Khi đàn sếu bay lên

 

(Toquoc)- Ra khỏi cánh đồng năn, tới ngã ba, ông Sáu lượng sượng không biết về nhà hay ra gò mả. Chừng như bảy, tám tháng nay ông chưa ngó qua, nơi mộ thằng Hạc nằm đó. Theo con tim mách bảo, ông ra gò. Trên đường, ông ghé mua bó nhang thơm.

Từ xa ông Sáu không còn nhận ra khu gò quen thuộc. Một màu xanh rờn rợn. Ông giật mình, cây ma dương quái ác đã lan tới khu gò này. Tới nơi, chẳng lẽ quay về! Ông bai bả rẽ ma dương, loanh quanh rồi cũng tìm ra mộ thằng Hạc. Ông gắng gỏi nhổ những cây ma dương quanh mộ cho quang quẻ. Ông thắp nhang, thầm thĩ: “Hạc à, ba ra thăm con đây...”. Trong khói nhang ngan ngát, ông nhớ lại bao ký ức buồn đau.

Khi đàn sếu bay lên  - ảnh 1

Chiều hôm đó, trời vàng rực. Những chùm nắng trải xuống đồng năn như thảm lụa vàng. Bầy sếu bồng bềnh trong vũ điệu nhịp đôi. Đẹp như bức thuỷ mạc thiên tạo. Ông Sáu cùng Hạc núp trong lùm cây say mê ngắm những “vũ công” sành điệu. Cậu con trai mười hai tuổi thầm thì: “Con thấy nhiều loài chim vờn nhởn nhau nhưng chưa loài nào múa đẹp và kỳ lạ như loài sếu. Ba trông kìa! Chúng múa từng đôi một. Con mái trong, con trống ngoài. Chúng vờn theo vòng xoay ngược chiều kim đồng hồ. Mỏ hướng vào nhau, chân co chân duỗi, dập dờn huyền ảo…”. Ông đâu còn cái tuổi mơ mộng. Già rồi, ông nghiêng về những điều tín ngưỡng, tâm linh.

Đang miên man suy nghĩ, ông giật thột khi Hạc vỗ vai ông: “Ba à, hình như có tiếng máy bay!”. Hai cha con nín thở, lắng nghe. Không kịp ứng phó. Chiếc đầm già lừng lững xuất hiện. Nó ngoặt vòng rồi phóng M79 xuống bầy sếu.  

Bị bất ngờ, bầy sếu hoảng loạn, mất phương hướng, tao tác chạy loạn xạ. Con vọt lên trời. Con lao xuống đầm sen. Con táp vô rừng tràm. Con lủi đại mấy lùm cây. Bắn phá hồi lâu, chiếc đầm già rống hồng hộc như chim ưng khát máu rồi bay về hướng Sài Gòn. Trên đồng năn, cảnh tượng thật đau lòng. Số chết, số bị thương kêu ngắc ngoải. Nắng chiều đỏ lựng như màu máu.

Bỗng Hạc ghì ghị vai ông. Ánh mắt hai cha con hướng về tiếng động. Tiếng rột roạt vừa ngập ngừng sợ sệt, vừa như thảng thốt khẩn cầu. Ông lo lắng: chẳng lẽ sấu bông, trăn tượng nghe hơi người đến tấn công? Không, trước mắt ông không phải loài ông nghĩ. Có đôi sếu lủi vô lùm cây nơi cha con ông núp.

Bất ngờ gặp người, đôi sếu sững lại, dương cặp mắt tròn xoe, chiếu ánh mắt vào hai cha con. Đã nhiều lần chạm mắt các loài chim nhưng ông chưa thấy ánh mắt nào lại sáng trong, thông minh và nhân hậu như sếu. Gặp người, cả hai hốt hoảng muốn quay lui, nhưng không thể. Hình như chúng đuối sức do bị thương. Con lớn lông tơ tướp, máu tứa trên lưng. Con nhỏ chân cà nhắc. Chúng vươn cần cổ hình dấu hỏi, chăm chắm nhìn cha con ông. Ông từ từ trườn tới, nhẹ nhàng đưa tay vuốt lên lưng sếu, làm quen. Sếu quay lại cạp cạp vào tay, ý chừng bảo đừng quấy rầy, để sếu được yên. Dường như chúng không đủ sức thoái lui, lẩn trốn.

Thấy đã yên, ông bường ra bãi chim. Cảnh tượng thiệt thê thảm. Mấy chục con chết nằm rải rác. Máu vương đỏ bùn, đỏ cỏ. Ông gom những con chết lại rồi quay về lùm. Hai cha con, mỗi người ôm một sếu lầm lũi về nhà. Tới nhà ông bảo bà trông chừng, còn ông và Hạc mỗi người cái leng qua đồng năn chôn những con sếu ông gom lúc nãy. Tới nơi, Hạc hỏi: “Sao lại chôn? Mình mang mấy con về nấu cháo và cho hàng xóm nhậu, được không ba?”. Ông trừng mắt:

- Không được! Sếu là linh điểu, được người đời thờ phụng. Sếu luôn mang sự may mắn và những điều tốt lành đến cho mọi người. Ăn thịt sếu, mình là kẻ có tội với thần linh, với trời đất đấy…

Hì hụi chôn xong cũng là lúc trời sập tối. Hai cha con thập thững ra về. Tới nhà, không thấy sếu, ông hoảng hồn, giọng như có lửa:

- Sếu đâu? Tôi bảo bà trông chừng…

Bà thủng thẳng:

- Vừa thấy đó. Tôi vô nấu cơm. Không chừng…

- Không chừng, không chừng cái con khỉ. Mất cặp sếu. Bà không yên với tôi đâu!

Nhìn ông, bà mủm mỉm cười:

- Biết tánh ông yêu sếu, quý sếu hơn cả tôi. Dỡn ông chơi. Tôi úp trong bội nhứt đó. Ông vừa bụng chưa?

- Biết mà! Chưa khi nào bà trái ý tôi. Bà mang đèn ra đây để tôi coi sếu bị thương nặng nhẹ ra sao.

Bà sẽ sàng:

- Hai cha con vô ăn cơm kẻo đói. Sếu bị thương chút xíu, chẳng chết được đâu.

- Hai má con ăn trước nghen! Bụng tôi chưa thấy đói.

Ông chưa ăn, bà đâu dám. Hạc cầm đèn. Ông nhẹ nhàng sờ nắn từng con. Đau đớn, kiệt sức, sếu nằm chịu trận, nghển cổ nhìn ông cảnh giác. “Khám” xong, ông ngậm ngùi:

- Con lớn là con trống, bị thương ở lưng. Con nhỏ là con mái, bị ở giò. Hình như chúng là cặp “vợ chồng”. Thiệt tội nghiệp!

Cả nhà chìm trong im lặng. Ngọn đèn trăn trở trong đêm. Ông thậm thượt bước quanh sân, có vẻ nghĩ lung lắm. Thấy vậy bà ngập ngừng:

- Ông vô ăn cơm, nguội cả rồi. Chuyện chim chóc mai sẽ tính.

Ông nổi quạo:

- Lúc này, việc cứu chúng như cứu người. Bà bảo để mai, nghe sao đặng! Bà có biết sếu là loài linh điểu? Má con vô ăn trước. Tôi đi có việc.

Trăng treo lơ lửng ngọn tràm thì ông về. Ông đưa cho bà nắm lá cây bảo đâm nát. Ông mở hai lọ trụ sinh vừa mua ngoài tiệm, rồi trộn đều với nắm lá vừa đâm. Hạc giữ, ông nhẹ nhàng đắp lá thuốc lên vết thương cho từng con rồi dùng băng, băng lại cẩn thận. Sếu không phản ứng gì. Mỏ mấp máy, chừng như chúng muốn cảm ơn ông.

Ông ngả lưng trên bộ ngựa mát lạnh, vậy mà vẫn không sao ngủ được. Trở dậy, cầm đèn ra coi. Mắt sếu bắt ánh đèn phát ra chùm sáng xanh như ngọc. Ông thầm nghĩ, chỉ có loài linh điểu mới có ánh mắt này. Quý lắm! Linh lắm!

Mặt trời chớm ngọn trâm bầu. Ông lấy lúa cho sếu ăn, chúng ngó lơ. Lấy tôm cá, chúng cũng làm thinh. Những nếp nhăn trên trán lại nổi hình dấu hỏi. Ông chợt nhớ ra: Sếu là loài “thanh tịnh, ăn chay”. Nghe đâu sếu từ Nam Mĩ, từ cao nguyên Gô Bi xa xôi vượt hàng vạn dặm về đây chỉ để ăn củ năn. Củ năn như là món “đặc sản” trời dành cho sếu.

Hai cha con lại tất bật qua đồng năn. Bà thảng thốt: “Cha con sang đó, đào bươi cẩn thận, kẻo đụng phải bom bi, M79 chưa nổ. Nhớ canh chừng máy bay, pháo chụp”. Tiếng ông với lại, bà yên tâm, tôi biết rồi.

Tới nơi, lựa đám năn tốt, hai cha con đào đào bươi bươi miết. Đầy giỏ củ mang về. Sau khi rửa sạch, ông vãi cho sếu ăn. Chúng uốn cần cổ rà rà trên đám củ năn, hít hà rồi vươn cổ kêu: kiu… kiu… kiu… vẻ vui mừng. Chúng chậm rãi cạp từng củ ngon lành.

Mỗi ngày ông đắp thuốc cho sếu một lần. Như thần dược, mươi ngày sau, đôi sếu nhúc nhắc đi lại được. Hơn tháng, vết thương lành hẳn. Ông thả sếu trong sân như thả gà thả vịt. Thấy vậy bà bảo thả tự do, khác nào cá gặp nước, chim gặp trời... Ông bảo, sếu là loài thuỷ chung, không dễ gì bỏ đi. Với lại, muốn bay sếu phải “đề ba”, phải lấy đà chạy mấy chục thước. Sân nhà mình ngắn, sếu không cất cánh được đâu. Hơn nữa, sếu bay phải có bầy đàn. Không bầy đàn, chúng chẳng biết bay về đâu.

Hàng ngày ông cho sếu ăn những củ năn tươi ngon nhất. Ông cho chúng uống nước mưa trong khạp. Ông nảy ra ý nhào củ năn với mật ong, như là thứ “bùa mê” cho sếu ăn. Ông mong sếu quên bầy đàn nguồn cội, để sống đời ở kiếp với ông. Phải nói, được chăm sóc, nuôi dưỡng như một thành viên đặc biệt trong gia đình, đôi sếu tỏ ra quyến luyến và rất mến ông. Hàng ngày, ông làm gì, đi đâu, đôi sếu đều đi theo. Sếu với ông như hình với bóng.

                                                * * *

Mấy bữa nay ông đổ bệnh, chân tay không sao nhúc nhắc nổi. Ông hối Hạc sang bươi củ năn cho sếu. Bà bảo, ông à, mình ên thằng nhỏ sang tôi thấy lo…”. Ông gắt:

- Hết năn, chẳng lẽ bỏ sếu đói! Cắt bữa. Bà có chịu nổi không?

Biết tánh ông, bà nín nhịn.

Hạc đi khỏi lúc lâu, bà rầu rĩ: “Ông à, thằng Hạc qua đó, ruột gan tôi nôn quá chừng. Sớm nay ra mở cổng, tôi gặp rắn hổ băng qua trước mặt. Khi vô bếp lại gặp nhện sa. Toàn điểm gở!”. Ông đăm chiêu: “Thiệt tình… bà mê tín không ai bằng”. Cầm tách trà, ông vừa uống vừa thấy bồn chồn. Rồi tự dưng tách vuột khỏi tay rớt xuống nền gạch tàu, nát vụn. Như cộng hưởng của tâm linh, tự nhiên ông thấy người nóng hực, mồ hôi rớt lã chã. Giật mình, ông bảo bà kêu thằng Hạc về ngay. Không kịp chụp cái nón, bà lật đật trờ qua đồng năn, khum tay: “Hạc ơi… Hạc à… về ngay con…”. Tiếng kêu ngược gió, hắt trở lại chập chờn âm âm u u như tiếng vọng từ miền xa thẳm. Ở nhà ruột gan ông như có lửa. Quên đau đớn mệt mỏi, ông vọt ra khỏi nhà, hối hả rượt theo bà.

Không kịp nữa rồi! Trên đồng năn, nơi con ông đang bươi, một tiếng nổ trầm đục cùng đụn khói cuộn lên màu chết chóc, tang thương.

Trời đất quay cuồng, ông gục xuống mê man bất tỉnh.

Lúc ông tỉnh lại thì Hạc đã được bà con chòm xóm đưa về nhà, đặt trên bộ ngựa, mắt khép hờ như đang ngủ. Ông bật dậy ôm Hạc, gào thét: “Hạc ơi! Con chết thiệt rồi sao? Trời ơi! Tôi hại con tôi! Nếu tôi không hối nó thì đâu đến nỗi. Con có oán ba không…”. Mọi người xúm lại khuyên can. Hồi lâu ông nguôi dần đau đớn. Ông run rẩy sờ nắn khắp người Hạc. Bỗng ông giật mình khi thấy Hạc nắm cái gì đó trong tay. Năm ngón tay cứng ngắc, gỡ hoài không ra. Trong đám có người bảo đâm gừng nhào với rượu mạnh đem xoa bóp lên hai bàn tay. Nhưng lạ thay, càng xoa, bàn tay không những không mền mà dường như lại cứng thêm! Không khí thiệt nặng nề, căng thẳng. Bất chợt có tiếng: kiu… kiu… kiu... Như tâm linh mách bảo, ông chạy ra sân ôm sếu vô. Sếu cà cà mỏ lên người, lên đôi tay Hạc. Như có phép mầu! Bàn tay từ từ mở, những củ năn rớt ra. Sếu thản nhiên ăn từng củ. Mọi người kinh ngạc chắp tay xá lia lịa.

Bàn tới bàn lui, cuối cùng ông nhờ chòm xóm chôn con trai ngoài gò mả.

***

Tháng ngày lặng lẽ trôi. Bất ngờ ông bắt gặp những bước chân ngập ngừng, lạc nhịp của đôi sếu. Chúng không còn quấn quýt bên ông như trước nữa. Hình như chúng muốn vượt thoát khỏi ngôi nhà và cái sân nhỏ bé của ông. Nhiều lúc chúng nghên nghển cổ đăm đắm dõi về phương xa thẳm. Ngày đôi lần sếu đỏ mòng, phồng cổ: kiu… kiu… kiu… như gieo “niềm trắc ẩn” vào thinh không để tìm bầy gọi bạn. Nghe da diết đến nao lòng! Mỗi khi mùa năn đến, bầy sếu từ phương xa lại bay về. Chúng vờn nhởn, nhẩy múa trong hợp âm: kiu… kiu… kiu… như bản giao hưởng tuyệt tác của đất trời. Đôi sếu của ông cảm nhận được những âm điệu đó. Chúng vươn cổ mong ngóng, đợi chờ. Đôi cánh bồng bềnh nhún nhẩy như muốn vút lên trời xanh. Lẽ nào chúng bỏ ông! Chẳng lẽ mọi cố gắng mấy năm nay, bỗng dưng thành dã tràng xe cát! Bình tâm, ông nhận ra: dẫu sao sếu cũng là loài chim. Trời cho chùng đôi cánh để tự do bay nhẩy. Không cho bay nhẩy, chúng không còn là chim nữa. Không cánh chim nào lại không tha thiết với trời xanh! Dẫu có vặt trụi thì lông vẫn mọc ra, ông không thể cản ngăn, cưỡng đoạt. Quan hệ giữa người với chim, có chăng là quan hệ tương sinh, bình đẳng trong thiên nhiên. Nhất định có ngày ông phải trả chúng về với trời xanh mới phải đạo. Ông bảo bà sếu là loài chim, không thể sống với mình mãi được. Mùa năn này tôi sẽ thả chúng về với thiên nhiên, với bầy đàn của chúng.

***

Mùa năn đến. Ông gắn vô chân sếu một vòng đồng, như “vật làm tin”. Bầy sếu đã về. Ông lặng lẽ ôm đôi sếu ra đồng năn, núp trong lùm cây cuối gió. Khi bầy sếu đang mải mê moi củ năn, ông thả sếu của ông ra. Đôi sếu đăm đắm nhìn ông… Ông vỗ lưng chúng như động viên, khích lệ: “Về với bầy đàn đi con, ông trả tự do cho con đó. Có nhớ thì hàng năm về thăm ông…”. Như hiểu ý ông, chúng cúi đầu, lầm lũi bước. Nhưng, bất ngờ con trống quay lại, vươn cổ gật gật, mỏ mấp máy như muốn tạm biệt ông và hẹn ngày gặp lại. Ông thấy mắt chúng đỏ hoe…

Trong lùm, ông chăm chú dõi theo từng bước chân đôi sếu. Ông mừng thầm, sếu của ông đã hoà đồng cùng bầy mà không gặp khó khăn trở ngại gì. Về nhà ông bảo bà, mọi chuyện đều suôn sẻ. Nhưng tôi lo! Mấy năm trời được nuôi như “quý tử”, nay thả ra với bầy đàn, không biết chúng có kịp thích nghi và đủ sức vượt hàng vạn dặm? Tôi biết, trước sau gì cũng có cuộc chia ly này, vậy mà sao vẫn thấy ngùi ngùi thương nhớ! Nghĩ cho cùng, mình không thể làm trái lẽ tự nhiên được…

Mùa năn lại đến. Ngày ngày ông ra đồng đăm đắm ngóng về phương xa. Ông thắc thỏm đợi chờ. Ông tin vào những điều tốt lành và hy vọng đôi sếu sẽ về thăm. Sự đợi chờ và niềm tin như điểm tựa tinh thần, như vòng xuyến tâm linh níu giữ ông với đồng năn, vời vùng sen vàng tràm biếc, với cuộc đời này.

Sự đợi chờ đã đến ngày cho trái. Bầy sếu đã về. Ông hồi hộp núp trong lùm. Ông căng mắt dòm mà sao chẳng thấy đôi sếu của ông đâu! Chúng quên ông rồi ư? Đang buồn hiu, từ bên rạch, tiếng bà vóng vót: “Ông Sáu à… về ngay… nhà có khách quý”. Ông hơ hải chạy về. Tới nhà, ông sững sờ thấy đôi sếu đón ông ngay đầu ngõ. “Khách quý” đấy ư! Như con cháu sau bao ngày gặp lại, ông ôm chúng vỗ về, âu yếm. Sếu cạ mỏ lên vai, lên cổ ông. Mắt chúng ngân ngấn nước. Ông sờ nắn chiếc vòng đồng. Ông cảm ơn trời đất, cảm ơn sếu không phụ lòng ông. “Vật làm tin” về thăm, đối với ông là phần thưởng tinh thần vô giá. Vô nhà, ông lui cui lấy củ năn trữ trong lu cho sếu ăn. Chúng ăn từ tốn ngon lành. Rồi… bất ngờ đôi sếu vươn cổ dương cánh, chân co chân duỗi, bồng bềnh trong điệu múa xum họp, mừng vui. Màn “ra mắt” thiệt độc đáo. Ông say sưa thưởng ngoạn vũ khúc đất trời. Ông bảo bà với đà này, dám chắc dăm ba mùa năn tới, nó sẽ dẫn cả bầy con cháu về thăm. Ông sẽ trữ thiệt nhiều củ năn. Ông sẽ mở rộng cái sân, đủ chỗ cho chúng vờn nhởn, vui chơi…

Gần nửa tháng trời xum họp, đã đến lúc chúng phải theo bầy. Tạm biệt ông, con trước con sau, nhịp nhàng vỗ cánh lượn mấy vòng trên bầu trời, dáng vẻ cao sang quý phái. Trong phút chốc như quên mình đang ở trần gian, ông thả hồn vào cõi Tiên, đất Phật. Ông thấy ông, thằng Hạc và cánh đồng năn bồng bềnh bay lên cùng bầy sếu…

Truyện ngắn của Phạm Văn Thuý

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác