Hồn về từ Sài Khao

 

(Toquoc)- Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Còi xe rúc lên trong đêm, 4 rưỡi sáng, chuyến xe sớm nhất rời Thành phố Thanh Hóa. Những ánh mắt người đi ngước lên xa xăm theo ánh đèn vàng lướt qua phố thị. Gió sông Mã thao thiết thổi, sau lưng thành phố vẫn ngủ yên.

Những hàng cây trứng cá ven đường Nguyễn Trãi lùi dần, rừng Thông chìm vào khoảng âm u, miên man rồi bất chợt òa ra một bình minh tươi đỏ của đất, thẫm xanh của mía. Đã chạm vào vùng cao.

Tôi thu mình, cố bám giữ lấy chiếc ghế đã long hết mối hàn. Xung quanh, lỉnh kỉnh những lốp xe, dây cáp, đòn bẩy, hòn chèn, thùng hàng đủ loại. Chuyến lên thường hàng dưới xuôi (xe máy, ti vi, đồ dân dụng hiện đại), chuyến về chủ yếu là các sản vật của rừng (măng, chim, gà Hmông, dưa Lào…). Về miền Tây Thanh Hóa, trong tôi cứ ám ảnh những câu thơ Quang Dũng: Tây Tiến người đi không hẹn ước/ Đường lên thăm thẳm một chia phôi. Mà thật, đừng hỏi người lái xe bao giờ sẽ đến!

Khoảng hơn 100 km đường nhựa khá yên ổn, xuyên qua Đông Sơn, Triệu Sơn, Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, chiếc xe “vùng cao” bỗng hộc lên, rùng mình lắc mạnh, tiếng máy nửa như gắt gỏng, nửa như hân hoan - cái hân hoan hoang dại của rừng, của núi khi chạm vào thân thể Mường Lát. Cuộc vật lộn bây giờ mới thực sự bắt đầu. Dưới kia, dòng sông Mã hẹp lại, ngổn ngang ghềnh đá, triền vực là rừng tre, vầu, luồng và cây dại lẫn trong đá. Mùa này, người dân đang đóng từng bè luồng lớn xuôi con nước chảy về mạn Quan Hóa. Tôi đã nghe những câu chuyện về nghề lái bè luồng này. Nhất bè, nhì xe! Chẳng biết cụ Nguyễn Tuân có “hư cấu” tí nào trong tùy bút Người lái đò sông Đà không, nhưng ở đây, để đưa một bè luồng qua những ghềnh đá ngổn ngang, lởm chởm thượng nguồn sông Mã hay vần chiếc xe qua đỉnh Pù Lộc Cộc, Dốc San, Lát Xê, Kéo Hượn, Kéo Cưa, Kéo Té, Nhi Sơn, Pù Nhi cũng xứng là “tay lái ra hoa”.

Con đường ngoằn ngoèo, loang lổ, xe chồm lên, hành khách chồm lên, hụp xuống, ngả nghiêng sang trái, sang phải, bụi lùa vào qua ô cửa lúc nào cũng mở, xông lên từ gầm xe, khói thuốc lào sặc sụa của mấy tay thợ làm đường, thợ lái máy ngược chuyến làm ăn, tiếng nói oang oang tục không chịu được của gã lơ xe, tiếng Hmông, tiếng Thái lẫn vào tiếng Kinh, quần Jean áo chẽn lẫn vào quần túm rộng ống, váy hoa rực rỡ, khăn và quấn chân nhiều tầng lớp của mấy cô gái Hmông,… Tất cả quyện lại thành chất riêng của những chuyến ngược ngàn. Phía trên con đường, những Ta-luy đất cao vút như chực đổ ụp, những con suối len lỏi, rừng cây, đèo núi cứ dựng mãi lên, xen lẫn những khoảng trống đã được phát quang là ruộng bậc thang thấp của người Thái, nương rẫy, những chòi canh ngô, canh lúa, để xe của người Hmông. Bánh xe miết vào con đường nhẫn nại, nhọc nhằn, nhích dần về phía cổng trời. Thật gần trước mắt tôi, Mường Lát hoang dại hiện ra. Những đứa trẻ người Hmông trần trụi chơi bên mó nước, người già ngồi thập thò trong bậc cửa nhà gỗ tối thấp, những người phụ nữ địu con bên chòi ngô, mấy người đàn ông ngồi xổm bên thềm đất, một gia đình Hmông di cư đang quây bạt, lũ gà xớn xác quanh một vuông đất đùn lên bởi đàn lợn đen mới dũi, trâu mẹ quay lại nhìn nghé con lơ đễnh, chiếc chuông “pinh ping” như nhắc nhở… Tất cả bừng lên, tiếng còi xe òa òa như tiếng chào. Tôi kịp nhìn thấy một nụ cười, ánh lên những chiếc răng vàng của cô gái Hmông đang phơi váy hoa bên chái nhà đón hội.

Chiếc xe ngã vào lòng thị trấn, chật chội và hân hoan, im lặng, mỏi mệt. Pom Puôi (tên cũ của thị trấn Mường Lát, Tiếng Thái có nghĩa là nơi con nước đi qua) lần nào gặp cũng lạ, càng quen càng thấy lạ. Càng lạ càng say. Tôi gò lưng trên con dốc ngắn về phía khu nhà Mặt trận. Những bàn tay như hoa trên đỉnh dốc vẫy vẫy.

 Hồn về từ Sài Khao - ảnh 1
Sài Khao trong mây


Bừng lên hội đuốc hoa

Về Mường Lát những ngày tết độc lập mới thấy không khí của một ngày đại lễ. Ở dưới xuôi khó tìm thấy niềm hân hoan dường ấy. Người Hmông đã xem ngày 2/9 là ngày lễ lớn trong năm của họ cùng với lễ Cầu mùa, Dựng núi, Giao ma… Thị trấn như một rừng hoa. Các ngả từ Pù Nhi lên, Mường Chanh, Quang Chiểu, Tén Tằn, Mường Lý xuống, Bản Lát, Pom Khuông sang… người Hmông trẩy hội tưng bừng. Nắng vàng lấp lánh trên những đồng bạc váy áo gái Hmông và trong đôi mắt trai Hmông, men hội đã lên nồng nàn.

Tết độc lập này núi đồi lại ngả nghiêng say, nhịp rộn ràng của điệu Khua Luống, điệu Khặp người Thái, điệu xòe tung váy hoa bạc trong tiếng Khèn, tiếng Chiêng, tiếng Trống của người Hmông, điệu Lăm Vông của Khách Lào, rượu ngô, rượu cần lại tràn những đêm không ngủ, thắng cố ngút khói như gọi mời. Trai gái lại tìm nhau. Đàn ông uống rượu, đàn bà và trẻ nhỏ ăn kem, đám trai gái bị mê hoặc bên những tủ kính điện thoại sáng lấp lánh… Nương đồi như dãn ra, ngơi nghỉ, dịp này người Hmông đi hội!

Rượu cứ rót, người Hmông uống từ sáng đến chiều, đến tối, đến khuya. Họ nói chuyện, kỳ lạ lắm, chuyện gì mà họ có thể nói suốt ngày đêm với nhau như thế. Say, người vợ Hmông cứ ngồi bên đợi chồng. Người Hmông bây giờ không xuống chợ bằng ngựa nữa, họ đã có xe máy tốt nhưng người phụ nữ Hmông vẫn ngồi phía sau thôi, vẫn như xưa đi sau đuôi ngựa của chồng. Khuya hơn, những đôi trai gái tìm nhau dường như đã gặp. Bên dòng suối nhỏ men về từ đỉnh Pa Đén, bên cổng chợ huyện, bên gốc cây lớn, bên đống củi, trong sân nhà văn hóa, những mến thương hay nuối tiếc của rừng núi có lẽ đã được giãi bầy. Năm nay nhuận, tết độc lập trùng dịp tháng Ngâu, người Hmông có biết không nhỉ?

 

Sài Khao sương lấp

Tan hội, những ngày nắng theo váy áo gái Hmông về bản, cất sâu vào mong đợi. Mường Lát âm u mưa. Lên Sài Khao lúc này là điều gần như không thể.

Được một chiều tạnh ráo, đêm không mưa, ban mai hừng lên phía Pha Luông, tôi quyết định lên Sài Khao. Cùng đi với tôi là một sĩ quan Biên Phòng kỳ cựu ở dải biên cương miền Tây này - đại úy Lê Tiến Dũng, đồn 483.

Chúng tôi xuất phát từ thị trấn Mường Lát, qua Bản Lát xã Tam Chung, men theo sông Mã chừng 3km, tôi ngạc nhiên quá vì đường nhựa ở phía này khá tốt. Đang chăm chú nhìn dòng sông Mã, nước dâng cao sau mấy ngày mưa, bất chợt chiếc xe máy rẽ ngoặt vào đường đất, nhỏ hẹp và ngoằn ngoèo. Lên Sài Khao phải đi qua đường Suối Loóng, Suối Báu. Có đi lần này mới thấm thía bước hành quân của đoàn Tây Tiến năm xưa: Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm/ Heo hút cồn mây súng ngửi trời/ Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống/ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Những con đường dốc đứng, nhỏ ngoằn ngoèo len qua những nương ngô, nương lúa người Hmông. Dưới là vực sâu, trên là núi dựng, con đường nhỏ chừng 50 đến 70 cm, trơn bết, lầy lụa đất. Xe chạy số 1, khét lẹt, như muốn bốc cháy. Tôi phải đi bộ nhiều quãng, miệng khô đắng vì khát. Gặp một dòng nước nhỏ chảy ra từ vách đá, chúng tôi dừng lại, múc nước dội vào xe làm mát máy. Bụm tay, tôi uống ngon lành dòng nước của núi rừng. Trên một đỉnh cao của Sài Khao, nhìn ra xung quanh, Suối Loóng ở dưới kia sau trập trùng sương núi, mây trắng bồng bềnh ngang tầm tôi đứng, phía xa là Trung Thắng, điểm cao ngang Sài Khao khoảng 1800m so với mực nước biển. Gặp một nương nếp người Hmông, lúa đương kỳ làm đòng, trổ bông, thơm kỳ lạ. Sài Khao, nơi có người Hmông ở còn phải đi xa nữa. Tôi ngước lên, một cây cổ thụ cháy đen chọc thẳng vào đỉnh trời gợi nhớ đến bức tranh Đêm đầy sao của Vincent van Gogh.

Rẽ vào một con đường nhỏ, được làm cửa “tự động” ngăn trâu bò (cửa có cần tre bập bênh để tự khép lại khi người đi qua), chú Dũng nói với tôi đã đến bản Sài Khao. Trên một khoảng đất trống, những người phụ nữ Hmông vừa địu con, vừa nói chuyện, tay liên tục đan móc khăn áo. Có người rũ búi tóc ra quấn lại, lũ trẻ con chạy loanh quanh một bờ rào đá, dưới gốc Mắc Khẻn ra hoa trắng như mận, đứa nhỏ hơn nép vào váy mẹ nhìn chúng tôi ngơ ngác. Trẻ con nơi đây thật lạ, chúng lấm lem như chiếc xe máy bao lâu rồi không rửa, sống lẫn với núi rừng, muông vật vậy mà chúng vẫn lớn lên, khỏe mạnh, làm chủ những vùng núi non hiểm trở.

Bản Sài Khao hôm nay có việc, có khách. Đã được báo trước nên khi chúng tôi lên, bố Vàng A Sỹ ra tận sân để đón tiếp. Tiếng là sân, thực ra là một bãi đất trống, trũng xuống trong một thung lũng cạn. Có lẽ, nhà Bố Sỹ là nhà to nhất bản, khói đang um lên trên nóc bếp. Đàn ông đang uống rượu trong nhà, đàn bà và trẻ con ở ngoài sân. Chúng tôi được bố Sỹ đưa vào nhà, căn nhà thấp, tối, gợi lên liên tưởng về “buổi sáng âm âm trong cái nhà gỗ rộng” của Thống lý Pá Tra. Người ăn uống nườm nượp. Từ cụ già đến người trẻ, thấy chúng tôi đều đưa tay bắt mừng rỡ với câu nói như đã quen tự bao giờ: “Anh khỏe chứ, mới lên à”. Tôi đến từng bàn chào mọi người, tay bắt mặt mừng, tiếng cười òa ra, vang vang trong căn nhà gỗ lồng quyện khói bếp đun đồ ăn cho một ngày uống rượu nữa.

Hôm nay là lễ Giao ma của người Hmông, mỗi năm một lần, luân phiên từng nhà trong bản. Với người Hmông, chuyện ngả một con trâu ăn cỗ hay mổ năm bảy con trâu bò cúng tế là điều không lạ lẫm gì. Năm nay, Bố Vàng A Sỹ, trưởng bản, làm thịt một con trâu to, đáng giá vài chục triệu đồng để cả bản uống rượu. Mâm rượu nhanh chóng được mang ra. Những người phụ nữ trong nhà bố Sỹ đi lại tiếp thêm thức ăn và rượu cho khách. Họ cười nói, đi lại nhưng sao trông vẫn cứ thấy lầm lũi. Đó là tục của người Hmông rồi, đã là ma của nhà này phải thế thôi.

Ngồi cùng chúng tôi là Vàng A Sùng (con trai út của Vàng A Sỹ), Vàng A Phỏng (con chú bác của Sùng), Vàng A Páng và thằng bé Vàng A Chẩu. Bố Sỹ ngồi cùng với một Thầy mo áo đen, một ông già râu tóc trắng, đội mũ nỉ và mấy người cao niên khác. Tôi mạnh bạo đến chúc sức khỏe các bố. Thầy mo đưa cốc rượu cho tôi run run: “Bố say rồi”. Thế mà, rượu vẫn uống, chuyện vẫn say, rượu hết lại đầy, đầy mãi lên. Thằng Chẩu ngồi tựa vào vai tôi. Nó không biết nói tiếng Chung (ở đây tiếng Kinh gọi là tiếng Chung), 9 tuổi, mắt ngơ ngác, đỏ ngầu và liên tục chảy nước. Nó đưa tay quệt ngang và mời tôi một chén rượu. Tôi cười và uống cạn cùng thằng bé, kéo nó xích lại, thấy người Hmông thật gần gũi.

Sài Khao hôm nay nồng men rượu. Mặt trời đã ngả qua mái nhà Vàng A Sỹ. Nghĩ tới “ngàn thước xuống” chúng tôi cáo biệt ra về. Chào nhau, bắt tay với nhiều lượt rượu tiễn nữa chúng tôi mới ra tới xe. Những người phụ nữ Hmông vẫn đứng trước sân, có lẽ người đàn ông của họ chưa về.

Bắt đầu mưa lớn. Những cơn mưa rừng ào ạt, tiếng nước chảy ồ ồ của con suối sau nhà như chiêu hồi lại như thúc giục. Núi lớn đã no nước, đổ ập xuống, những con nước mạnh cắt ngang mặt đường, sông Mã duềnh lên lên 5 - 6 mét, điện mất, Mường Lát bị chia cắt hoàn toàn với miền xuôi. Đêm nằm lại trên đỉnh Pù Lộc Cộc, tôi cứ nghe vất vưởng: Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

9/2012

Thanh Tâm

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác