đầy hoài niệm - ảnh 1

Rồi đến ngày khao khát đi rong chơi ra ngoài biên giới quê hương của tôi trở thành hiện thực khi tôi đi du học ở Australia. Lần này tôi hồi hộp lắm khi thấy tấm bảng to đùng “Cảng Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất” ở trước mặt. Tôi không còn là người đưa tiễn nữa mà là một hành khách đi tuyến quốc tế, bắt đầu một cuộc sống xa xứ. Mọi người khe khẽ ôm tôi lúc tiễn đưa trong không gian ồn ào tiếng khóc ở ga đi. Lần chần đứng với gia đình trước khi vào phòng làm thủ tục hải quan mà không biết nói thêm gì nữa, nhưng nếu bước đi thì lại thấy tui tủi trong lòng. Hóa ra cảm giác đi xa lại khó khăn đến dường vậy.

Cô tiếp viên mặc sa-rông truyền thống sặc sỡ hoa văn của Singapore Airlines nở nụ cười thật tươi khẽ nghiêng người chào tôi ở cửa lên máy bay khiến tôi cảm thấy mình như là một hành khách đặc biệt. Ngồi trên chiếc Boeing 777-200 với hơn 200 hành khách khác trên chặng đường dài gần hai tiếng khiến tôi cảm nhận được rằng mình đang đi nước ngoài, đi về những xứ sở chưa bao giờ được biết đến, dù nơi ấy chỉ là những giấc mơ đã tồn tại trong tôi từ lâu lắm rồi. Sài Gòn nằm khum khum nhỏ xíu dưới cánh máy bay rung rung trong gió lồng lộng bên ngoài, và dòng sông Sài Gòn lượn lờ như dải lụa của các cô tập thể dục nhịp điệu uốn éo trong nắng gió miền Nam đang chào tạm biệt những người con cất bước phiêu bồng. Chắc giờ này cha mẹ nửa mừng vui, nửa lo lo cho thằng con trai lần đầu tiên xa đất mẹ. Tôi bỗng cảm thấy bồi hồi xao động, thấy hồi hộp vì một mình đi giữa bầu trời mênh mông ở quê người xứ lạ với bao điều bí ẩn đang chờ. Khi bay được vài phút tôi lại nhẩm tính chắc giờ này mình bay ngang biển Bến Tre, rồi đến cuối mũi Cà Mau. Chắc lúc này bạn bè tôi đang ngồi trong văn phòng cọc cạch gõ bản báo cáo cho sếp lúc nghỉ trưa, hay có người đang ngước nhìn vệt khói mỏng trên nền trời xanh xanh và biết rằng tôi đang ngồi trong khói sương mơ hồ đó.

Tôi đường hoàng - lại một lần nữa - gột rửa bản chất nhà quê thứ thiệt để được thoải mái thả mình vào không gian lạnh ngắt của khoang hành khách chỉ nghe toàn tiếng nước ngoài. Những người Việt nói chuyện nhỏ nhẹ với nhau, người Trung Quốc và Hàn Quốc ồn ào lớn tiếng, người nói tiếng Anh xì xì hơi gió, và tôi làm thinh trong suốt chuyến bay để tận hưởng cảm giác bay trên bầu trời ở độ cao trên mười cây số với vận tốc gần 900 cây số một giờ. Tôi nhận thức rất rõ rằng tôi đang ra nước ngoài, được thực hiện ước mơ ngày trước.

Rồi trên chuyến bay tiếp nối từ Singapore sang Australia ban đêm, khi những hành khách đang say ngủ, tôi một mình thao thức nhìn trời đêm lấp lóe ánh sét xa xa mà lòng bồi hồi lo lắng về những ước mơ và điều diệu kỳ trong cuộc sống. Khoảng nửa đêm tôi nghe tiếng một cô gái tóc vàng óng rấm rứt khóc thầm, mắt nhìn vào chốn xa xăm buồn vời vợi. Tôi không hiểu chuyện gì, nhưng cam đoan với bản thân rằng chắc cuộc chia tay với những người cô yêu quí hay những ký ức quê hương đang làm cô xúc động. Dẫu chưa quen nhưng tôi dự cảm rằng cô đành bỏ lại phía màn đêm tăm tối những hạnh phúc bình yên để đi về phía ban mai không còn ai chờ đợi. Tôi viết vội bài thơ tặng lữ khách đồng hành không bao giờ gặp lại: Khi máy bay qua vùng tối - sáng / Em bàng hoàng phải mất anh thôi / Em về phía bình minh, anh lại về muôn tối / Một giấc mơ trôi giữa hai cực đêm - ngày

Một lần trên xe buýt lang thang ra chợ Inala vào tháng bảy khi mùa đông đang độ chín muồi ở Australia, tôi chợt thấy bên đường một vài chiếc lá màu đo đỏ rụng lác đác xuống vỉa hè một cách thanh thản, trông có vẻ quen quen. Thì ra đây là lá màu đỏ maple mà chị Tư và tôi đã từng tranh cãi. Đích thị đây là lá maple nằm trên quốc kỳ của Canada, và đích xác là tôi đã đặt chân đến nước ngoài. Ước mơ của tôi đó, bình lặng nằm phơi mình trên thảm cỏ mát lạnh. Tôi dừng chân nửa đường ở trạm Forest Lake để lượm vài chiếc lá ngẩn ngơ rơi rụng tàn phai mà lòng xiết bao xúc cảm.

Tôi nhớ lại ngày chúng tôi còn thơ dại, sống cùng nhau trong căn nhà nhỏ êm đềm dù có nghèo hèn mạt rệp. Chúng tôi nhường nhau từng chén cơm, miếng cá, cục chao, nhưng vun vén và chăm chút cho nhau từng ước mơ nho nhỏ, cỡ như mong đến cuối tuần để được đi bộ về Phú Lễ xin trái bầu, về nhà xắt ra thành sợi rồi ướp muối cục phơi khô để làm thức ăn hàng ngày, cho đến những giấc mơ to lớn vô vàn như được bước chân vào đại học. Rồi từng giấc mơ ấy chúng tôi đều thực hiện được, dù gian khổ, dù có cái chỉ vẹn tròn phân nửa, có cái trở thành viễn vông. Nhưng giấc mơ về chiếc lá đo đỏ được chúng tôi đồng lòng nuôi trong tâm thức bằng cách lấy lá mít đem ngâm dưới bùn trong vài tuần cho rã hết chất diệp lục. Sau khi chiếc lá chỉ còn lại những chiếc gân hình mạng nhện thì chúng tôi cho vào bình mực đỏ tươi để nhuộm màu đo đỏ, thế là có một chiếc lá màu đỏ không bao giờ úa tàn để dành ép vào trong tập học trò chơi chơi. Tôi còn tham lam hơn, xé tờ giấy ngả màu xin xỉn trong cuốn tập chính tả và mày mò cắt hình chiếc lá như hình vẽ trong quyển sách tiếng Anh đó, rồi lấy thuốc đỏ xức ghẻ quét lên chiếc lá bằng giấy này. Thế là tôi sở hữu đến hai chiếc lá màu đỏ - lòng khao khát của chính mình được tăng lên gấp bội về một ngày đi đó đi đây như cánh chim bằng bạt gió.

Màu hoa đỏ maple đi vào tiềm thức của tôi ngây ngô vụng dại, nhưng nó nuôi dưỡng khát vọng tin tưởng vào tương lai của chính mình, khiến chúng tôi cứ điềm nhiên bước qua gian khổ, đối đầu với từng nỗi gian nan trong cuộc đời cho đến ngày giấc mơ bay của tôi trở thành hiện thực. Tôi lập tức điện thoại cho chị, lúc này đang định cư tại Mỹ, và nói em đã gặp được lá maple rồi. Giấc mơ của chúng tôi bây giờ lại trở thành giấc mơ về kỷ niệm. Chị khóc. Ở Mỹ có nhiều lá này, nhưng chị nói vẫn nhớ lá mít quê nhà, nhớ cây mít tụi mình cặm cụi trồng sau nhà ngày đó, và nhớ em. Tôi khóc. Cầm lá maple trong tay mà nhớ da diết màu lá mít đỏ lòng, đỏ cả giấc mơ an lành tuổi nhỏ.

Nhưng mỗi chuyến bay luôn mang nhiều ý nghĩa khác nhau đối với riêng tôi, và dĩ nhiên đối với tất cả hành khách khác. Có bận đưa bạn đi nước ngoài vào buổi chiều, tôi phải bắt chuyến bay từ Cần Thơ đi Sài Gòn buổi trưa. Chuyến bay chỉ độ 15 phút mà tôi tưởng chừng dài quá đỗi, nỗi sợ không kịp nhìn nhau lần nữa ở phi trường Tân Sơn Nhất. Bạn đi rồi mà mình còn giữ thẻ lên máy bay để đánh dấu ngày ly biệt, biết rằng những chuyến bay sẽ chia lìa mãi mãi. Dẫu biết rằng thời đại thông tin, khoảng cách được rút ngắn bằng những lần Skype hay điện thoại, nhưng giống như nhà xã hội học John Urry từng khẳng định rằng “sự hội ngộ tận mặt” (corporeal proximity) bao giờ cũng có ý nghĩa quyết định cho khoảng cách.

Cũng vì cảm nhận được sự cần thiết của trải nghiệm mắt nhìn tận mắt mà tôi đã cố tình khám phá đất nước Hồi giáo giàu có Brunei. Đứng lặng lẽ một mình ở thánh đường Jame A’sr mà tôi cứ ngỡ mình đang đi lạc đâu đấy thôi ở làng Chăm Châu Giang, nghe tiếng trống paranung, ghinang rộn rịp mà âm trầm theo từng nhịp thở nhịp tim, điệu đà như mùa lãnh mỹ a đen tuyền màu nưa hong nắng ngoài song. Mua một tua du lịch ở làng nổi Water Village mà lại giật mình tưởng mình đang ngồi trên xuồng đi ra chợ nổi Cái Răng vào sáng sớm, giật mình vì chỉ nghe người ta nói tiếng Mã Lai, tiếng Anh, tiếng Pháp. Ăn cái bánh bò xứ lạ mà lại chép chép miếng bột, so kè với bánh bò lục tỉnh đường thùng vàng xin xỉn ở miền quê thơm mùi mía đường bùn đất. Tít xa về phía tây bắc mới có dòng sông Hậu dung dưỡng phù sa bùn đất mỗi năm sau ngày tết Đoan ngọ.

Bao giờ bay về hướng nam tôi cũng ngoái cổ nhìn sông Tiền, sông Hậu, cố nhìn cây cầu Rạch Miễu màu gạch tôm chói chang trong bình minh giòn rụm trên đầu, nhìn những vạt dừa miên man xanh ngắt bị cắt khúc bởi những dòng sông con rạch như ổ bánh da lợn xanh màu lá dứa được bà bán hàng cắt ra đủ mươi khúc ngoài chợ Chùa Bến Tre. Tôi thường dõi mắt xác định cầu Mỹ Thuận, rồi cầu Cần Thơ, hay những mảnh ruộng vườn nằm im thin thít dưới ngàn mây trắng đục. Tôi biết mình đang bay qua miền Bạc Liêu muôn ngày nắng gió, ra vùng lấn biển mênh mông nơi Phật Bà Nam Hải đang độ trì cho những lòng tin vào số phận luân hồi. Tôi biết mình đang bay ra vùng biển Côn Đảo tinh khôi như bông lài hàm tiếu buổi sớm đọng hơi sương, nơi những người dân tha hương từ miệt Hậu Giang ra lập nghiệp, khùng khục cười nhìn tôi nhăn mặt cố nuốt con sâm biển dai nhách mà giòn giòn ngọt ngọt. Rồi tôi bay ra xa nữa, đến khi biển chỉ là một màu xanh ngút mắt. Ra ngoài biên giới quê tôi, tôi lại cầu mong một chuyến bay về.

Trong những chuyến bay về khi máy bay gần hạ cánh, dù chuyến đi dài hay ngắn, dù đi tuyến nội địa hay quốc tế, tôi cũng nhìn ra ngoài cửa sổ để thỏa thích ngắm Sài Gòn đang nở ra to rộng sau bức tường mây với dòng sông uốn lượn chảy quanh thị thành đô hội. Nỗi nhớ quê hương trào lên trong tâm tưởng khi mặt đất to lớn phình ra. Bạn hỏi tôi nhớ gì khi máy bay đã đáp xuống quê hương? Tôi thật sự không biết nhớ ai hay nhớ nhung điều gì cụ thể cả. Có lẽ tôi nhớ Sài Gòn với cái nắng hừng hực lúc giữa trưa hay cơn mưa rào ban chiều bất chợt, cũng có lẽ đói lòng thèm tô bún riêu chỉ toàn huyết heo chấm nước mắm nặn nhiều chanh và ớt cay xè ở đường 3/2. Có lẽ tôi nhớ ly cà phê sân bay đắng nghét nghèn nghẹn ở cổ khi phải chia tay với người bạn thân nơi phi trường trong một chiều buồn hiu quạnh khi bạn đành lòng đi về xứ cờ hoa xa tít mù, có lẽ sau chuyến đi dài mệt nhọc mong được lăn mình lên chiếc giường sau nhà ở miệt cù lao êm ả và nằm im nghe tiếng chim kêu ban sớm ngan ngát thơm mùi ngọc lan còn sót lại lúc tàn đêm, có lẽ nhớ mùa hoa phượng đỏ rải thảm khắp đồng bằng, hay nhớ chuyến đò dọc chạy tà tà về miệt vườn dừa vườn quýt giữa dòng Tiền Giang bát ngát.

Có lần tôi chỉ xuống dưới mặt đất và buột miệng nói với ông khách già người nước ngoài ngồi ghế cạnh bên mà tôi chưa bắt chuyện trong suốt chuyến bay hai tiếng đồng hồ, “That’s my homeland!” (“Đấy là quê hương của tôi!”) Ông quay lại nhìn tôi, mỉm cười rất nhẹ nhàng, thông cảm rồi chỉ ngược lại hướng chúng tôi vừa mới bay qua và nói, “That’s also my homeland!” (“Đấy cũng là quê hương tôi!”) Mỗi người chúng ta đều có quê hương, và tôi nghĩ rằng chuyến bay nào cũng sẵn lòng chở theo nỗi nhớ quê hương mà hành khách ký gởi không cần xác nhận tên họ.

Rồi vài năm sau nữa thì việc đi lại bằng máy bay trở nên quá quen thuộc với tôi: khi thì đi công tác, khi thì đi du lịch, hay thậm chí đi vì chỉ muốn đi máy bay! Giấc mơ đi máy bay của tôi bây giờ đã trở thành hiện thực. Tôi một mình đi vào nhà ga quốc nội, quốc tế, làm thủ tục lên máy bay lẹ làng, đôi khi còn giúp những ông bà già nhà quê lụp chụp làm nốt các thủ tục còn lại. Tôi điềm nhiên ngồi vào chiếc ghế do chính mình lựa chọn trên mạng, dù đôi khi nó nhỏ rị như ghế xe đò Mai Linh, và ung dung ngắm cảnh bình minh giữa những tầng mây xanh biếc.

Ước mơ của tôi bay bổng khi máy bay chao mình chào phố thị để băng ra miền ngoài nắng gió miên man. Và lần nào cũng vậy, tôi lại nghĩ về cha tôi lúc ẵm tôi đứng lên bánh máy bay ngoài phi trường Tân Sơn Nhất, về những chiếc lá mít quê mùa thô kệch của chúng tôi ngày ấy, và về những giấc mơ phiêu lưu trong cuộc trần thế vô bờ của tuổi lên mười. Chúng tôi đã sống qua tháng ngày êm đềm bằng những giấc mơ xa vời, và những giấc mơ này lại nuôi dưỡng hoài niệm thanh bình trong lòng chúng tôi, dù bây giờ tóc mình bắt đầu ngả sang màu khói sương.

Nguyễn Hồng Chí

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác