Giới thiệu 2 truyện ngắn của Bùi Nhật Lai



Trang Văn học Quê nhà xin giới thiệu 2 truyện ngắn của tác giả Bùi Nhật Lai.

Tác giả Bùi Nhật Lai
. Bút danh: Hồ Hải Ly. Sinh năm: 1960. Cử nhân chuyên ngành ngữ văn, hiện đang giảng dạy. Là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Thái Nguyên. Đã xuất bản tám tập sách về tản văn, truyện ngắn, bút kí phóng sự. Tác giả từng đoạt các giải thưởng: Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ Thái Nguyên năm 2002 (không có giải nhất); Giải nhì cuộc thi Bút ký - Hội Văn học Nghệ thuật Thái Nguyên năm 2002; Giải nhất cuộc thi Bút ký - Hội Văn học Nghệ thuật Thái Nguyên năm 2004.
 

 

Huyền thoại

 

Lão xoay ngang rồi lại xoay dọc những tấm ảnh vừa lấy ở hiệu về, lão nhìn ngắm chúng rất lâu và tỏ vẻ đắc ý lắm, lão hả hê đặt ảnh lên nóc tủ rồi ra bàn pha một ly cà phê, đó là thói quen mỗi khi lão cảm thấy hứng chí. Hương cà phê lan toả làm lão đê mê, cái cảm giác lâng lâng sau khi xem ảnh càng làm cho lão thấy phấn khích hơn, bất giác lão hát khe khẽ.

Bỗng cánh cửa đằng sau bật mở cùng giọng nói chát chúa của thị vợ:

- Sao có gì mà anh tưng tửng thế này? Anh lại vừa đi “sáng tác” về đấy phải không?

Nghe cái giọng vừa mỉa mai, vừa khiêu khích của vợ, lão “cay” lắm đã định “phản pháo” ngay nhưng lão cũng kịp dừng lại vì lão chợt nhớ ra sáng nay lão đã trót lấy một triệu tiền của vợ đi rửa ảnh. Thôi thì “một điều nhịn, chín điều lành”. Nghĩ vậy lão im lặng, ngồi thản nhiên uống cà phê. Thôi mình“yếu”một tí, “lép”một tí để giữ được “hoà bình, ổn định” không hơn sao?! Xét cho cùng đó là mình nể vợ mình chứ có sao? Mình không có lỗi thì bố bảo thị dám hỗn thế này. Đang tự trấn an mình thì vợ lão lại lên tiếng mỉa mai:

- Anh điếc từ bao giờ đấy? Anh học đâu được thói khinh thường vợ thế hả? Ra ngoài chụp cho các em “chân dài, váy ngắn” thì sao mồm miệng rẻo kẹo thế hả ch... ồng...? - Tiếng cuối thị kéo dài ra nghe rõ ghét.

- Ô hay! Em hỏi gì anh không hiểu? Mà sao hễ nói với chồng là em lại giở cái giọng ấy ra nhỉ? Em không nói năng tử tế được sao?

- Con giun xéo lắm cũng quằn! Em chẳng đã rất tử tế với anh từ bao năm nay rồi đó sao? Đã vô tích sự lại còn gàn gở ai mà chịu được.

- Tôi gàn gở cái gì? Làm người cũng phải có ước mơ, có hoài bão chứ! Nếu không thì trở thành loài lợn hết à? - Nói đến đây lão thấy mình đã hơi lỡ lời.

- Anh bảo ai là lợn hả? Tôi nói cho anh nghe nhé nếu không có tôi thì lấy đâu ra xe máy với nhà tầng cho anh. Những đống ảnh chất đầy tủ, mốc cả ra kia. Nó là bao nhiêu tiền của tôi nào? Không cần tôi thì hãy trả lại ngay cho tôi một triệu anh vừa lấy đi để tôi nộp tiền điện bây giờ. Thời buổi người ta đổ xô vào làm kinh tế còn anh thì lúc nào cũng ảo tưởng, hão huyền!

- Thôi được, tiền điện tháng này để anh lo, được chưa? - Lão đành xử nhũn.

- Anh nói hay nhỉ, “để anh lo” thì anh phải đưa tiền cho tôi ngay đi chứ!

Đến nước này lão đành xuống thang cốt để đổi lấy “hoà bình”. Lão thừa biết thị chỉ nói cho bõ tức thế thôi, rồi đâu lại vào đấy cả. Lão nhũn nhặn:

- Ấy chết! Em đòi ngay thì anh lấy đâu ra, anh trót tiêu rồi, chả là hôm qua anh vừa chụp được mấy kiểu ảnh đẹp tuyệt đúng là cơ hội ngàn năm có một đấy, và mấy thằng lại giục nộp ảnh dự thi luôn, hạn sắp hết rồi nên anh mới liều thế. Em thông cảm, lĩnh lương anh trả luôn cả thể. - Vừa nói, lão vừa tiến lại phía tủ lấy sấp ảnh mở ra cho vợ xem - Đấy em thấy không cái này là “tuyệt tác” luôn, cảnh này rất “độc” đố tay nào địch được với anh phen nay nhé. Đây nữa, cái này anh đã đặt tên rồi: “Hoà bình” đấy, em thấy ý nghĩa không? Đây nữa... đây nữa...! Lần này anh tin mình không thể trượt được, không nhất thì nhì chứ chả chơi. Anh sẽ cho mấy thằng bạn sáng mắt ra. Các hắn phải kiềng mặt anh... Báo chí lại chả phải tốn khối giấy mực vì anh ấy chứ! Đoạt giải anh sẽ “một, đền mười” cho em... Danh tiếng mới là cái lớn lao, cái mọi người vươn tới em ạ!

Thực tình vợ lão cũng là con người biết nghĩ trước sau, thị rất hiểu sự đam mê của chồng, nhưng lão thất bại nhiều quá khiến niềm tin trong thị cứ mòn đi, khác nào một người bị lạc trong rừng, càng đi càng thấy mịt mù không tìm thấy lối ra, trong khi sức lực ngày một suy kiệt! Hết giải này đến giải khác, lão nuôi hy vọng mà rồi vẫn trượt. Thử hỏi như thế thì mấy ai còn có được niềm tin cơ chứ?! Hàng năm có bao cuộc thi ảnh, và cuộc thi nào lão cũng tham gia “rất nhiệt tình”, bao nhiêu thời gian, công sức hễ rảnh việc cơ quan là lão lại cùng lũ bạn kéo đi “sáng tác” nhanh thì một, hai ngày, nhiều thì cả kỳ nghỉ phép luôn, trăm thứ việc đổ hết lên đầu vợ, sức chịu đựng của con người ta chứ có phải thần thánh đâu mà kiên trì mãi được... Thế đâu đã hết, được đồng lương nào lão cũng nướng hết vào ảnh, người đi, miệng đi, xe đi... tiền ăn, tiền xăng, tiền in ảnh... tất tật lão đều moi từ két của vợ ra cả, cũng may là vợ lão làm phó giám đốc ngân hàng, lương bổng cũng khá nên lão được thể ỷ vào vợ. Dạo lão mới “bập” vào ảnh thị cũng rất ủng hộ vì thị nghĩ: “Đàn ông ai chả có sự đam mê, nhưng đừng rượu chè, trai gái là được, thôi thì mình có điều kiện không tạo dựng giúp đỡ chồng thì còn giúp ai?” Nghĩ vậy nên bao lần lão đòi thay máy mới, tốn đến hàng chục triệu đồng nhưng thị đều “duyệt ngay”. Biết lương của chồng chả đáng là bao nên không bao giờ thị hỏi tới, hai đứa con ăn học, rồi xây nhà, mua sắm mọi tiện nghi gia đình và cả việc đối nội, đối ngoại, họ hàng hai bên lão cũng phó mặc cho vợ. Thị chấp nhận lão và thị tự nhủ tuy không làm ra tiền bạc nhưng lão cũng chẳng hư hỏng gì, lão không rượu chè, không em út đua đòi gì, đàn ông thời nay giữ được thế là qúa ổn. Mấy đứa bạn cùng cơ quan vẫn khen thị là có ông chồng ga lăng mà lại “ngoan hiền”. Những lúc đó thị cũng nghĩ, vợ chồng là cái “duyên nợ” chẳng mấy ai “mười phân vẹn mười” cả... Lúc này đây nghe lão thao thao nói về ảnh. Thị thấy cũng thương lão, cả đời đeo đuổi đến hao mòn, vậy mà lão chưa một lần gặp may, nhiều khi bị vợ rầy la, nhưng lão biết “thân phận” nên đều tìm cách dấu dí cho qua. Lão mê ảnh đến mụ mị cả đi, nói đến ảnh là lão quên hết mọi phận sự của mình... Nghĩ đi thì thế, nghĩ lại máu trong thị lại bắt đầu sôi lên. Lấy nhau đã hai chục năm trời, quãng thời gian đó với đời người đâu có ngắn ngủi gì, lúc nào thị cũng chịu phần thua thiệt, chịu sự nhún nhường và cam chịu đủ bề với ước muốn là gia đình ấm êm, mà rồi đâu có được. Giờ thì thị nghĩ khác, thị chịu đựng lão thế là quá đủ, thị phải sống cho mình nữa chứ, khi mà quanh thị đầy những người đàn ông lịch lãm luôn tỏ ra ngưỡng mộ, săn đón và sẵn sàng chiều chuộng thị, đành “lành làm gáo, vỡ làm muôi” một phen. Nghĩ thế thị giật phắt sấp ảnh trên tay lão, thị ra sức xé vụn những tấm ảnh ra nhiều mảnh, vừa xé thị vừa gầm lên :

- Này thì “tuyệt tác” này! Này thì “độc” với “địa” này! Bà cho chúng ra giấy vụn hết!

Những tấm ảnh khổ to chỉ mấy giây trước thôi lão nâng niu, hy vọng giờ trở thành những mảnh giấy bay tung toé khắp gian nhà, mắt lão bỗng vằn lên, lão xô tới giơ tay tát mạnh vào mặt vợ, một tiếng “bốp” khô khốc kèm theo là tiếng vợ lão rú lên:

- Á... anh đánh tôi à? Anh là kẻ bất tài, là đồ ăn hại! Anh cút đi!- Thị cầm những tấm ảnh đang xé dở ném vào mặt lão.

Lão sững người lại trước phản ứng quyết liệt của vợ, lão cúi xuống nhặt vội mấy tấm ảnh còn sót lại, rồi vơ chiếc ba lô đồ nghề và quần áo trên góc giường, lão phăm phăm bước ra khỏi cửa. Tiếng vợ lão vẫn gào lên ở phía sau:

- Anh cút đi! Đồ vô tích sự!

Lão đi như vô định, cả đêm ấy nằm một mình ở cơ quan, lão tự kiểm điểm bản thân và thấy mình đúng là kẻ vô tích sự, bao năm qua lão không mảy may làm được gì cho vợ con. Người phụ nữ dẫu có hiền lành đến mấy thì cũng không thể cam chịu mãi thế được, thị là người phụ nữ thông minh, tháo vát lại có địa vị xã hội hẳn hoi, thị có quyền đòi hỏi chồng con chứ? Bao năm qua thị hy sinh, chăm sóc cho lão từng ly, từng tý. Còn lão đã làm được gì cho vợ cơ chứ? Vậy mà hôm nay lão đã đánh vợ. Lão thấy ân hận vô cùng. Nhưng biết làm sao, chén nước đã hắt đi thì làm sao hót lại cho đầy được nữa? Không, lão không thể để đổ vỡ được. Lão sẽ từ bỏ mọi đam mê để cứu lấy gia đình. Nghĩ đến đây lão với tay lấy mấy tấm ảnh trên đầu giường, lão quyết định đốt chúng. Lão cầm ba bức ảnh trên tay, lão lặng lẽ bật lửa châm vào tấm ảnh thứ nhất, ngọn lửa xanh lét liếm dần tấm ảnh, những nhân vật trong ảnh nhìn lão với ánh mắt nửa như giận hờn, nửa như chia sẻ họ như nói với lão: “Này anh bạn chúng tôi cảm thông và chia sẻ với anh về nỗi buồn này, nhưng cuộc đời nó nghiệt ngã thế đấy, biết làm sao, hãy quay về với vợ con anh, đấy mới là cuộc sống đích thực, tuy nhiên anh cũng chẳng nên từ bỏ những sở thích của mình, vì như thế anh đâu còn là anh nữa?” Những hình ảnh ấy nhoè dần và tan biến vào màn khói xanh biếc. Lão nhìn tấm ảnh cháy mà như thấy chính da thịt mình đang cháy! Lão không đủ can đảm đốt tiếp, lão quăng hai tấm còn lại vào góc phòng, lão ôm mặt khóc nức nở như trẻ con. Bóng lão run rẩy, nhập nhoà trong căn phòng. Chưa bao giờ lão thấy mình cô đơn và đau khổ như thế.

Lão đến ở cơ quan được một tuần thì đứa con gái lớn đang học lớp 10 đến tìm lão, nó nằng nặc đòi lão về, nó bảo nếu bố không về thì nhất định nó bỏ học. Không còn cách nào khác lão đành đèo con về nhà.

Những ngày sau đó lão đi làm đều đặn, hết giờ lão về ngay nhà bắt tay vào việc bếp núc giúp vợ vì công việc của vợ lão dịp cuối năm rất bận nên hay về muộn. Lão lặng lẽ làm như để chuộc lại một phần lỗi lầm của mình với vợ con. Thời gian êm ả trôi đi đã 3 tháng sau sự kiện ấy. Chiều nay lão về sớm hơn mọi ngày, lão bước vào căn phòng trên gác, bộ đồ nghề treo trên tường đập vào mắt lão, đã hơn ba tháng lão không động đến nó, như một phản xạ tự nhiên lão nhẹ nhàng lấy xuống, lão giở chiếc máy ảnh ra, lão mân mê, xoay chỉnh ống kính, lão lắp ống pêlê, giơ lên lấy “nét”... rồi chợt nhớ ra điều gì, lão lần tìm trong túi, lão lật tung mọi thứ miệng lẩm bẩm:

- Quái! Mình đốt có một bức, còn hai bức, mình đã vứt lại, sao giờ không thấy?

Đang lục tìm chợt có tiếng xe máy vào cổng, “thôi chết vợ về” nghĩ vậy lão vội ôm tất cả đống đồ nghề dúi vội vào dưới chăn, xong xuôi lão bước nhanh xuống cầu thang. Thấy vợ lão hỏi:

- Sao hôm nay mình về sớm thế?

- Gần 5 giờ rồi còn sớm gì nữa?

Vừa lúc ấy có tiếng còi ô tô ngoài cổng, lão ngó ra thì thấy trưởng phòng của lão đang lái xe vào sân, lão không hiểu có chuyện gì mà trưởng phòng lại đến. Lão vội chạy ra đón:

- Sao anh đến không điện cho em, nhỡ em không có nhà.

- Sao phải điện, từ ngày “dã từ” nghề ảnh chú còn đi đâu được nữa. Cô ấy có nhà không?

- Dạ mời anh vào nhà, vợ em đang nấu cơm.

Trưởng phòng theo lão vào nhà. Ông nói vọng xuống bếp:

- Cho anh báo cơm với nhé.

- Vâng! Mời anh ở lại ăn cơm với nhà em.

- Nhất trí, nhưng em lên đây đã, xem anh mang cái gì đến cho cô chú đây!

- Cái gì mà quan trọng thế anh?

Không để cho vợ chồng lão phải chờ, ông trưởng phòng rút từ trong cặp ra chiếc giấy mời. Rồi ông nói:

- Đây là giấy mời của Hội nghệ sĩ nhiếp ảnh, mời chú ấy đi nhận giải thưởng đấy, giải nhất hẳn hoi, trị giá cũng không nhỏ đâu nhé 50 triệu đấy! Cô chú không tin à?

Nói rồi ông đưa tấm giấy mời cho lão, lão đón lấy, đọc vội.

Kính gửi: Ông: Thành Thấn

Cuộc thi ảnh với chủ đề: “Đất Việt yêu dấu” do Hội nghệ sỹ nhiếp ảnh phát động và tổ chức từ ngày... đến ngày... đã thành công tốt đẹp. Ban tổ chức vui mừng báo tin: Tác phẩm “Hoà Bình” của tác giả: Thành Thấn - Đoạt giải nhất...

Lão không tin vào mắt mình, lão đưa cho vợ, vừa xem giọng thị đã lạc đi:

- Đúng ! A... nh... được giải... rồi !?...

- Thế này là thế nào em không hiểu? Thực tình em không được gửi ảnh dự thi?

- Chuyện là thế này. Hôm chú về, sau đó cậu Hải dọn dẹp căn phòng nó thấy có hai tấm ảnh, chú vứt ở dưới gầm giường, nó liền mang đến cho tôi, thấy đẹp tôi liền gửi dự thi luôn. Không ngờ lại được giải. Vì thế chú ngạc nhiên là phải thôi.

Sau khi nghe trưởng phòng nói, lão và vợ vừa ngạc nhiên, vừa xúc động. Rồi lão kể lại chuyện cái đêm lão dọn đến cơ quan... Chuyện lão đã đau khổ thế nào khi vợ chồng xô xát... Chuyện lão đốt ảnh... Chuyện lão đã khóc như thế nào... Chuyện vì sao lão quẳng hai bức ảnh lại...

Nghe và biết rõ mọi chuyện, vợ lão bật khóc.

Đến đây ông trưởng phòng vỗ đùi nói:

- Hay! Quả đây là một huyền thoại ly kỳ, hấp dẫn không kém gì các huyền thoại trong cổ tích. Chỉ cần nghe kể như vậy thôi nó đã xứng đáng là một kiệt tác rồi, bởi chỉ tý nữa thì nó đã bị xé, bị đốt, rồi nó lại bị bỏ quên dưới gầm giường, nhưng cuối cùng nó vẫn đến được với cuộc thi và trở về với chủ trong niềm vinh quang. Đúng là một huyền thoại!

 

Chốn Thiên Đàng

Thân em như hạt mưa sa…

Ca dao

Dân làng gọi cô là Lú. Có người giải thích rằng cô có tính hay quên, hay lú lẫn, chồng con dặn trước quên sau. Có những buổi đi họp trưởng xóm phổ biến công việc rất cụ thể như: Ngày nào đi bầu cử, ngày nào cho trẻ đi uống thuốc, đi tiêm phòng, ngày nào thu tiền thuế… cô nghe và rồi chưa về đến nhà đã quên hết nên mỗi khi xóm có việc, mọi người đều đến đông đủ và đúng giờ nhưng nhà cô thì chẳng bao giờ nhớ để đi cả, vậy là trưởng xóm lại phải đích thân đi gọi, đi tìm. Nhiều lần như vậy nên người ta đặt luôn cho cô cái tên là Lú. Cứ thế gọi mãi thành quen cô cũng chẳng nhớ ai là người đặt cho cô cái tên ấy nữa.

Người ta có câu: “Ông trời không lấy hết đi của ai mọi thứ và cũng không cho ai hết mọi thứ bao giờ!” Vì thế cô Lú tuy đầu óc lẩn thẩn, dễ quên, dễ nhầm lẫn nhưng bù lại cô rất khoẻ mạnh, cô làm việc cứ phăm phăm, mùa gặt cô đi gặt thuê, lúa tuốt xong đóng vào bao tải, mỗi bao nặng 5- 60 cân mình cô tự sốc lên vai vác chạy một lèo từ đồng về nhà không cần nghỉ, năm bảy tạ thóc chỉ mình cô khuân vác loáng cái đã xong, cánh đàn ông trong làng nhiều anh nhìn cô làm mà phát khiếp. Khoẻ là vậy, làm lụng chăm chỉ là vậy mà nhà cô Lú vẫn nghèo đói. Nhà cô hầu như thiếu ăn quanh năm. Mà nhà cô nghèo đói là phải thôi, ba lần sinh thì có hai lần sinh đôi tổng cộng là cô có 5 cậu con trai. Đông con mà chồng cô lại là một gã đàn ông vũ phu vô tích sự, lão đã lười nhác lại còn nghiện rượu nặng, suốt ngày lão say chẳng bao giờ lão mó tay đến việc gì, từ cơm nước, con cái, ruộng vườn, đồng áng đều một tay cô Lú lo cả. Vậy mà cô vẫn thường xuyên bị chồng đánh đập tàn tệ mỗi khi cô không có tiền cho lão mua rượu. Lũ con lít nhít trứng gà trứng vịt chưa giúp gì được cho cô, chúng chỉ ăn và quấy phá, áo quần rách rưới, lúc thì chúng tranh nhau mấy mẩu gỗ đồ chơi, khi thì chúng đánh nhau giành ăn, ai vô tình đến nhà cô vào đúng bữa ăn mới thấy khủng khiếp, gian nhà bếp thật sự trở thành “bãi chiến trường” của 5 đứa trẻ, chúng tranh giành, giằng xé nhau quyết liệt. Bữa ăn nhà cô Lú diễn ra như một trận chiến, thằng anh giằng bát của thằng em, thằng em vác đũa cả choảng lại thằng anh, có nồi canh chúng mải đánh nhau làm đổ ụp xuống đất… Mình cô Lú không tài nào quản được. Trong khi ở nhà trên chồng cô một mình một chiếu ngồi uống rượu tỳ tỳ, có món gì ngon lão bắt vợ mang hết lên cho lão, chỉ đến khi nào lão “đánh nhắm” xong, lúc bấy giờ lão mới phát lệnh “tháo khoán” cho lũ con hưởng “sái”. Đã thành nếp lũ trẻ dù đang đánh nhau dưới bếp nhưng thoáng nghe bố phát lệnh: “Chúng bay đâu lên lấy lộc xuống mà ăn này”. Thế là 5 thằng bỏ hết mọi thứ lao như bay lên nhà để lấy “lộc” của bố. Than ôi đến lúc đó thì trên mâm cũng chỉ còn xót lại được khi mẩu đầu cá, lúc mấy miếng xương chối hay dăm ba miếng bì, miếng thịt mỡ mà thôi! Vậy là lũ con lại phải một phen tranh giành đánh đấm nhau chí mạng thằng nào nhanh, khoẻ mới giành được “chút lộc” của bố chứ đâu có ngon xơi, có thằng em khi tranh được mẩu xương thì lại bị thằng anh đánh toé máu đầu. Cô Lú lại phải lao vào “can thiệp, giải quyết hậu quả!” Khi mọi việc tạm được “vãn hồi” mới là lúc cô vét nồi niêu, còn gì ăn nấy, không thì lại nhịn. Nhà cô suốt ngày hỗn loạn như trong khu tị nạn vậy, may mà cô Lú có tính hay quên, hay lẫn nên thành ra vô tư lự trước mọi sự của gia đình chứ cứ như người bình thường thử chịu như thế một ngày xem chả phát điên, phát rồ lên ấy chứ?! Đúng là “trời không lấy đi của ai hết mọi thứ” là thế ! Phải chăng đó cũng là sự cân bằng của tạo hoá dành cho loài người?! Thông thường nhà cô Lú chỉ tạm gọi là no đủ mỗi năm chừng hai tháng vào dịp hai vụ thu hoạch chiêm, mùa. Đó là lúc lúa nhà được thu, cô khoẻ và làm nhanh lại thuê máy tuốt nữa nên ba sào lúa cô chỉ gặt hai ngày là đâu vào đấy, thời gian còn lại cô đi gặt thuê, khoẻ và chăm chỉ như cô nên ai cũng muốn thuê cô làm, nhiều người thương cô, mỗi khi cô đi làm họ còn giữ cô ở lại ăn cơm, khi trả công bao giờ họ cũng thêm cho cô năm bảy đấu thóc hay vài chục bạc nữa. Đó là những ngày cô cảm thấy mình “giàu có” và sung sướng nhất trong năm, những ngày ấy cô cũng mới có dịp để “thử lại” mùi vị các móng ăn quen thuộc của dân làng đó là những miếng thịt gà hay miếng cá rán mà có lẽ nếu cô không đi làm thuê cứ ở nhà với chồng con thì chả đời nào cô được đụng đến chúng bởi gã chồng tham ăn và đàn con háu đói của cô! Lần ấy cô đi làm cho bà nội tôi, đến bữa ăn, mọi người gắp đầy thức ăn vào bát giục cô ăn, cô nhìn mọi người rồi bỗng ứa nước mắt cô nói:

- Con cảm ơn bà đã cho con ăn ngon thế này. Nhưng cho phép con dành mấy miếng thịt này đem về cho các cháu. Con đi làm được ăn ngon thế này nhưng các cháu nhà con nào có gì đâu!

Biết cô thương con không nỡ thấy miếng ngon mà ăn một mình. Bà tôi ôn tồn bảo cô:

- Cô cứ ăn đi rồi tôi sẽ có phần cho các cháu.

Nghe vậy cô rối rít xin lỗi và bảo là không cần, cô ngồi cặm cụi ăn, bà tôi thấy thế lại càng thương. Sau này, mỗi khi nhắc đến cô bà tôi đều thở dài và nói với chúng tôi:

- Thân phận người đàn bà giống như hạt mưa sa khổ thế đấy. Lấy chồng gặp chỗ phúc đức thì may, hẩm hiu như cô Lú thì khổ cả đời! Thời đại mới mà đâu đã hết người khổ? Nghĩ tội cô ấy quá!

Vì thế, cứ vào dịp tết bà tôi thường nhắn cô đến nhà, bà khéo léo sắp đặt nhờ cô làm một số việc như bổ củi hay rửa lá bánh rồi bà trả tiền công và cho quà lũ trẻ, thực ra bà rất muốn trực tiếp cho quà cô nhưng bà sợ cô từ chối, bởi bà biết những người như cô lòng tự trọng thường rất cao, họ không muốn bị coi thường, bị khinh rẻ và càng không muốn chịu sự bố thí, ban ơn của mọi người. Tuy nhiên, với bà tôi thì cô hiểu, cô cảm ơn bà tôi rất nhiều, hễ có công việc gì đi đâu cô thường rẽ vào thăm bà tôi có khi dỗi cô ngồi trò chuyện với bà cả buổi… ấy vậy mà lần này về thăm bà vừa bước chân vào đến nhà tôi đã thấy bà tôi khăn thâm áo trùng, cổ đeo tràng hạt vẻ như bà đang chuẩn bị đi đâu. Thấy tôi về bà nói ngay:

- Cháu đã về đấy ư, còn ở nhà chơi hay đi luôn? Này cái nhà cô Lú chết rồi cháu ạ! Khổ thế đấy đúng là “sinh có hạn, tử bất kỳ” bốn hôm trước cô ấy còn ngồi chơi với bà cả buổi, cô ấy cứ phàn nàn là chồng con chẳng ra gì, cô ấy chán. Mà cũng như là điềm gở hay sao ấy, mọi khi bà giữ cô ấy ở lại ăn cơm thì cô ấy chối đây đẩy đòi về cho kỳ được vậy mà hôm đó cô ấy lại bảo bà nấu cơm cho cô ấy ăn với, rồi cô ấy xăng xái đi vo gạo nấu cơm với bà, hai bà con ăn xong cô ấy còn nấn ná mãi đến chiều muộn mới về. Thôi cháu đã về tiện xe đưa bà vào đám cô ấy luôn, nhân thể cháu cũng thắp cho cô ấy nén nhang, ngày cháu còn bé mẹ cai sữa gửi về bà, cô ấy cũng bế cháu suốt đấy. Người như cô ấy thật đáng thương quá thôi !

Chúng tôi đến nơi thì người ta đã khâm liệm cho cô rồi. Mấy người hàng xóm kể rằng hôm trước là ngày giỗ bố cô Lú, cô kiếm tiền làm mâm cơm cúng giỗ cho cha, chẳng biết thức ăn có gì nhiều, nghe đâu còn mấy chiếc nem và mấy miếng thịt gà cô dành lại cho chồng và con để bữa sau. Nào ngờ sáng ra bị lũ chuột tha hết. Lão chồng thức dậy tìm rượu uống và chợt nhớ ra số đồ nhắm vợ cất lại tối qua bèn lần xuống chạn tìm thì thấy đã mất, lão tức mình chửi bới om sòm và túm lấy cô đánh tới tấp, nghe lũ con gào thét, mọi người sang can mãi mới gỡ được cô ra khỏi tay lão chồng. Mặt mày thâm tím cô chạy ra vườn ngồi khóc. Gần trưa người ta gặp cô ở ngoài quầy thuốc thực vật nhà mụ Liễu Đen cuối xóm… Về nhà nhìn lũ con đang đánh nhau và kêu đói, cô vội đi nấu cơm cho chồng con. Lão chồng vẫn vừa ăn, vừa chửi cô là đồ “đoảng vị” có miếng ăn ngon thế mà không biết cài đậy để chuột tha mất. Cô lặng lẽ ngồi nhìn lũ con tranh nhau ăn như mọi ngày mà không nói một lời, sau đó cô đi ra vườn… Mãi chiều tối không thấy cô về lũ trẻ mới chạy đi tìm khắp nơi mà không thấy lúc ấy dân làng đổ đến và họ đã tìm thấy cô nằm sau bụi chuối cuối vườn, mọi người vội đưa cô ra trạm xá nhưng đã quá muộn…

Mọi chuyện về cái chết của cô Lú rồi cũng được làm sáng tỏ. Nhưng kể ra mà làm gì, nó chỉ làm cho vong hồn cô thêm buồn, thêm tủi có phải thế không cô Lú?! Dân làng chỉ mong sao hồn cô sớm siêu thoát chốn thiên đàng cô ạ! Ở nơi đó hẳn cô sẽ hết buồn đau, đói khổ đúng không cô?

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác