Hiệu sách miền đất đỏ


Trong lúc sách và những vấn đề về sách đang là đề tài nóng trên các diễn đàn, báo chí, chúng tôi xin giới thiệu
truyện ngắn Hiệu sách miền đất đỏ của nhà văn Nguyễn Hồng Thái để độc giả cùng suy ngẫm về tuyên ngôn của tác giả đối với sách: “Con người ta mà không đọc sách truyện thì làm sao có tâm hồn được”.

Truyện gửi đến độc giả bức thông điệp về vấn đề đọc sách, là thái độ tiếp nhận tri thức, là ứng xử văn hóa trước di sản tinh thần của cha anh, là việc phải làm sao để gìn giữ nếp xưa, để con người Việt Nam hôm nay, văn hóa Việt Nam hôm nay hiện đại, tiên tiến mà vẫn “đậm đà bản sắc dân tộc”. 

 

HIỆU SÁCH MIỀN ĐẤT ĐỎ

Truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Hồng Thái

 

Những năm bảy mươi, những ai đi qua huyện vùng cao Nghĩa Đình của tỉnh Nghệ An thế nào cũng lấy làm thích thú trước cảnh một hiệu sách nhân dân bề thế trụ ngang nơi ngã Tư. Nói đến ngã Tư, thời ấy người dân ở đây liền hình dung ngay ra được ấy là chỗ nào. Bởi thị trấn mới tự phát xác lập bên dòng sông Hiếu vừa trong xanh vừa hung dữ, cái ngã tư duy nhất được hình thành giữa con đường đất đỏ bụi mù với đường quốc lộ 48 rải đá lởm chởm, báo hiệu sự ra đời của một phố huyện trẻ măng. Muốn gì thì muốn, dẫu chưa biết luật giao thông là thế nào, dù đi bộ hay xe đạp, cứ qua ngã tư là phải ngó nghiêng, trông trước trông sau. Thành ra cái ngã tư trở thành tiêu điểm, là nơi để nhiều người dân miền núi này có ý thức thói quen về đô thị và tự hào về tốc độ đô thị hóa của vùng đất hổ báo mới rút lui độ vài chục năm nay. Phố mà không có ngã ba, ngã tư thì còn gì là phố. Đằng này phố huyện Nghĩa Đình đã có ngã tư, lại thêm một hiệu sách chiếm những hai chục mét mặt đường, ngày nào người ra vào cũng tấp nập kể cũng đáng nể lắm.

Chủ hiệu sách này là anh hoe Bản, khoảng 40 tuổi, trán cao, mắt đen và sâu, khi đã nhìn ai thì đôi con ngươi cứ thẳng đứng. Dân quê gọi anh là hoe Bản vì anh có con gái đầu lòng. Hoe Bản người cao, lại gầy nên trông cứ lêu đêu, có khi phải gần tới mét tám. Nhiều người bảo cao nhất thị trấn. Nghe đâu hồi 30 tuổi, đội bóng của tỉnh có ghé qua huyện đá giao lưu, ông bầu của đội bóng quên cả chỉ đạo chiến thuật mà chỉ chăm chú theo dõi cử chỉ của một khán giả là anh Bản. Sau trận đấu, ban lãnh đạo tìm đến hiệu sách mời anh Bản đầu quân hy vọng với chiều cao lý tưởng lúc bấy giờ, anh Bản đá vị trí tiền đạo, chỉ đứng mà đánh đầu còn hơn khối anh thấp bé nhảy lên mà không chạm được bóng. Anh Bản cảm ơn, chối từ, viện lý do chỉ được cái chiều cao, nhưng tuổi cao xương cứng, không thể rê dắt bóng như lớp trẻ. Đó chỉ là lý do bên ngoài. Còn bên trong điều mà anh Bản không nói ra đó là cái hiệu sách của huyện vừa mới được giao cho anh cai quản, đã níu chân anh. Anh không thể xa nó được. Nhất là hiệu sách chỉ mới có lèo tèo dăm ba quyển truyện mỏng dính, sờn gáy.

Còn nhớ ngày đầu tiên cái biển gỗ viết nắn nót bằng nhựa đường “Hiệu sách Nhân dân” được treo ngang ngôi nhà ngói năm gian chính thức khai trương hiệu sách đầu tiên của thị trấn. Hôm ấy độ đầu hè, nắng vừa mới lên, thị trấn đang im lìm, không có cả tiếng xe ô tô, thì bất ngờ một dây pháo nổ kêu to như pháo Tết. Sau đó là tiếng chạy gấp gáp của trẻ con từ các ngả hướng về tiếng pháo, có cả bước chân của người lớn, vồi vội; có cả tiếng đạp xe hối hả… Và kia rồi, xung quanh ngã Tư, vòng trong vòng ngoài toàn người là người. Họ đứng nhìn về nơi khói pháo đang loãng dần ra. Sau làn khói pháo trắng như hơi sương, chủ hiệu sách là anh hoe Bản hiện ra nhe răng cười, chiếc áo trắng nhiều nếp gấp hình như mới diện lần đầu được sơ-vin trong chiếc quần xi ống tuýp, trông anh Bản như một cái cây bạch đàn khẳng khiu đang muốn cao nữa lên. Cạnh anh Bản là bác chủ tịch già, thấp lùn, cũng cười tươi, nụ cười vững chãi. Lúc ấy, người lớn thì bàn chuyện cái biển chữ, người thắc thỏm khen đẹp, người chê nét mảnh quá, lẽ ra phải đậm hơn. Còn bọn trẻ con thì ùa vào hiệu sách như bầy chim. Rồi chúng bị khựng lại trước một hàng rào bằng dãy bàn gỗ học sinh còn thơm mùi chò chỉ. Hàng rào ấy chạy dài thông suốt qua năm gian nhà ngang. Còn phía trong kia chỗ sát vách tường là những chiếc giá sách được xếp một cách ngay ngắn, gáy những quyển sách hướng ra ngoài chi chít là chữ. Bọn trẻ cứ đi đi lại lại ồn ào trông theo sự giới thiệu của anh Bản. Hình như chúng vẫn khao khát được xem xét những quyển sách bằng tranh, càng nhiều tranh càng thích, chỉ cần một ít chữ chú thích ở dưới là đủ. Chúng bỏ qua rất nhanh những quyển sách dày cộp mà phần nhiều là đã cũ. Sau đó người lớn cũng ồn ào kéo vào. Anh Bản quan sát thấy trong dòng người xem sách có cả những người không biết chữ. Họ cũng thích thú phấn khích không kém, mắt dán vào chỗ những bìa sách nhiều màu sắc. Lúc ấy trông mặt anh Bản đỏ lựng, mắt long lanh, đi lại nhẹ thênh, người say nắng dễ nhầm anh với một chớp sáng. Bác chủ tịch có nói nhỏ với mọi người rằng trong mấy trăm quyển sách ở đây, có một phần ba là sách riêng nhà anh Bản. Đấy, cứ nhìn, quyển nào cũ và dày dày là của nhà anh ấy cả. Đấy đừng có đùa nhé, toàn của phe ta, phe Liên Xô viết cả. Đến tôi đọc còn khó, còn phải nhờ anh Bản giải thích mãi mới hiểu nữa là các bác. Đừng có mà đùa, toàn sách hay, sách khó đấy. Trên đời, quý nhất là cái anh sách. Các bác có thấy đúng không?

Mọi người chỉ cười. Lâu lắm mới thấy bác chủ tịch thị trấn vui hết cỡ. Ngày thường bác ấy hách phải biết. Năm gian nhà ngang của hiệu sách lại chính là của bố mẹ bác ấy hiến cho huyện. Bác ấy có người bố trước làm ký dây thép cho Pháp ở Vinh, do cãi lý với quan Tây bị chúng đày cả nhà lên rừng phụ trách trạm dây thép ở Phủ Quỳ. Ngôi nhà năm gian toàn bằng lim, cột đen bóng, chắc như nung, bốn bề thưng bằng gỗ tốt và dày bản. Khi làm hiệu sách, chỉ cần dỡ bỏ bốn vách ngăn, thế là thành một cái nhà thông suốt như đình làng. Xung quanh nhà ngày xưa và hiệu sách bây giờ vẫn còn một khoảng vườn rộng kéo dài vào sâu ở phía sau, vườn nhãn xanh tốt, um tùm. Những cây mít già nua, sần sùi, mang trên mình hàng chục quả lớn bé, gai xanh tựa như một bầy trẻ con đang bám vào mẹ thiu thiu ngủ. Anh Bản bảo, khu vườn ấy sau này sẽ cải tạo làm nơi cho mọi người đọc sách. Ý anh nói, hiệu sách vừa bán sách, vừa là thư viện. Tức là có thể vừa bán vừa cho mượn. Ôi, thế thì thích quá, lại còn cho mượn nữa à? Nghe anh nói, nhiều người gật gù khen hay, tuy không hiểu lắm.

Từ ngày đó anh Bản một mình cai quản một hiệu sách vừa ồn ã vừa thâm nghiêm. Bọn trẻ con hỏi quyển gì anh cũng biết. Thế mới tài. Lũ trẻ mê nhất vẫn là chuyện thiếu niên miền Nam đánh giặc, rồi đến du kích thiếu niên Đình Bảng đánh Pháp, chuyện thiếu nhi Liên Xô chống phát xít Đức… Trong con mắt bé thơ của lũ trẻ, hình như chúng nó biết tới có những người anh em nào đó, gần gũi lắm nhưng ở xa tít bên kia địa cầu. Ví như chị Dôi-a, anh Paven Coócsaghin, cả những người khốn khổ như mẹ con Côdét ở Pháp. Rồi gần gũi nhất là mẹ con chị út Tịch đang cầm súng ở miền Nam. Cả huyện chỉ duy nhất có một hiệu sách. Phần thưởng lớn nhất của lũ trẻ ở các nông trường, lâm trường là được bố mẹ chở xe đạp lên hiệu sách. Chúng nó nhìn những quyển sách mà mắt sáng long lanh. Có đứa khẽ reo lên khi được bố mẹ mua cho một vài quyển mỏng rồi ôm riết vào lòng, phải về nhà mới dám đọc, cứ như nếu đọc ngay ở đây thì mất hết chữ không bằng. Tiếng lành đồn xa. Có một buổi tầm trưa, anh Bản sửa soạn về nhà ăn cơm thì phát hiện một tốp khoảng mười cháu nhỏ lớp 5, lớp 6 ùa vào hiệu sách, đứa nào đứa ấy mồ hôi ướt đẫm lưng áo, mặt đỏ như gấc, nhưng cứ chen nhau ngó nghiêng vào các giá sách. Bọn con trai chỉ mặc quần cộc, chân đất dính đầy bụi đỏ. Anh Bản đưa cho mỗi đứa mấy quyển tha hồ chọn. Chúng chuyền tay nhau xuýt xoa tíu tít như chim. Xem lướt xong, trả lại tất cả, mắt nhìn theo tiếc rẻ. Hỏi tại sao không mua, một cháu gái tự xưng tên là Hằng, da nâu bóng lễ phép thưa:

- Chúng cháu ở nông trường Đông Hiếu, rủ nhau đi bộ lên xem thôi. Bố mẹ không cho tiền.

Anh Bản suýt kêu lên. Trời ơi, từ Đông Hiếu lên thị trấn hơn chục cây số. Con cái nhà ai mà gan thế này? Đã đến giờ nghỉ trưa, anh Bản xua bọn trẻ để đóng cửa. Lũ trẻ đi ra nhưng xin ngồi nghỉ trước cửa một lúc để chuẩn bị quay về. Mấy đứa con gái lột mũ thi nhau quạt cho cả bọn. Nắng trong vắt, cây lặng gió. Nhìn mà thương lũ trẻ quá. Nỗi xúc động dâng lên trong lòng Bản nhẹ và trong suốt thật khó diễn tả. Anh quyết định không về nữa, bảo lũ trẻ:

- Này, chú bảo. Chú cho mỗi cháu mượn một quyển. Ra vườn ngồi đọc nhé. Đúng hai tiếng sau trả lại cho chú. Được không?

Phút chốc, lũ trẻ bật dậy reo lên, nhốn nháo. Sao chúng nó không biết đói là gì? Chúng cầm mỗi đứa một quyển sách đi ra vườn cây sau nhà, cắm cúi đọc không cần để ý đến điều gì nữa. Bản cũng uống một cốc nước, lòng xốn xang nhìn ra bầu trời mênh mang nắng. Anh không cảm thấy đói, mà thấy lồng ngực mình chộn rộn một niềm vui chen lẫn sự hãnh diện về việc làm. Anh rút tập “Chiến tranh và hòa bình” tìm đoạn đọc dở. Đây là sách riêng của anh, chỉ bày cho bạn tâm phúc mượn chứ không bán. Đang đọc, anh lại giật mình khi cô bé Hằng chạy vào nói:

- Chú gì ơi! Chú cứ đóng cửa về đi. Chúng cháu hứa là chờ chú đi làm sẽ trả lại sách đầy đủ. Cháu là đội viên, cháu có khăn đỏ đây.

Cô bé rút từ trong túi áo ra chiếc khăn đỏ thắm đã thắt nút. Bản thấy mến cô bé quá, nhẹ nhàng bảo:

- Không phải chú không tin các cháu. Chú bận nên không về. Thôi, cháu đừng ngại. Bảo các bạn là không được gấp sách, không được đánh dấu hay làm bẩn, rách của chú nhé.

Đúng 2 giờ chiều, bọn trẻ nộp lại sách rồi đội nắng hể hả ra về. Có đứa khoe, đổi cho nhau đọc đến 3 quyển. Sướng thế!

Sau đó, học sinh của nhiều trường trong huyện cũng rủ nhau về thị trấn tham quan hiệu sách. Có trường cử giáo viên mua sách, truyện về làm phần thưởng cho học sinh giỏi. Ngày giáp Tết, anh Bản còn được nhập về cơ man là đôi câu đối màu đỏ thắm, cùng với tranh ngũ quả, xấp cuốn thư có in ảnh Bác Hồ. Người lớn, trẻ con lại ra vào tấp nập, có khi còn đông hơn cả vào khu chợ mới. Anh Bản còn thấy thấp thoáng các em nhỏ đội khăn đỏ của người Dao, hay các thiếu nữ người Thổ, người Mông vào hiệu sách lẩm nhẩm đánh vần rất hồn nhiên. Anh không cười thầm mà ngược lại lòng thấy lao xao niềm thương mến giống như tình yêu của những năm tháng Bản dạy chữ cho các em ở các làng bản xa xôi sát biên giới Việt Lào. Đến lúc này Bản mới giật mình nghĩ tới sự kỳ diệu của các quyển sách đang nằm bất động trên giá kia. Nó không phải là tiếng chuông, nhưng tại sao lại ngân xa đến tận các bản làng được nhỉ? Một cái hiệu sách nhỏ đã lặng lẽ làm sang cho cả huyện. Sự chật chội, đông đúc nơi ngã tư hiệu sách nhắc người ta phải sớm nghĩ đến chuyện mở mang đường sá, sắp xếp lại chợ búa. Việc làm của Bản nó âm ỷ tựa như ở vùng đất rất sâu có những cây gỗ nghìn tuổi đang tự cháy thành than đá.

Người dân thị trấn nhiễm thói quen đọc sách tự lúc nào. Loáng cái hiệu sách cạn kiệt, trên giá sách còn trơ lại gỗ là gỗ. Chỉ còn số sách “gia truyền”. Bản cương quyết giữ lại để cho mượn. Thời gian mượn phải rút ngắn lại để dành cho người khác. Những ngày đói sách ấy, Bản phải vất vả, bươn chải chạy vạy khắp các tỉnh. Mấy lãnh đạo văn hóa tỉnh nói đùa “huyện ông này ngộ chữ hay sao mà ngốn nhiều sách thế không biết”. Nhưng vẫn rót cho Bản nhiều sách theo chế độ ưu tiên phát triển văn hóa miền núi. Bản còn nhờ mấy người bạn ở Hà Nội mua hộ cho hàng tá sách gửi về bán nguyên giá. Một lần bên thuế vụ bắt giữ lại vì nghi sách lậu. Giải trình xong thì họ lại bảo vì sách không có thuế luân chuyển, buộc phải nộp thuế xong thì mới được đem về. Trong đống sách ấy, rủi thay lại có cả những quyển của Huygô, Banzắc, Tônxtôi, Gorki, Maiacôpxki, rồi của Anđécxen, Tago, Sôlôkhốp và cả Giắc Lânđân của Mỹ… Một ông phòng thuế cầm sách xem xong liền lớn tiếng: “Đây đích thị hàng ngoại nhập. Phải đánh thuế thật nặng theo danh mục hàng phương Tây”. Đích thân Bản phải xuống tận phòng thuế giải trình. Nói rã miệng mà chẳng ăn thua, Bản chỉ còn biết kêu trời. Đang bế tắc thì may quá, con gái trưởng phòng thuế, chính là cháu Hằng ở Đông Hiếu nhận ra chú Bản cách đây mấy năm có cho cả chi đội mượn sách vào buổi trưa nọ nên đã đứng ra thuyết phục bố mình. Hằng bây giờ là một học sinh giỏi văn lớp 10 của tỉnh. Cô đủ uy lực để nói chuyện văn chương với bên thuế vụ. Bố Hằng vội gọi điện cho cấp dưới chỉ đạo phải trả ngay sách cho chú Bản. Cấp dưới thi hành ngay, nhưng vẫn giấu trưởng phòng giữ lại quyển sách “Tình yêu cuộc sống” của Giắc Lânđân. Cả nước đang đánh Mỹ, đến con chó cũng bị nhận oan tên riêng của một tổng thống thì tại sao lại để cho truyện của một người Mỹ lọt lên vùng cao. Lý của bác phó phòng thuế là thế. Vừa buồn cười, vừa giận nhưng Bản không dám đòi tiếp. Sợ đòi được một quyển của “ông này” biết đâu các bác thuế vụ cáu lên, đòi giữ lại luôn cả mấy “ông khác” thì thiệt to. Thôi thì từ lúc tưởng mất trắng, nay đòi được nhiều thế cũng là một thắng lợi lớn lắm rồi. Bản tự an ủi mình như vậy rồi cười mỉm ra về.

Độ trước giải phóng miền Nam năm 1975 ít ngày, hiệu sách của anh Bản phải đóng cửa mất mấy ngày làm xôn xao dân thị trấn. Sự đời là thế. Bình thường hiệu sách mở cửa chả sao, nhưng đóng cửa một cái là trở thành quan trọng. Anh Bản đi đâu? Câu hỏi ấy không chỉ trẻ con mới hỏi mà cả người lớn cũng thế. Thế rồi chuyện anh Bản bị tai nạn ô tô ngay nơi ngã Tư trở thành thời sự của cả huyện. Số là hôm ấy cũng tầm nửa buổi sáng, anh Bản nhờ người vợ là cô giáo coi hiệu sách một lúc, đạp vội ra bến xe đón số sách gửi từ Vinh lên. Gần một tạ sách mà anh Bản cố đèo luôn một chuyến kể cũng nặng quá. Anh Bản một tay lái ghi đông, một tay với ra sau gácbaga đỡ đống sách. Sách nặng, gácbaga lại yếu, cả xe cứ rung lên. Trông dáng cao lêu đêu của anh Bản rung rinh trên yên xe cứ như làm xiếc. Giá cứ đi thẳng mãi thì không sao, nhưng đến ngã Tư thì phải rẽ về hiệu sách. Đúng lúc rẽ thì chiếc xe đạp bị tùng bê, tung ngược bánh trước lên hất luôn anh Bản xuống đường đá. Vừa lúc có chiếc xe tải phóng tới, tiếng phanh ken két như cày cả đường. Bánh trước của xe vừa chạm người anh Bản thì khựng lại kịp. Thật hú vía. Nhưng vì ngã bất ngờ, đầu anh Bản va phải hòn đá, máu tóe nơi vùng thái dương. Đống sách bị đứt dây cao su bật tung đè luôn cả người anh Bản xuống. Máu bắn và chảy ướt đẫm cả đống sách còn thơm mùi giấy vừa in. Người ta chạy ùa ra đưa anh Bản vào hiệu sách băng bó. Người ta lấy thuốc lào rịt ngay vào chỗ máu đang chảy rồi quấn băng lại. Anh Bản đau lắm, nhăn nhó. Chị vợ thì luýnh qua luýnh quýnh tự đập vào đầu gối mình. Có người bảo, bị thương mất nhiều máu mà tỉnh thì nguy lắm. Nó mê đi thì mới là dễ sống. Đằng này anh Bản lại tỉnh như sáo thì căng thật. Tỉnh đến mức còn nhờ các cháu nhỏ đến mua sách chuyển hộ số sách ngoài đường vào. Lũ trẻ mách “Cuốn Hòn đất, Đất nước đứng lên, Mẫn và Tôi, Rừng U Minh, Con trâu, Xung kích, cả Sông Đông êm đềm, Giamilia… bị thấm máu chú Bản ạ”. Bản nói khẽ: “Lấy giẻ giặt nước lã lau nhẹ hộ chú”. Bọn trẻ không biết làm nên để vết máu loang ra nhiều trang khác. Anh Bản nói: “Thôi, xếp đấy chú làm sau”. Lũ trẻ giúp vợ Bản đóng cửa hiệu sách. Người lớn dùng xe đạp chở Bản lên trạm xá. Vợ Bản chạy sau tất tả, thút thít.

Hiệu sách đóng cửa mấy ngày. Ngã Tư vắng hẳn người. Thương nhất là bọn trẻ con ở bản xuống, ở xa đến ngó nghiêng một lúc rồi về mà không mua được quyển nào. Giá bọn chúng xuống chậm mấy hôm thì hay. Bởi chỉ ba ngày sau, anh Bản đã quấn băng ra hiệu sách. Nhiều người thương anh Bản lắm; người yếu lại mất nhiều máu, trông xanh xao như tàu lá chuối. Bọn trẻ ở thị trấn kháo nhau, may chú Bản trước đá bóng giỏi, biết võ nghệ, ngã đẹp thì mới được nhẹ thế. Người khác thì chết lâu rồi. Chúng nó quý Bản thì bịa chuyện cho vui chứ võ nghệ gì cái anh giáo viên dạy chữ vùng cao nay về làm ông chủ hiệu sách. Nhưng ít người biết chuyện anh Bản đã bỏ tiền lương ra mua đứt đem về nhà những quyển nào có thấm vết máu của anh.

Người ta bảo làm nghề gì ăn nghề ấy cũng là phải. Anh Bản cứ tạm gọi là làm nghề sách nên nhà anh có một tủ sách mà các bậc phụ huynh ai nhìn vào cũng thèm thuồng. Đông tây kim cổ, truyện người lớn trẻ em, truyện chiến đấu, truyện tình yêu cứ gọi là đủ cả. Nhà anh có cả một Truyện Kiều chép bằng tay do đứa con gái đầu chép hộ. Còn bản in thì chỉ lưu một bản duy nhất ở hiệu sách. Bốn đứa con của anh được cái là đều học giỏi toàn diện, chúng đều là những kho chuyện của bè bạn cùng lứa. Cái Hồng con đầu và thằng Tiến thứ hai cách nhau hai tuổi, đều thi đỗ vào trường chuyên cấp ba của tỉnh. Trong năm năm gần đây cả huyện có sáu em đỗ vào trường năng khiếu thì nhà anh Bản đã chiếm hai. Cô bé Hằng con ông trưởng phòng thuế là người đầu tiên của huyện không những thi đỗ trường chuyên, mà còn đạt giải nhất văn toàn tỉnh. Thi đại học cháu này đủ điểm được chọn sang Liên Xô học tiếp. Có lẽ cô bé này là người đầu tiên của huyện được sang đất nước của nhân vật “Thép đã tôi thế đấy”. Nhưng nhà trưởng phòng thuế chỉ có một cô Hằng, đằng này nhà anh Bản có những hai đứa liên tiếp vào học trường năng khiếu thì đúng là hiếm có. Buổi đói, sau giải phóng có hai con được tỉnh nuôi ăn học là cả một vấn đề lớn. Hai đứa con của anh Bản lần lượt rời miền núi về thành phố, cô chị học chuyên văn, cậu em học chuyên toán lại lọt vào đội tuyển toán của tỉnh dự thi học sinh giỏi toàn quốc. Tiến là học sinh đầu tiên trong lịch sử huyện nhà được thi thố với người giỏi của các tỉnh. Dân thị trấn đồn thổi nhà anh Bản có ông thần học thường hiện về trong mơ mách đáp số cho bọn trẻ. Sáng ra đi học, con cái anh Bản cứ thế mà viết ra lời giải. Người hiểu biết hay bạn bè anh Bản nghe nói thế quát lại “Nói lung tung. Con cái người ta vùi đầu vào sách, đọc đến ngàn trang không chán. Đằng này con cái mình giở sách mà không có ảnh thì vứt. Đọc nửa trang đã ngáy o o… Học hành cái nỗi gì?”. Chẳng riêng dân thị trấn, mà ngay các xã xa xôi của huyện Nghĩa Đàn cũng biết tiếng con cái anh Bản học giỏi. Càng ngày người ta càng hiểu ra tác dụng của mấy gian nhà sách nơi ngã tư. Thì rõ ràng ra đấy. Con cái ông chủ hiệu sách học giỏi nhất huyện này, lại thuộc tốp đầu tỉnh là do sách chứ trượt vào đâu nữa. Đi đâu anh Bản cũng được khen, chỉ cần thấy anh đi ngoài đường hay ngang ngõ, nhiều phụ huynh liền gọi tên rồi đon đả mời vào nhà. Nhiều người, thôi thì cứ mượn tiếng khen anh một câu để ghé tai dạy con cái. Nhiều người xin anh một lời khuyên nên cho các cháu đọc quyển mỏng hay quyển dày. Người khác được thế chắc tự cao tự đại lắm, nhưng anh Bản thì không. Vẫn cái dáng cao lêu đêu, ngồi xe đạp mà đi như trôi gặp ai cũng cười, cũng gật đầu. Hay anh Bản nghĩ vai vế của một chủ hiệu sách là bé nhỏ, không xứng được chào trước. Hình như càng được quý anh càng thương bọn trẻ thì phải. Nhiều đứa trẻ nghèo được anh Bản cho mượn sách vào vườn cây ngồi đọc. Tất nhiên, chúng ở gần nên con cái nhà ai anh biết cả. Mà anh tin, những đứa trẻ nào đã biết tự cầm đến quyển sách, sẽ chẳng bao giờ chúng nỡ đánh cắp lòng tốt của anh. Nhìn những đứa trẻ nghèo đứng chùng chân nơi hiệu sách đọc nghiến ngấu không thèm biết đến xung quanh là gì, tự dưng lòng Bản thấy nao nao. Vết thương cũ nơi thái dương cứ giần giật nóng ran. Lúc đó anh còn chưa sâu sắc để nghĩ rằng, những đứa trẻ tí hon quần cộc chân đất kia mai này sẽ là những công dân quyết định số phận nắn dòng sông Hiếu, mở mang thị trấn. Nào ai biết ngày mai là thế nào. Bản cứ sống như dòng sông Hiếu mùa đông chảy dịu dàng không nỡ mang thêm hạt phù sa nào ra biển cả…

Chuyện cũ đã mấy chục năm mà lớp học sinh chúng tôi thuở ấy ở huyện Nghĩa Đình vẫn còn nhớ như in. Sở dĩ tôi kể một cách rành rọt chuyện trên bởi chính tôi đã có mặt trong tốp học sinh Đông Hiếu ngày xưa đi bộ lên thị trấn và được anh Bản cho mượn sách vào buổi trưa nọ. Cho tới bây giờ tôi vẫn có thể ngồi hình dung ra được cái buổi trưa anh Bản tiếp lũ trẻ chúng tôi, một buổi trưa đầy tràn là nắng ở vùng núi cao ngỡ có thể dùng mũ mà đong được. Sau này tôi còn dẫn theo nhiều bạn bè vượt núi tìm lên hiệu sách anh Bản, nhất là hai đứa tôi và Hằng thì dần trở thành con chiên trung thành của cái hiệu sách ấy. Thỉnh thoảng tôi có thấy thằng Tiến con trai anh Bản nghỉ hè ở trường tỉnh về ra trông hiệu sách cùng bố. Tiến chắc cũng bằng tuổi tôi nhưng nom hắn khôi ngô sạch sẽ lắm chứ không nhem nhuốc như mấy đứa chúng tôi. Mấy lần tôi định làm quen nhưng lại ngại vì sợ dân thị trấn không thích chơi với bọn quê kiểng là mình…

Chiều nay, người xe ôm chở đến nhà tôi một người khách đặc biệt. Chính là anh Bản xưa, nay là lão Bản già khọm. Lão bước vào nhà tôi với cái cặp da to nhẹ thênh, trông lão nhỏ thó và tất tả trong bộ complê nhạt màu. Áo sơ mi cài kín cổ, không đeo ca vát, nhìn cái cổ của lão như dài ra dính với cái đầu ngất ngư bạc đã đến hai phần mái tóc. Mùa đông độ giữa kỳ, thế mà lão Bản lại không mặc áo len, thỉnh thoảng lão ngồi miệng thít từng tiếng dài, cứ như lão đang ăn thêm ớt cay khô, hâm nóng mình lên mà chống rét. Vợ tôi đi làm về, sau khi chào khách liền kéo tay tôi vào nhà bếp hỏi nhỏ:

- Lại khách quê hả? “Súng trường” hay “đại bác” đấy?

- Chả “súng” nào cả. Lão chủ hiệu sách huyện anh.

- A! Cái vụ “Tình yêu cuộc sống” đấy hả?

Tôi thầm cám ơn trí nhớ không đến nỗi tồi của vợ.

Chuyện là cách đây một năm, với tư cách nhà báo tôi được mời về huyện dự lễ đón nhận huân chương của trường phổ thông cấp 3 Nghĩa Đình. Đây là trường cấp huyện đầu tiên của tỉnh nhà vinh dự được Nhà nước thưởng huân chương. Tỉnh cho rằng, nếu thống kê trong mấy chục năm qua thì trường Nghĩa Đình này có tỷ lệ đỗ đại học cao nhất tỉnh. Đây cũng là một huyện miền núi có số thanh niên du học ở nước ngoài cao cũng nhất tỉnh. Dịp đó, số học sinh cũ ở Hà Nội và toàn quốc thuê xe về đây nườm nượp. Tôi rủ tiến sĩ văn học Thu Hằng về cốt để đi nhờ xe chị. Phút cuối, chị phải ra nước ngoài giảng dạy một cua văn học Việt Nam cho trường đại học Thái Lan. Thu Hằng ân hận và tiếc lắm. Chị gửi tôi quyển sách “Tình yêu cuộc sống”, dặn rằng, về quê thế nào cũng ghé qua nhà anh Bản hoàn trả cho anh ấy. Đây là quyển sách theo Hằng mấy chục năm, theo chị ra cả nước ngoài, trở thành hòn than ấm của miền sơn cước sưởi ấm cho tình yêu của Hằng với khoa học ngày một nồng nàn vĩnh cửu. Tôi và Hằng học cùng lớp ở Đông Hiếu, cùng đi bộ lên hiệu sách mượn sách đọc ở vườn cây. Cứ tưởng Hằng trót dại ngày bé, nhưng hiểu ý tôi Hằng trầm ngâm một lúc rồi giải thích:

- Ông tưởng tượng tôi là tội phạm đấy phỏng? Con gái bọn này ai lại tệ thế! Ông có nhớ cái vụ đội thuế của ông cụ nhà tôi bắt thu sách của chú Bản không? Đòi mãi thì họ trả nhưng cứ giữ quyển sách của Giắc Lânđân, bảo đây là sách Mỹ, chúng nó bỏ bom ta, sao ta phải đọc sách của nó? Sau này tôi biết chuyện đã rủ bố tôi đến tận nơi đòi lại. Lúc đỗ đại học đi nước ngoài, tôi cầm đi theo làm kỷ niệm, tự hứa lúc nào thành đạt sẽ đích thân về quê trả lại cho chú Bản, coi như một món nợ mà mình có cớ để buộc phải tìm gặp lai người mà chúng ta từng chịu ân huệ đấy ông Bích ạ…

Thu Hằng thuộc dân Tây học thường xưng hô với bạn trai thời xưa cứ ông ông - tôi tôi. Ngôn ngữ là thế nhưng được cái Hằng sắc sảo và tốt bụng hiếm thấy. Tôi cầm quyển sách, một lá thư dán kín dày cộp và một chút quà nước Nga chuyển trực tiếp cho anh Bản, không, lão Bản mới đúng. Cũng đã lâu không về quê vì bận tối mặt ở thành phố, tôi phải đến hiệu sách cũ hỏi nhà lão Bản. Xưa hiệu sách với vườn mít, nhãn lưu niên mênh mông là thế, nay chỉ rút gọn lại một kiốt hai mét mặt đường. Vườn cây xưa không còn dấu tích, nhường chỗ cho các ngôi nhà cao ngất ngưởng. Nghe tôi hỏi nhà lão Bản, hai chị em bèn đưa mắt nhìn nhau rồi quay lại hỏi tôi:

- Bản à? Khoảng bao nhiêu tuổi?

- Dạ, có khi phải gần bảy mươi.

Cô em vừa bấm cộng máy tính vừa nói:

- Biết đâu, có khi ngoẻo rồi cũng nên. Vùng này giờ tuổi thọ ngắn lắm.

Cô chị lim dim mắt hỏi lại tôi:

- Anh biết ông Bản trước làm nghề gì?

Tôi sốt ruột, định mắng hai cô bỏ đi cho xong, nhưng vẫn nén chịu:

- Dạ, Bản trước là chủ hiệu sách. Là thủ trưởng cũ của hai chị đấy ạ. Tôi cố nhấn mạnh từ thủ trưởng.

Cô chị vỗ vào vai cô em một cái rất mạnh rồi reo lên với tôi:

- A. Nhớ rồi. Nhớ rồi. Bản chập mạch, Bản quá khích, hâm hấp. Đây, anh ra đứng đây em chỉ cho.

Tôi bất ngờ đến đau đớn. Thần tượng của chúng tôi một thuở, một nhà bác học uyên thâm của thị trấn vùng cao, một bảo mẫu cho biết bao lớp học sinh giỏi của huyện nhà mà nay không rõ thế nào cứ như là người tâm thần dưới con mắt của cấp dưới. Túi quà của tôi xách như nặng trĩu, tôi muốn giấu đi vì sợ đôi mắt của cô hiệu sách phát hiện thấy. May quá, chị ta có vẻ không để ý mà còn vui vẻ giải thích:

- Bây giờ làm gì có chế độ thủ trưởng hở anh. Từ ngày ông Bản về hưu, hiệu sách cũng tan luôn. Nào có ai đọc đâu. Chị em em đấu thầu cái kiốt để bán sách giáo khoa, sách học tiếng Anh là chính. Bọn em có là cấp dưới của ông Bản ngày nào. Ông này hay kiện cáo lắm. Thị trấn xếp ông ấy vào diện quá khích phải dè chừng. May bọn em sinh sau đẻ muộn nên chưa kịp làm cấp dưới của ông ấy. Nếu không có khi bị vạ lây. Đấy, đấy, anh đi qua cầu Hiếu, đến gốc cây to bên kia sông thì rẽ trái. Rồi hỏi tiếp.

Tôi dắt xe đi, lòng trìu trịu buồn, một nỗi buồn chầm chậm đến pha chút hờn giận man mác; tôi muốn đi nhanh lên cầu để đón cơn gió từ sông Hiếu thổi hắt lên xua bớt đi. Bây giờ người bất mãn nhiều lắm, người khiếu kiện cũng nhiều. Hơi một tý là kiện. Đường quốc lộ vạt qua vườn nhà một tý là kiện. Đền bù chưa xong cũng kiện. Về hưu sớm, lên chức muộn đều kiện. Hơn thua một chút về chính sách, kiện ngay… Nghĩa là đủ chuyện, đúng cũng kiện, sai cũng kiện. Kiện chẳng mất gì, chỉ tốn ít giấy mực và tem thư. Nhưng biết đâu, người thì hy vọng trên có mắt tinh tường, người thì thầm mong trên có mắt như mù, mình sẽ được thêm một cái gì đó. Chẳng biết lão Bản có nằm trong số đó không? Mà biết đâu, ngày xưa lão là anh hùng trong con mắt lũ trẻ chúng tôi, còn về già lão biến chứng trở thành kẻ hâm hấp trong con mắt người lớn. Sách báo chẳng kể khối chuyện việc luân chuyển ngôi vị, nhân cách của bao nhiêu người là gì. Có thể lão Bản kiện cáo cấp trên về lương thưởng hay đãi ngộ gì đó; hoặc cũng có thể về đất đai điền thổ. Chắc là kiện nhiều, kiện liên tục thì hai chị bán sách mới nói thị trấn xếp ông vào diện quá khích phải dè chừng. Hầu như về già, ai cũng lẩm cẩm đi một chút thì phải. Lão Bản cũng thế chăng?

Mải nghĩ, tôi đi qua cầu Hiếu một đoạn xa mà không biết. Gặp mấy người, cứ định hỏi thăm lại thấy ngại. Trước tôi hăm hở tìm nhà lão Bản bao nhiêu, bây giờ lại nản chí bấy nhiêu. Trong cuộc đời, có những người giá đừng gặp lại họ, lại hóa hay. Nếu không phải việc của Thu Hằng, có khi tôi quay về. Nhưng nghĩ đến động tác chỉ tay của Thu Hằng kèm theo tiếng quát nếu tôi trở về Hà Nội với túi quà của cô “Đồ hèn” là tôi phải tiến lên. Cô bạn tiến sĩ của chúng tôi dám làm như thế lắm. Hơn nữa, muốn gì thì muốn, lão Bản cũng để lại trong tôi một ký ức khó quên. Tuổi thơ đã nhớ cái gì là nhớ đến chết. Ừ thì gặp lại lão Bản một chút có chết ai, biết đâu chuyện chẳng đến mức như người ta đồn thổi. Mà lão là thần tượng của tuổi trẻ chúng tôi, sợ gì mà không gặp. Tôi mỉm cười đắc ý về lý do dấn thân của mình.

Đúng như tôi nghĩ, nhà lão Bản bị con đường 48 mới mở đi qua sạt luôn một nửa nhà, lẫn nửa vườn. Ngôi nhà ngói ba gian cũ kỹ trước đây bị đẩy lùi vào sát xóm núi thành ngôi nhà ngói hai gian mới toanh, chứng tỏ chủ nhân vừa mới dựng. Thế làm gì mà không kiện. Nghe có khách hỏi thăm, lão Bản ra đón chậm rãi nhìn thẳng vào tôi một cách dò xét cảnh giác. Có phải người hay khiếu kiện thường có cái nhìn ấy. Tôi hơi mất cảm tình về cách nhìn ấy nhưng cũng kịp nghĩ, đúng là lão Bản già khọm đi thật. Không còn một dấu tích nào của anh Bản ngày xưa mà chúng tôi từng ngưỡng mộ, duy chỉ có đôi mắt thì vẫn giữ được đôi nét hồn nhiên ngày nào. Kỳ lạ làm sao, sát vỉa hè của căn nhà mới dựng, có hai giá sách to chiếm gần hết chiều ngang mặt đường khoảng 8m, có cả một biển hiệu bằng chữ máy tính khổ to “Sách cho mượn, cho thuê”. A, lão Bản vẫn thủy chung với những quyển sách cũ. Tự nhiên như có một luồng điện chạy khắp người tôi lan tỏa râm ran, hình như đó là sự hồi sinh của sắc thái ngưỡng vọng thuở trước. Phút chốc tôi thấy lão Bản chỉ cao lêu đêu chứ không già khọm đi như cách đây mấy phút tôi đã nhìn nhầm… Làm sao lão Bản có thể hiểu được những ý nghĩ ngầm của người khách đang đi phía sau. Lão đi trước những bước trễ nải, cũng không ra nhiệt tình, cũng không ra miễn cưỡng. Lão mời tôi ngồi xuống bộ ghế salon nan cũ kỹ kiểu dáng của những năm 60 rồi rót nước mời, không thèm nhìn tôi mà hỏi:

- Chắc anh ở Thanh tra tỉnh về.

Đúng là có tật giật mình. Tôi vội thưa ngay:

- Dạ không, cháu ở Hà Nội về nhân thể ghé thăm bác.

Mắt lão Bản sáng lên:

- Thế ạ, quý hóa quá. Thế anh ở vùng nào ta?

- Dạ quê cháu ở Đông Hiếu, nay về trường cấp 3 dự kỷ niệm.

- Quý hóa quá, các cháu nhà tôi cũng có về, rủ nhau đi đâu đâu từ sớm. Chắc anh biết thằng cả nhà tôi, thằng Tiến ?

Dân Nghĩa Đình ai mà chả biết Tiến, một tiến sĩ toán học còn rất trẻ dạy ở trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Dân thị trấn thường nói, lão Bản có hai người con gái và hai con trai đều thoát ly cả, đó quả là một kỳ tích. Nhưng quả thật, từ lâu tôi cũng chưa gặp Tiến cũng như mấy người con của lão Bản. Họ đi công tác nước ngoài luôn. Dân cùng quê mà không gặp nhau trong các cuộc họp hội đồng hương đầu xuân thì tệ quá. Nhất là khi lão Bản bắt đầu một không khí thân tình, mà mình lại hở ra chuyện không biết gì về niềm tự hào của lão là người con trai cả thì có thể coi là bất nhã. Thành ra tôi phải vừa nói dối, vừa doãng ra nói chuyện Thu Hằng để dấn thêm một chút cho bầu không khí cởi mở:

- Thưa bác, cháu cũng có gặp Tiến ở ngoài đó. Người cùng quê cũng ít lắm. À hôm nay có một người bạn nhờ cháu chuyển tới bác một món quà nhỏ. Dạ thưa, đây ạ, chị Thu Hằng…

Tôi cầm gói quà lên, lão Bản đờ người ra ngạc nhiên lắm, mồm há hốc như bị nghẹt thở rồi không chịu khép lại nữa. Rồi lão nhìn tôi từ đầu xuống bụng, lại như dò xét xem có đúng điều tôi vừa nói. Lão giơ tay ra, nén vào không khí:

- Xin hãy khoan, cô Hằng nào, bao nhiêu tuổi, sao lại biết tôi…

Tôi nhìn lão đắc ý về điều bí mật sắp kể. Rồi tôi mới nói vắn tắt mấy đoạn, rằng ngày xưa, cánh phòng thuế thu sách thế nào, cô Hằng là con bác trưởng phòng xin lại sách cho anh Bản ra sao, chuyện chúng tôi được anh Bản cho mượn sách đọc ở vườn cây thế nào… Lão Bản ngồi nghe ngước mắt nhìn tôi không chớp, có lúc đôi mắt cụp xuống đượm buồn, có lúc ánh lên một chút mơ màng khoáng đạt, có lúc lại nhìn thẳng vào tôi như dò hỏi, nhíu mày như muốn dội lên từ vùng ký ức sâu thẳm. Nói là kể vắn tắt nhưng tôi cũng diễn tả có đầu có cuối, cũng biết nhấn chỗ này và thoát nhanh ra chỗ kia như cách sắp xếp của một nhà báo. Nghe xong lão Bản ngồi lặng đi, trầm ngâm, một lúc lấy tay đập đầu, rồi ngẩng lên nhìn tôi kêu khẽ:

- Xin cảm ơn anh. Dưng mà tại sao tôi lại u tối thế này. Xin anh thứ lỗi, là tôi chẳng nhớ gì cả. Chuyện lâu quá rồi hay sao nhỉ?

Tôi hơi thất vọng về nhà thông thái ngồi đối diện. Thật là hoài công và thẹn thò làm sao, mình đem niềm vui đến cho lão Bản, nhưng người ta lại quên không nhớ gì. Đã không nhớ thì thôi, lại nói toạc ra trước mặt khách xa thì quả là có điều gì quá đáng, thiếu sự mẫn tiệp mà nhiều người cho rằng lão Bản có thừa điều đó ngay từ thuở thanh niên. Như đọc được ý tôi, lão Bản đưa tay ra:

- Phiền anh cho tôi xem quyển sách.

Tôi nhanh nhẹn rút tập “Tình yêu cuộc sống” do Thu Hằng bọc lại bằng bìa cứng, nhưng ở trong nhiều trang đã ố vàng, có chỗ chữ quá mờ, ai đó dùng bút bi tô lại các chữ in mất nét. Lão Bản đón quyển sách, nhìn chằm chằm rất lâu vào trang đầu. Càng nhìn tay lão càng run lên, đôi mắt khép lại, rồi khẽ mở ra chơm chớp. Lão đứng dậy, ấp quyển sách vào ngực mình như người bị thôi miên. Tôi hơi hoảng, phân vân không hiểu lão đang làm gì, nghĩ gì; hay là dấu hiệu tâm thần, thì may quá, lão ngồi xuống giọng lạc đi, âm thanh lão nói ra có pha chút khàn khạt, meo méo:

- Cảm ơn anh, cảm ơn anh. Tôi nhớ rồi. Chính bố con ông phòng thuế xin cho tôi. Mấy chục năm rồi. Hồi ấy cả tỉnh mỗi tôi là mua được quyển này, nhưng lại mất. Tiếc quá. Giờ thì tôi nhớ cô con gái ông phòng thuế, hồi nhỏ cô nói năng quyết liệt lắm. Quý quá, quý quá, chuyện lâu quá…

Thoắt cái lão Bản trở nên hoạt bát, lịch thiệp, hay chuyện, lão nói nhiều, tiếng cười bắt đầu có âm hề hà chứ không nửa miệng như lúc đầu cảnh giác. Lão giục tôi uống nước chè xanh mới om, bảo rằng thứ nước này buổi sáng tinh mơ mà uống kèm với mấy giọt mật ong rừng thì chữa bách bệnh. Mấy chục năm nay lão toàn làm thế, nên người khỏe ra, bao nhiêu thứ độc trong người bị lọc ra ngoài hết. Hứng chí lão Bản dẫn tôi ra giới thiệu hai giá sách lớn.

Tôi sờ vào gáy các quyển sách phần nhiều là dày dặn, lòng không khỏi sửng sốt. Kiểu in chữ lito và đóng gáy sách thế này rõ ràng là loại sách cũ, chí ít là của thập kỷ sáu mươi, bảy mươi. Nghĩa là cách đây những ba, bốn chục năm mà lão Bản còn giữ được thì lạ quá. Mà có ít đâu, đếm lướt qua cũng đến bốn năm trăm cuốn. Lão Bản thấy tôi chăm chú thật sự thì chừng xúc động lắm, nói chậm rãi:

- Buồn lắm anh ạ. Bây giờ cả huyện có còn chỗ nào bán những loại sách này đâu.

- Thế bác có bán không?

- Tôi mà bán thì làm gì còn những quyển này. Tôi chỉ cho mượn, ai không thích mượn thì cho thuê. Như thế sách mới luân chuyển cho nhiều người.

- Khách lạ có cho thuê, mượn không ạ?

- Có chứ. Tôi nghiệm một điều, phàm đã đi thuê sách mượn sách của tôi đều là người tử tế cả. Mấy chục năm chưa mất quyển nào.

Có một phản xạ rất kỳ lạ. Đó là khi tay tôi cầm vào cuốn tiểu thuyết “Đất nước đứng lên”, “Hòn đất”, “Giamilia” thì như có một luồng điện chạy qua, đầu ngón tay tôi như bị hút chặt vào đầu trang sách. Làm sao tôi hiểu đấy là cảm giác gì, nhưng tôi tin đó là một trạng thái thật hiếm xuất hiện trong một đời người. Tôi giở vào trang của tiểu thuyết “Hòn đất” rồi “Đất nước đứng lên” và “Sông Đông êm đềm”… thì lạ chưa, nhiều trang sách bị một màu nâu đen nhuốm loang lổ, tựa như có ai rải nhẹ thứ nhựa một loài cây thuốc vào đấy. Chỗ nào có màu đen nhuốm loang lổ, những con chữ ấy bị che lấp, không thể đọc được… Thấy tôi cầm cuốn “Hòn đất”, lão Bản đẩy nhẹ tôi ra trước sân nhà. Lúc ấy nắng trưa còn non, tôi ngửa trang sách dưới ánh nắng hè nhà, thì lạ chưa tất cả những chỗ màu nâu đen bỗng đỏ tươi lên, con chữ lấp lánh hiện ra một cách rành rọt chân phương. Tôi đọc thông suốt các dòng chữ mà không hề ngắc ngứ. Nắng cứ dào dạt như rắc lân tinh vào trang sách, những vết đen nâu như mảnh mai đi, con chữ dập dềnh đỏ tươi như máu chảy. Có phải là máu khô đọng lại gặp nắng thì tan ra hay mắt tôi hoa lên vì say nắng? Hình như lão Bản nhìn thấy được cảm xúc của tôi thì phải, lão cầm mấy quyển sách ấy kéo tôi vào bàn nước. Tôi ngồi xuống, định thần trở lại, vội ngó lại mấy quyển sách trên tay lão Bản thì lạ chưa, những vết đen nâu ở các trang ở đâu còn nguyên đấy. Tôi nghe lão Bản nói khẽ:

- Chú ạ. Đây là những cuốn sách ngày xưa tôi bị tai nạn nên máu dính vào. Tôi mua lại mang về nhà, nay vẫn nguyên thế. Cái giống máu thế mà lạ, dính vào chỗ nào chứ dính vào sách thì đố mà gột đi được.

Tôi hiểu, lão Bản nói như vậy chẳng có ý gì xa xôi; chắc lão nghĩ sao nói vậy chứ nghĩa đen nghĩa bóng gì. Lúc ấy tôi vô cùng sửng sốt nhớ lại chuyện anh Bản bị ngã nơi ngã Tư trong lần dùng xe đạp đèo sách từ bến xe về. Lần ngã ấy lúc thị trấn chưa thành tên. Thế mà nay lão vẫn giữ những quyển sách cũ có dính máu mình để cho thiên hạ đọc. Lão theo tín ngưỡng nào đấy hở lão Bản già nua? Tôi chỉ dám nghĩ thế, chứ lúc này làm sao tôi dám đổi lòng ngưỡng mộ ông chủ hiệu sách để được hỏi một câu thất nghĩa như thế! Bốn người con lão Bản bôn ba nơi thị thành, rồi châu Âu, châu Mỹ. Sau khi bà vợ mất, chỉ còn lão Bản ở nhà với hai giá sách cũ. Lòng yêu sách của lão vẫn không giảm. Trong khi bao nhiêu người đã mỏi mệt, thì lão Bản có một niềm tin nào mà thánh thiện đến thế, để bao nhiêu năm nay lão vẫn nuôi các tập sách cũ. Cả đến lúc nhà bị sạt đi một nửa, mà chắc là lão đang đi kiện, nhưng ý chí nuôi sách, cho thuê sách, mong mỏi có người đọc sách trong con người lão vẫn không hề suy giảm. Người lão Bản là một khối mâu thuẫn hay là sự rành mạch thẳng băng, ai mà dò được? Phút chốc, lão Bản lại cao lớn trước con mắt của tôi. Tôi gợi lại chuyện với sự tò mò của người làm báo:

- Thưa bác, cháu vừa ghé qua hiệu sách cũ…

Lão Bản ngạc nhiên:

- Chú ghé qua hiệu sách thật hả?

- Vâng, giờ thay đổi ghê quá, so với hồi xưa chúng cháu còn nhỏ, nay chỉ còn tí tẹo, mà bán toàn sách giáo khoa thôi…

Lão Bản buồn bã:

- Người như chú là hiếm lắm. Nói thật có bóng điện, tôi về hưu được mấy năm thì người ta phá hiệu sách. Thật kinh khủng chú ạ, huyện này bây giờ có mấy ai đọc sách đâu. Thật kinh khủng, thật lạ quá.

Quả thật vì trời nóng, lại vội nữa, nên lúc ấy tôi không kịp hiểu ý tứ sâu xa của lão Bản. Giá như có thời gian rảnh rỗi một chút, thân tình thêm một chút, tôi sẽ trò chuyện, dùng sự đi lại nhiều của một nhà báo để khuyên lão chịu thiệt một chút đừng kiện cáo ba cái chuyện đền bù. Lão có thiệt đi vài mét mặt đường nhưng hãy nhìn vào con đường lớn đổ nhựa kia nối với khu công nghiệp mới mở, thẳng băng, sướng mắt lắm. Nghe nói lão kiện cáo ba bốn năm nay, nào có được gì đâu. Mà cũng phải giữ uy tín cho lũ con toàn tiến sĩ, Tây Tàu người ta biết tiếng cả, vinh dự gì có ông bố chuyên kiện cáo, bị xếp vào diện quá khích. Bây giờ thời dân chủ, chứ ngày xưa có một ông bố chuyên kiện cáo như lão Bản, con cái đến đời mồng thất mới được bước chân ra nước ngoài. Mà cũng lạ, lão Bản được tiếng là thoáng, là tử tế, lão có thể mua sách cho mọi người mượn đọc, sao đi kiện mấy đồng tiền đền bù làm gì? Cũng có thể người như lão Bản lại thích sự công bằng, cho ra cho, vay ra vay, chuyện nào ra chuyện đó chăng?

Lão Bản tiếc rẻ tiễn tôi ra cửa, nhưng vẫn cố mời tôi ở lại chờ các con lão sắp ở trường cấp 3 về. Khi đón, lão khinh khỉnh bao nhiêu thì lúc tiễn, lão bịn rịn lịch thiệp bấy nhiêu. Lão không quên gửi lời cảm ơn nghĩa cử của Thu Hằng, biết tôi là nhà báo lão thay đổi thái độ, ghi địa chỉ cụ thể, hẹn lúc nào có chuyện thì nhờ uy tín của báo chí can thiệp. Tự nhiên tôi lại thấy buồn, giá lão đừng vồn vã, có khi tôi lại quý trọng lão hơn… Sự đời lạ thế đấy.

Tưởng lão ghi địa chỉ hú họa theo phép lịch sự, ai ngờ chỉ hơn tháng sau, tức chiều nay, lão Bản đột ngột thuê xe ôm đến nhà tôi. Lão bảo xuống bến xe là vào thẳng đây, nghĩa là bốn đứa con của lão ở Hà Nội với một đoàn cháu đã không ai đón lão cả. Gần bảy mươi tuổi, để bậc cha, bậc ông đi lại một mình như thế này kể cũng quá đáng, lão Bản có tự ái cũng là phải. Tôi nói vợ chuẩn bị cơm nước nhanh một chút, hầu rượu lão Bản xong còn đưa lão về nhà các con lão.

Vì trân trọng những ký ức mà tôi thường hay kể, vợ tôi bày cơm rượu ra cùng tôi hầu chuyện lão Bản. Nhà chật, bữa ăn được bày ra trên nền gạch của phòng khách, chủ và khách ngồi bệt xuống chiếu. Lão Bản uống và ăn rón rén hợp với tạng người gầy khô của lão. Lão uống nhấp nhé như lấy sức, dồn sức cho một việc gì hệ trọng sau đó thì phải. Hiểu lòng lão, tôi vừa uống vừa chủ động gợi chuyện tỏ ý sẵn sàng nghe lão cởi mở. Người già họ tinh lắm, nhất lại là lão Bản. Sau chén thứ bảy, lão cầm đũa báo hiệu cuộc uống đã kết thúc, giờ là ăn cơm. Nhưng lão cầm đũa mà không gắp, tôi nháy mắt vợ, nín lặng và chờ đợi.

- Nói thật với cô chú - lão Bản bắt đầu. Có chuyện này tôi tính mãi, mấy năm rồi tôi chạy hết cửa, nhưng không ai giải quyết. Nay tôi giấu các cháu ra gặp riêng cô chú và cô Thu Hằng giúp cho…

Lão Bản bỏ lửng câu chuyện ý chừng thăm dò tôi. Còn tôi thì chẳng bất ngờ tý nào. Lại là chuyện đền bù đất đai đây. Lão Bản ơi, lão hơi quá đáng, tham lam quá đấy… Tôi buột miệng:

- Tình hình bây giờ phức tạp lắm bác ạ - (không ngờ tôi nói một câu vô nghĩa đến thế, phức tạp là thế nào?). Nhiều đơn thư quá, nhiều nơi quá, các cấp người ta khó giải quyết… Nhưng có gì bác cứ cho biết, chúng cháu sẽ cố gắng…

Im lặng một lúc, lão Bản chủ động cầm ly xin thêm chén nữa:

- Cô chú biết không, thị trấn của ta bây giờ khác xưa nhiều lắm. Thôi thì thanh niên không có việc làm đã đành, nhưng cứ lao vào nghiện thuốc phiện, nghiện ma tuý ghê lắm. Nhiều nhà có tiếng nền nếp một thời, nay đánh chửi nhau. Tôi để ý những nhà đó, những anh nghiện ma tuý đó, xưa nay chưa từng biết đến quyển truyện là thế nào.r (Tôi nhẩm trong bụng, lão Bản đi xa đề quá, chuyện ấy có liên quan gì đến mấy mét mặt đường). Đã hơn chục năm nay, người ta xóa cái hiệu sách, không còn chỗ nào để mà bán sách, để có chỗ cho các cháu đến đọc sách như các chú ngày xưa. Chú biết không, tôi đau lắm. Người ta mà không đọc sách truyện, làm sao có tâm hồn được hở chú. Cô chú thử hỏi trăm thằng đánh nhau ngoài đường, vạn thằng nghiện ma tuý xem có thằng nào nhớ chị Sứ, chị Út, nhớ bà Cà Sợi, chị Dôi-a, ông Tônxtôi... là ai không. Thế mà, sau khi tôi về hưu, họ xóa hiệu sách…

Lão Bản gục xuống bên chén rượu như bị đè trên vai một nỗi đau quá nặng. Nỗi buồn của lão chuyển sang tôi; cơn gió thoảng mùa đông bất ngờ thổi nhẹ qua tấm liếp cửa sổ tràn vào nhà khiến ba chúng tôi cảm một chút lạnh thảng thốt. Lão Bản nhấp một tý rượu như uống thuốc bổ cho lại sức:

- Căn nhà gỗ năm gian của bác chủ tịch thị trấn hiến cho hiệu sách thuở khai sinh, bây giờ họ phá hết. Gỗ cũ bán cho người dưới xuôi, đất thì chia cho cán bộ huyện làm nhà. Tiếc nỗi bác chủ tịch đã mất, nếu còn sống thì không xong với bác ấy đâu. Hiệu sách ngày xưa bề thế là thế, nay tư nhân hóa chỉ còn lèo tèo vài ba kiốt bán đồ dùng học tập và sách giáo khoa. Cô chú bảo như thế có đau không? Tôi kiện đã mấy năm ở tỉnh, không ai giải quyết. Nay tôi quyết định ra Trung ương nhờ cô chú chỉ vẽ…

Tôi vẫn lờ mờ không rõ lão định kiện cáo gì. Kiện đòi đền bù nhà lão, hay kiện cái hiệu sách. Hình như rượu làm lão Bản không nói rõ được thì phải. Tôi hỏi:

- Thưa bác, ở tỉnh người ta trả lời thế nào?

- Họ chẳng bảo sao cả. Cứ trả lời là đã nhận được đơn, rồi bảo chuyện hiệu sách là quyền cấp huyện. Phá hay xây cấp huyện trả lời. Cấp huyện thì bảo, không cần hiệu sách nữa. Thế là phá…

Trời ơi, thế là tôi nhầm. Lão Bản không đi kiện đòi tiền đền bù đất cát nhà lão. Lão đi kiện đòi khôi phục hiệu sách. Thế mà tôi lại… Niềm kính trọng người đối diện dâng lên xui khiến tôi cầm chai rượu chắt vào chén lão Bản. Tôi nâng chén mời lão đề kìm lại không nói ra cái điều đang rõ ràng hơn trong tâm trí. Lão Bản ơi, sao lão tốt đến thế, khổ đến thế? Tôi uống ực chén rượu thật nhanh cốt để kịp đốt cháy thứ cảm xúc kỳ lạ, thánh thiện đang dâng lên tràn ngực, nếu không giải thoát nhanh thì lồng ngực cứ căng đầy nghẹt thở lắm. Suýt nữa tôi thốt lên “Lão Bản ơi, sao lão tốt thế, khổ thế?”. Nhưng may là tôi kịp khà khà mấy tiếng kìm lại:

- Các anh chị con bác có biết chuyện bác đang làm không?

Lão Bản ngẩng lên nhìn tôi nói như mếu:

- Chẳng hiểu ai tuyên truyền, cả bốn đứa nghi ngờ tôi kiện cái chuyện bị mất mấy mét đất. Nhà cửa tôi thì nói làm gì, đường lớn đi qua, lấy cả nhà tôi cũng chịu. Nhà mất chỉ mất mình tôi. Chứ mất một hiệu sách là mất tất cả, mất đơn mất kép, cái mất ấy không thể đo đếm đền bù được chú ạ. Mà lạ một cái là không thấy ai xót xa khi cái hiệu sách của huyện bị xóa đi. Sao không ai nói gì cả? Thế cứ để nó mất à? Không được. Hôm nay nói thật, tôi kính trọng chú, chú còn trẻ mà sâu sắc quá. Tôi để ý có hàng trăm người về dự đón Huân chương trường huyện, người ở xa, ở gần; người đi xe con, người đi xe máy, thử hỏi có ai được như chú đây ghé thăm hiệu sách cũ? Mấy chục năm còn nhớ trả sách lại cho tôi. Mấy ai được như cô Thu Hằng? Nói chú bỏ qua, thằng cả của tôi, hồi bé mê sách, lớn lên thành tiến sĩ, thế mà khi về thăm trường cũ, thay việc ghé qua hiệu sách ngày xưa thì nó lại mò vào quán Karaoke. Nghe chuyện tôi đau lắm. Nó chào tôi đi, tôi không buồn trả lời. May mà hôm ấy chú không nhận lời tôi ở lại cùng gặp nó… Nay tôi ra nhờ cô chú, xin cô chú đừng báo cho các con tôi biết. Nào, mời chú, mời cô cứ ăn cơm đi…

Lão Bản lại uống thêm chén nữa. Rượu làng Vân ngâm thuốc bắc uống cứ dịu mềm cả lưỡi, nhưng lão Bản nói vẫn rành rọt lắm. Chứng tỏ lão chưa say. Tôi thấy vừa kính trọng tình yêu của lão, lại vừa thấy thương xót cho nỗi cô đơn của lão. Đằng nào tối nay tôi cũng mời lão ngủ lại nhà tôi. Thôi thì uống. Trời lành lạnh, ngồi chiếu mà uống rượu thì vào lắm. Hai chúng tôi lại chạm chén, vợ tôi cũng đã nhập chuyện, nghe một cách chăm chú, sốt sắng. Tôi lại hỏi:

- Thưa bác, bây giờ bác đi kiện, vậy đòi cụ thể cái gì? Cái nhà ngói năm gian của ông chủ tịch thị trấn? Hay là đòi xây lại hiệu sách cũ?

- Không. Không đòi nhà ngói năm gian. Tôi đòi là đòi huyện phải xây một hiệu sách.

- Thế thì khó bác ạ!

- Khó chỗ nào chú?

Tôi lựa lời:

- Thí dụ như bác bị mất cái gì của riêng mình; thí dụ như bị lấn đất, hay đền bù giá đất không thỏa đáng, bác kiến nghị, trên người ta mới có cơ sở để giải quyết. Đằng này, hiệu sách là tài sản của huyện, của Nhà nước không phải của bác, bác không đủ thẩm quyền để đi kiến nghị đòi khôi phục lại nó. Thưa bác, khó là khó ở chỗ đó.

Lão Bản ngẩn người nghe cái lý của tôi. Trầm ngâm một lúc lão bảo:

- Huyện mất hiệu sách, tôi kiến nghị xây lại không được à?

- Cái ấy, tỉnh người ta trả lời bác là đúng. Cấp huyện thấy cần thì xây, không cần thì thôi. Bác cháu ta có kiến nghị lên Trung ương, chắc chắn Trung ương cũng bảo thế.

Cạch, lão Bản đặt chén xuống nền nhà:

- Cần quá đi chứ, huyện mà không có hiệu sách, còn gì là huyện? Thế nếu tôi kiện, người ta phá hiệu sách để lấy đất chia cho mấy ông huyện thì trên có giải quyết không?

- Thì cấp tỉnh họ đã trả lời bác rồi. Lý do mở mang thị trấn, chia đất cho cán bộ là đúng chủ trương. Bây giờ trên dưới gắn bó với nhau, không ai nỡ phá nhà cán bộ để xây lại hiệu sách cả. Bác là cấp trên, bác giải quyết như thế nào ạ?

- Tôi làm sao làm được cấp trên.

Lão Bản nói chua chát, khiến tôi càng thương lão hơn. Biết giúp lão bằng cách nào đây? Lão Bản lại hỏi:

- Thế, nếu tôi kiến nghị hiến đất nhà tôi để xây hiệu sách mới, rồi tôi hiến luôn số sách cũ cho huyện, họ có giải quyết không?

Đến lúc này, vợ tôi chen vào:

- Bác không được làm thế. Bác già rồi, còn tý đất giữ lấy trồng cây trái vui tuổi già, lấy chỗ cho con cháu tìm về quê hương. Còn mấy trăm quyển sách cũ, bác cũng giữ lấy, ai mượn hay thuê thì bác giúp. Thêm được một người đọc sách, huyện mình thêm được tý học vấn. Bác cứ tin thế là yên lòng.

Tôi lại thương lão Bản quá, ước mơ của lão vẫn là chuyện sách, nhưng là ước mơ của người đã già, dẫu tha thiết đến mức si mê nhưng không còn đủ lực trước thời thế mới. Lão Bản nghe xong, ngước mắt nhìn tôi, đôi mắt đỏ như khóc:

- Chú có cách gì giúp tôi được không?

Tôi cúi xuống im lặng, tưởng tượng lão Bản từ từ đứng dậy, cao lớn dần lên như bức tượng. Có tiếng điện thoại của ai gọi, tôi ngẩng lên, lão Bản vẫn ngồi trầm tư, đôi vai lệch đi, dáng điệu của người thua trận, hình như lão kìm một tiếng thở dài. Vợ tôi bảo có người cần gặp điện thoại. Tôi xin phép lão Bản đứng dậy cầm ống nghe. Đầu dây bên kia, tiếng của ông bạn cũ đang làm Phó văn phòng ủy ban huyện nhà nói thì thầm vào tai tôi:

- Ông Bích ơi, tôi nhờ ông việc này. Có tin lão Bản chiều nay ra nhờ ông kiện lên Trung ương. Chỗ bạn bè, tôi nhờ ông không giúp lão ấy nhé. Này, thành phần quá khích đấy, mấy năm nay rồi. Trong này chúng tôi ngán lắm… Này, này…

Chẳng biết rượu nói hay tôi quát:

- Không phải thế. Các ông là đồ hèn. Thôi nhé…

Tôi dập máy cắt ngang câu chuyện; vợ tôi và lão Bản lấy làm ngạc nhiên về thái độ đột ngột ấy và nhìn tôi chăm chắm. Tôi ngồi xuống tỏ ý tiếp tục cuộc rượu. Lẽ ra, tôi không nên nói những câu ấy trước mặt một người già. May quá, vợ tôi thông minh đã hỏi một câu ngầm ý bảo tôi phải giải thích:

- Ai đấy hở anh?

- Xin lỗi bác, một anh bạn thân làm nhỡ việc ngày mai ký một hợp đồng quảng cáo. Cháu vô ý quá.

Chẳng biết lão Bản có tin không, nhưng lão chủ động kết thúc bữa ăn. Còn nửa chén rượu lão Bản nâng lên nói mạnh mẽ:

- Đến cô chú mà không giúp được thì có lẽ hết cách rồi… Xin cảm ơn chú.

Lão uống ực chén rượu rồi dùng hai tay vuốt mạnh khuôn mặt già nua từ trên trán xuống cằm, rồi vuốt ngược lại từ cằm lên trán, người lão run run như có tiếng nấc. Tôi không dám tin là lão Bản khóc tại nhà mình… Sáng hôm sau, theo đề nghị của lão Bản, tôi cho lão vay ít tiền để lão đi xe về quê. Tiễn lão lên xe rồi, người tôi cứ bâng khuâng, bâng khuâng, có cảm giác còn quên chưa nói điều gì đấy. Hình như là tôi định gọi, lão Bản ơi làm sao có thể đi kiện đòi lại một tình yêu? Nhưng không kịp nữa…

Nửa năm sau, Tiến, con trai lão Bản, anh chàng tiến sĩ đột ngột tìm đến nhà tôi. Tiến trao cho tôi cái phong bì đựng mấy chục ngàn lão Bản trả với dòng chữ nắn nót cảm ơn của người già. Tôi kể lại rành rọt với Tiến chuyện bố anh ra thăm nhà tôi. Nghe xong Tiến buồn bã nói:

- Cụ tôi bỏ nhà đi đâu không rõ anh ạ.

- Sao? Cụ bỏ đi? Đi đâu? - Tôi giật mình hỏi liên hồi.

- Đã mấy tháng. Mang cả toàn bộ số sách truyện đi cùng. Mấy chị em tôi tìm về thấy thư cụ để lại, dặn trả anh chị số tiền đã vay. Nay tôi tới vừa cám ơn anh, vừa nhờ anh có điều kiện đi công tác xa, nhân thể tìm tung tích cụ giúp… Cụ hiểu nhầm, hồi tôi về thăm trường cũ có đứa bạn đến họp lớp hiện mở quán Karaoke. Bọn tôi vào quán một chút cũng là thăm đồng môn. Thế nên cụ tôi hiểu nhầm anh ạ.

Tôi ngồi lặng đi, xa xót ân hận. Bữa rượu đãi lão Bản tại nhà tôi có góp thêm lý do nào kích lão bỏ thị trấn mà đi. Lão đi đâu, không ai biết. Tiến đã phát tin trên đài truyền hình để tìm kiếm nhưng vẫn không thấy hồi âm. Có người ở quê bảo nhìn thấy lão Bản chở sách vào rừng đem đốt cháy cả một góc, vừa đốt vừa khóc, xong đi vào rừng sâu, không thấy trở lại. Lại có người nói, nhìn thấy lão Bản đem bán sách cũ cho đồng nát, tính giá theo cân, rồi ôm một cục tiền lẻ đi ra bến xe huyện… Chẳng biết tin ai, vì ai cũng bảo có nhìn thấy lão Bản…

Tôi nói với Tiến một điều mơ hồ rằng, có thể bố anh thấy vùng đất cũ không cần sách nữa, ông liền mang mấy tạ sách cũ đi đến một miền đất nào đó xa lắc, có thể lập một hiệu sách mới để lại cho mượn, lại cho thuê, để được sống cùng với sách. Có thể ông là con chiên của sách và ra đi theo tiếng gọi của một thứ tín ngưỡng thanh sạch nào đấy mà người như chúng ta không thể hiểu được. Có lẽ, phải người cùng tín ngưỡng mới có cơ may gặp được ông chăng?

Thời gian sau đó, thỉnh thoảng tôi bật tivi. Trước chương trình thời sự lại nghe giọng cô phát thanh viên đọc “Ông Nguyễn Bản, người cao khoảng 1m80, khi đi có mang theo ba tạ sách…”. Nghe, lòng lại thấy nao nao buồn vì biết lão Bản vẫn chưa trở về…./.


 

Về tác giả:

Nhà văn NGUYỄN HỒNG THÁI

Bút danh: Nguyễn Thái Hng, Nguyn Thái Hưng;

Sinh ngày: 12-12-1961;

Quê gốc: Xã Din Hng, Din Châu, Ngh An;

Nghề nghip: Nhà báo, viết văn;

Hội viên Hi Nhà văn Vit Nam (2006).

Đã từng kinh qua các chức vụ:

Từng là hc sinh h chuyên Văn trường chuyên Phan Bi Châu, Ngh An, đot Gii hc sinh gii văn toàn quc, là sinh viên Khoa Ng văn, Trường Đi hc Tng hp, Hà Ni, sau đó vào công tác trong lực lượng CAND. Tng làm công tác cơ mt và tham gia viết báo, viết văn ri chuyn sang làm s quan An ninh thuc Cc An ninh Văn hoá tư tưởng, B Công an. Sau khi đot gii cao v báo chí và văn hc, chuyn hn làm báo chuyên nghip ti Báo Công an Nhân dân-chuyên đề An ninh Thế gii. Hiện là Giám đốc, Tổng Biên tập NXB Công an nhân dân.

Tác phẩm văn học đầu tiên được công bố: Truyện ngn Quà tng ca thi gian kh, in trên báo Người Hà Ni, năm 1991.

Các tác phẩm chính đã xut bn:

Tập truyn ngn Đi mt (NXB CAND. Hà Ni, 2000);

Tiểu thuyết Đt nóng (NXB Thanh Niên năm 2005, tái bn năm 2006);

Kịch bn văn hc phim truyn hình Nhng người tr v (viết chung vi nhà văn Lê Lu), đin nh CAND thc hin năm 2005;

Tập truyện ngắn Ngôi nhà bên triền sông (NXB CAND 2011);

Bút ký chân dung: Những trí thức về nước thời Bác Hồ đi kháng chiến (NXB CAND 2014);

Bút ký phóng sự: Dưới những nếp nhà CAND (NXB CAND, 2014).

Các giải thưởng Văn hc:

- Giải A ký s Mt công dân tí hon tri tù - Gii báo chí viết v đ tài An ninh trt t 5 năm 1991-1995 do Hi Nhà báo Vit Nam và B Công an t chc năm 1995;

- Truyện ngn Đi mt, Gii Nht, Gii Cây bút vàng 1996-1998 do Hi Nhà văn Vit Nam và B Công an t chc.

- Tập truyn ngn Đi mt (NXB Công an nhân dân 2000) đoạt “Gii thưởng Văn hc” do Hi Nhà văn Vit Nam và B Công an t chc dành cho các tác phm văn hc viết v đ tài “Vì ANTQ và Bình yên cuc sng” 10 năm 1995-2005.

Tự bạch của nhà văn Nguyễn Hồng Thái:

“Tôi không biết làm ngh gì ngoài làm báo và viết văn. Làm báo để kiếm sng, còn viết văn vì thy thích thú, mun đ li nhng cun sách riêng ca mình. Tôi viết văn chm chp và vt v, nhưng nghĩ rng mi s c gng s đem li mt kết qu nào đó, nên rt k khi viết mt câu văn. Hoàn thành mt tác phm, cm giác như mình va kit sc, cô đơn bơi qua mt khúc sông rng, bng thy thăng hoa, yêu mình hơn. Tôi không đt cho mình mt mc đích to tát nào v sáng to văn chương, nhưng rt hnh phúc khi viết được mt câu văn hay. Tuy vậy, mi tác phm ca tôi đu mong mun đưa đến mt ý tưởng mi l, gi m hay gii đáp mt câu hi nhân sinh cho mình, cho bn bè…”.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác