Đêm Làng Ho


(Toquoc)- Làng Ho- Đó là một địa danh được đánh dấu son trên sơ đồ chiến lược của Quân đội ta trong những năm chiến đấu với Đế quốc Mỹ xâm lược. Tấm bia Di tích lịch sử được đặt khiêm nhường bên đường ghi: “Làng Ho - Tháng 10 năm 1959 đã được chọn đặt chỉ huy sở tiền phương của Đoàn 559, là điểm đầu đường gùi thồ chi viện cho chiến trường Trị Thiên và khu 5 từ 1959-1962. Năm 1966, 1967 bộ đội, TNXP Trường Sơn đã mở đường cơ giới Thạch Bàn - Làng Ho, Làng Ho - Khe Sanh, Làng Ho - Bản Đông (Lào) để chuẩn bị cho chiến dịch Khe Sanh và Mậu Thân 1968. Làng Ho là nơi tập kết lực lượng chuẩn bị đánh đường 9 Nam Lào 1971”. Già bản Hồ Điều, một trong những người sống chết với Làng Ho qua mấy thời kỳ cách mạng cho tôi biết “Ngày trước muốn lên với Làng Ho người ta phải cắt rừng lội bộ vài ba ngày trời, nay thì sướng hung rồi, cứ lên xe máy phóng vèo vèo là đến”.

Trên cốt đường có sẵn từ hồi chiến tranh, người ta xây một con đường thảm bê tông lượn qua làng, đó nhánh Tây đường Hồ Chí Minh. Tôi đã lên Làng Ho bằng xe máy như lời già Hồ Điều nhưng không phóng vèo vèo mà khi du dương, khi dào dạt trôi đi trong những cánh rừng như một kẻ du lãng.

Đêm Làng Ho - ảnh 1

Ông Hồ Mia, dân tộc Vân Kiều ở làng Ho vui mừng đón các cựu chiến binh Trường Sơn. Ảnh: Trần Hoàng (nguồn qdnd.vn)


Trạm y tế quân dân y kết hợp Làng Ho nằm ven đường Hồ Chí Minh. Khi tôi đến trời đã ngả chiều. Ở đó có đại úy quân y biên phòng Cao Thanh Luận và Phong- một nữ điều dưỡng viên người Vân Kiều. Trạm đang có bệnh nhân. Người phụ nữ dân tộc mắc bệnh sốt rét da mặt tím ngắt, đôi môi bạc phếch run bần bật sau mấy lớp chăn. Có lẽ đã quen khi xử lý những tình huống như thế này nên cả Luận và Phong đều rất bình tĩnh tiến hành những thao tác cần thiết nhằm giúp người bệnh hạ nhanh cơn sốt. Bản nhỏ vắng tanh. Ngoài đường mấy đứa trẻ con trần truồng, đứa có quần không áo, đứa có áo không quần vô tư cõng nhau chạy. Trong trạm xá chỉ lanh canh tiếng y cụ.

Đêm ấy tôi ở lại Làng Ho, ăn cơm Phong nấu và ngủ cùng em. Có phải vì được ăn một bữa quá ngon với gạo rẫy, cá suối và măng rừng hay không mà ngay từ đầu, Phong đã gây thiện cảm mạnh đối với chúng tôi, đặc biệt là mấy anh lính biên phòng. Vừa kịp làm quen Phong hồn nhiên kể cho tôi nghe về chuyện tình đứt gãy của em: “Em yêu người dưới xuôi, người ta cũng yêu lại, nhưng mà... em là người đồng bào nên gia đình họ không cho”. Tình yêu đi qua đời em nhẹ như áng mây bay ngang trời. Ngoài sân những cơn mưa rừng thoắt rơi thoắt tạnh, thoáng buồn chao qua đôi mắt Phong.

- Nhưng mà em vẫn còn may mắn hơn các bạn cùng lứa và nhiều chị em trong bản. Em được đi học Trung cấp y ở Đồng Hới và được vô biên chế của ngành Y tế Lệ Thủy. Chừ em là điều dưỡng viên của Trạm xá...

À thì ra là vậy, điều đó lý giải cho tôi hay vì sao cái chất Vân Kiều ở Phong có vẻ nhạt. Phố phường đã tút tát lại diện mạo của Phong trong mấy năm em ở Đồng Hới. Da em trắng, tóc em vàng, em mặc áo blu trắng trông rất hiện đại. Nhưng có một thứ dù Phong có đi đến chân trời góc biển nào cũng không thể lẫn được, đôi mắt Vân Kiều của Phong. Đôi mắt mà khi buồn thì hoang vu đến lặng người, khi vui thì chấp chới như có nắng và có lẽ khi yêu thì ma lực phải biết. Sẽ không bao giờ có một đôi mi nhân tạo tinh vi nào có thể đánh đu nổi với đôi mi cong vút và mướt rượt của Phong. Thật là may!

*

Đêm ở Làng Ho rất vắng. Làng không có điện nên càng vắng hơn. Ngoài đường thi thoảng rồ lên tiếng xe máy, thi thoảng lấp lóa ánh đèn pin của vài ba đôi trai gái bản đi hẹn hò. Trước sân trạm xá, cũng đôi ba lần tiếng xe máy dừng lại... Có lẽ là bệnh nhân?! Nhưng nhìn thái độ của Phong tôi biết mình nhầm. Đó là những chàng trai bản đến tìm Phong nhưng em không tiếp. Tôi hỏi:

- Tại sao? Em vẫn còn là thiếu nữ!

- Em đã 27 tuổi, ở đây là ế rồi.

- Vì mối tình cũ hay vì chưa có người em thích?

- Vì nhiều thứ... Em thấy phụ nữ bản em thiệt là khổ...

- Nhưng bây giờ cuộc sống em đã khác, em có công việc, có lương...

- Em được đi học dưới Đồng Hới 2 năm, sống một cuộc sống khác. Lúc đầu em không quen... buồn và nhớ bản. Dần dần hòa nhập được thì thấy thương mình... Nhưng thay đổi khó lắm... vì em là người đồng bào!

Phong nói với tôi rồi buông một tiếng thở dài và im lặng... Tôi hiểu ý Phong Muốn nói một điều gì đó với em nhưng không dám chạm vào sự im lặng ấy nên tôi yên lặng nghe tiếng đêm. Lúc lúc có một tiếng chim lạc thấp thỏm rơi. Tiếng con tắc kè hoa gọi bạn tình “Tắc kè... Tắc kè...è...è...”. Tiếng con dế gáy vang trong cỏ “ Ri...ri...ri...”. Từ một nơi đầy rẫy phương tiện phục vụ cho nhu cầu hưởng thụ không có điểm dừng đến một nơi không có gì mời gọi, không ti vi, không điện thoại, không facebook, không email, không shop... tôi nhẹ nhõm chìm mình vào màn đêm miền biên ải.

- Chị biết phụ nữ ở đây thường hay mắc bệnh chi không?

- Bệnh sốt rét!

- Không! Bệnh phụ khoa.

- Vệ sinh kém à?

- Vì suốt ngày ngâm mình trong nước suối ô nhiễm để đãi vàng...

- Trạm xá giúp chị em chữa bệnh chứ?

- Lúc đầu chị em ngại không đến trạm xá, chỉ ở nhà tự xử lấy thậm chí còn cúng con ma rừng. Nhưng em biết, chẳng có con ma nào tạo ra cái bệnh ấy cả nên phải gặp từng người vận động có bệnh là phải đến trạm xá.

- Em...?

- Không! Bộ đội Luận làm hết. Chữa bệnh phụ khoa, đỡ đẻ... Em chỉ giúp việc cho anh ấy. Nhiều chị vừa thấy anh Luận đã cười sằng sặc rồi bỏ chạy. Lại phải đi kêu. Mãi thành quen! Nhưng... chị em không thể không đi đãi vàng. Bệnh tái phát hàng tháng, không nguy hiểm nhưng khó chịu... Bây giờ thì chị em đến trạm xá khám bệnh phụ khoa tự nhiên như đi ra suối.

Không gian đêm và câu chuyện ngắn của Phong thoạt tiên làm chúng tôi buồn cười, sau đó lại dìm mọi người vào nỗi niềm cắc cớ khó tả. Im vắng đến tê người. Chợt có tiếng guita tỉa từng nốt... từng nốt... thả vào đêm và “Rừng chiều biên giới bao la/ Ngồi bên con suối ngân nga/ Có người chiến sĩ hát với cây đàn ghi-ta/ Lời ca theo gió bát ngát/ Suối reo hòa âm miên man/ Hoàng hôn buông xuống tím ngắt/ Khúc ca chiều dâng mênh mang...” da diết vang lên. Đó là ngón đàn và dọng hát của thiếu tá Nguyễn Cảnh Toàn- Văn công Bộ đội biên phòng tỉnh. Tiếng guita rơi trong đêm sơn cước không ngờ có sức lay chuyển khủng khiếp. Tôi tê dại ngồi đơ người như mỗi đầu dây thần kinh cảm xúc trên cơ thể bất thần bị châm kim kích hoạt. Phong sửng sốt nhìn Cảnh Toàn như vừa phát hiện ra điều kỳ diệu. Cảnh Toàn chứng tỏ là chiến sỹ làm công tác vận động quần chúng xuất sắc. Làng Ho đang chìm dần vào cơn ngủ chợt tỉnh hẳn. Những bước chân gấp gáp, vừa đi vừa chạy hướng về nơi có tiếng đàn. Chỉ một lúc sau, lũ trai gái bản đã vây kín Cảnh Toàn. Người vỗ tay... Người lắc lư... Người ư ử hát theo. Phong lúc này thực sự là một sơn nữ với áo chẽn và váy thổ cẩm. Cơ thể em lẳn tròn, eo co như con ong rừng, vừa nền nã e ấp như nhánh chạc chìu lằng lặng tỏa hương, vừa rỡ ràng nóng bỏng như ngọn lửa đượm cháy. Sự có mặt của Phong có tính kích động mạnh, làm cho lũ trai hớn hở hẳn lên, họ hát như chưa bao giờ được hát. Giọng trai bản ồm ồm, vang vang như phát ra từ núi, giọng con gái trong veo thánh thót như tiếng suối, hồn nhiên vấn vít vào nhau.

*

Làng Ho lọt thỏm giữa đại ngàn. Toàn bản có hơn 30 hộ gia đình với gần 200 nhân khẩu nhưng không có đất sản xuất. Mấy năm trước, bộ đội biên phòng đồn 601 đã tích cực thực hiện chương trình đưa lúa nước lên non nhằm giúp đỡ đồng bào có thể tự túc được một phần lương thực, bỏ hẳn thói quen du canh và khai thác rừng bừa bãi. Hiệu quả bước đầu đã rõ, bộ đội biên phòng chứng minh cây lúa nước có thể đứng chân trên những thưở ruộng ở độ cao cách mặt nước biển trên 100 mét nếu được đầu tư đúng kỹ thuật và hệ thống kênh mương thủy lợi dẫn nước đảm bảo. Người Vân Kiều - Làng Ho hồ hởi nghĩ đến ngày mai. Thế nhưng hiệu quả bước đầu không dự báo tương lai. Kỹ thuật trồng lúa nước đòi hỏi “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” khác xa tập quán trồng trọt “chặt, đốt, cốt, trỉa” của bà con. Hệ thống đập thủy lợi ở Làng Ho chỉ sau mấy mùa mưa đã trôi theo nước lũ. Cây lúa miền xuôi cũng có nguy cơ hồi hương nếu bộ đội buông tay. Vậy là cây lúa bộ đội mang lên cứ để bộ đội lo. Đồng bào lại ngày ngày đi trên con đường cũ, đàn ông vào rừng lấy mật, hái nấm lim xanh, phụ nữ ra suối đãi vàng sa khoáng.

Ở miền núi chiều xuống rất nhanh, dòng suối sau bản đang bắt nắng sáng lóa phút chốc đã tím sẫm, thẩn thơ chảy. Đó cũng là lúc đàn bà con gái trong bản trở về nhà sau một ngày ngâm mình trong những hố nước đục ngầu và đặc quánh của con suối A Long để đãi vàng sa khoáng. Họ đi thành hàng, gương mặt ai cũng lặng lẽ u buồn. Sau lưng mỗi người đeo một chiếc nón sắt. Đó là dụng cụ đãi vàng do đồng bào tự chế. Họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Vân Kiều. Tôi không hiểu nên nhìn Phong dò hỏi. Em nói: Họ buồn vì hôm nay không có chi... Lũ con nít không cảm nhận được nỗi buồn trong mắt mẹ, mắt chị, lăn lộn chán với đất cát, bụi bờ kéo nhau xuống suối ngụp lặn, hồn nhiên đùa nghịch làm vang cả góc bản. Già làng Hồ Điều mắt mờ, chân thấp khớp nặng phải ngồi ở nhà ngắm mây ngắm núi. Để kiếm sống, bà vợ của ông năm nay hơn 70 tuổi vẫn ngày ngày ra suối. Ông ngồi bên bậu cửa đợi người vợ già của mình.

- Ây dà, đàn bà con gái bản mình đều đi đãi vàng cả mà. Không đi lấy chi ăn?! Mỗi ngày, mót được khoảng một ly cám, bán cho người miền xuôi lên thu mua chưa đến 3 chục ngàn đồng. Một phần mua gạo muối, phần còn lại để dành cho ngày mưa lũ...

Ông vừa nói vừa với tay lên dàn bếp lấy xuống cho tôi xem bữa tối thanh đạm của ông bà: Típ xôi nhỏ, bát muối ớt, vài ba trái đậu rồng và cà rừng luộc...

- Mình ăn như ri thôi nhưng phải chờ bà ấy về vì đây là của bà ấy. Mình không có chi nữa cả rồi...

Dưới sàn nhà lao xao vài tiếng nói. Một người đàn bà da nâu, miệng ngậm tẩu thuốc to đang than vãn điều gì đó. Hồ Điều lắng nghe và lắc đầu nhìn tôi. Có lẽ hôm nay bà không mót được chút bụi vàng nào. Bóng tối đang trùm xuống Làng Ho. Tôi cũng bị nỗi buồn của ông bà Hồ Điều xâm chiếm, lặng lẽ nhìn vu vơ lên mỏm núi phía trước và nghe ông kể về thời trai oanh liệt của mình. Đó là những tháng ngày ông theo cách mạng, lao đi dưới mưa bom bão đạn của Đế quốc Mỹ, dẫn đường cho bộ đội vượt Trường Sơn, có cả những tháng ngày ông tung hoành trên những mái rừng tìm nấm lim xanh. Bây giờ nghe đồn nấm lim xanh là thần dược, có thể chữa bách bệnh, kể cả bệnh ung thư nên người người tìm nấm, nhà nhà tìm nấm. Làng Ho trở thành “thủ phủ” nấm lim xanh ở Quảng Bình. Trên đường từ ngã ba Tăng Ký vào đây, tôi đã thấy đồng bào rải phơi rất nhiều nấm tươi, cũng đã gặp rất nhiều người lặn lội lên Làng Ho tìm mua nấm chính gốc để chữa bệnh. Giá nấm cũng vì thế tăng vọt, từ 3, 4 trăm ngàn đến 6, 7 trăm, rồi 1 triệu, triệu rưỡi, thậm chí nấm được đưa về thành phố có khi lên đến 2, 2 triệu rưỡi một kilogam. Để kiếm tiền, trai bản đổ xô lên rừng, để lại bản làng hoang lạnh, nương rẫy hoang lạnh. Nấm lim xanh cũng hiếm dần. Hồ Điều không còn đủ sức để xông pha cũng lũ trai nhưng ông là người thông thuộc núi rừng hơn ai cả. Ông biết tường tận vùng nào có nhiều cây lim có thể cho nấm, biết cách làm sao để bảo quản nấm được lâu. Ông nói rằng: Muốn tìm được nấm lim xanh phải đi sâu vào rừng, chỗ nào có cây lim đã chết ở khu vực đó tất sẽ có nấm. Tìm được nấm rồi phải mang về phơi trường kỳ trên dàn bếp, vừa để sấy khô vừa diệt được mối mọt. Nhưng “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, đó lại chính là vùng rừng thiêng nước độc, người đi tìm nấm có thể bị sốt rét ác tính mà bỏ mạng khi chưa kịp chạm tay vào một tai nấm nào. Rồi ông lục tìm trong chiếc bao tải cũ ở góc nhà những tai nấm đẹp, kỷ vật một thời lăn lộn với rừng của mình tặng tôi.

- Cứ lấy đi, mang về xuôi. Để lại làm chi, mình thấy mình nhớ, mình buồn...

Những chiếc nấm màu nâu bóng đẹp như vẽ. Theo già Hồ Điều thì đó là những chiếc nấm tốt nhất ông lấy được ở một gốc lim mục bên phía rừng Lào từ những năm 80 thế kỷ trước. Bây giờ nó chỉ là ký ức của ông.

*

Càng khuya, tiếng hát của lũ trai bản ngất ngưởng vang lên khi cao khi thấp. Màn đêm đặc quánh miền sơn cước như loãng ra. Già làng Hồ Điều vẫn ngậm tẩu thuốc ngồi bên bậu cửa, đốm lửa đầu chiếc tẩu phập phù tắt đỏ, mùi khói thuốc rê phả vào không gian nặng gắt. Ban chiều ông nói với tôi “Ta vẫn thường ngồi đây mỗi đêm để nhớ rừng”. Phong kiên quyết không đi chơi cùng một chàng trai mặc dù đã bị dụ dỗ níu kéo nhiều lần. Tôi hỏi “Vì sao?” “Em sợ!” “Điều gì?” “Em muốn đi một con đường khác, không như mấy chị em trong bản”. Tôi không nói gì thêm. Chàng trai cũng nản lòng sà vào hát hò cùng chúng bạn. Dưới ánh sáng vàng vọt của chiếc đèn măng sông treo đu lơ đủng lẳng giữa nhà, Bí thư chi bộ bản Làng Ho Hồ Bạch cảnh báo: “Bọn hắn sẽ hát suốt đêm nhưng ngày mai con trai vẫn phải mang gùi vô rừng, con gái vẫn phải kéo nhau ra suối”. Tôi biết đó là điều không thể khác, cuộc mưu sinh vẫn luôn luôn khốc liệt ở bất cứ nơi nào./.

Bút ký của Trương Thu Hiền

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác