Xứ Đoài- Vùng đất phát tích thi ca


(Toquoc)- Giữa những ngày đầu Xuân năm con Rắn, tôi được tặng cuốn “Xứ Đoài thơ(1) do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2012 với sự chủ trì tuyển chọn, biên soạn và tài trợ của Quỹ Hỗ trợ Văn chương và Cuộc sống. Cầm trong tay cuốn sách mà lòng tôi thấy bồi hồi và thầm nghĩ: Chà, xứ Đoài thế mà ghê gớm thật! Từ cổ chí kim thời nào cũng có những hiền tài văn chương thơ phú.

 Xứ Đoài- Vùng đất phát tích thi ca - ảnh 1

Xứ Đoài thơ” là cuốn sách khá dày, gần 650 trang, bìa cứng, ấn loát trang trọng, tranh ảnh đẹp. Ngoài lời dẫn của Ban tuyển chọn, sách được chia làm hai phần: 1/ Thơ cổ và 2/ Thơ đương đại. Phần Thơ cổ gồm 40 tác giả, khởi đầu là nhà thơ Đàm Khí (Ngộ Ấn), kết thúc là nhà thơ Tản Đà. Người ít nhất có một bài, người nhiều nhất là Nguyễn Trãi có tới 9 bài được tuyển chọn. Đứng sau là hai cụ Nguyễn Văn Siêu và Tản Đà, mỗi người có 7 bài. Tống số của phần này là 114 bài thơ.

Mở đầu cho phần Thơ đương đại là nhà thơ Phi Tuyết Ba và kết thúc là Hàm Yên. Ở phần này, người được tuyển chọn nhiều nhất là các nhà thơ Bằng Việt, Trần Lê Văn, Vũ Quần Phương, Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Bành Thanh Bần... nhưng mỗi người cũng chỉ có 5 bài, những người còn lại từ 2-4 bài. Về đội ngũ, ở phần này đông hơn gấp đôi phần trước, 96 tác giả với 274 bài thơ được tuyển chọn.

Điều đáng nói là nhiều nhà thơ cổ nổi tiếng của Việt Nam đã có mặt trong tập này như: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bá Lân, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Chú, Phan Huy Ích, Nguyễn Văn Siêu, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Tản Đà...

Với các nhà thơ đương đại có Huy Cận, Quang Dũng, Tô Hà, Vân Long, Trần Lê Văn, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Bế Kiến Quốc, Bùi Minh Quốc, Xuân Quỳnh, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Đặng Huy Giang, Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Trần Hòa Bình, Nguyễn Việt Chiến, Đỗ Trung Lai, Phạm Khải...

Một tập sách gồm những gương mặt thơ như vậy, chưa vội bàn đến nội dung chất lượng thơ, cũng đủ thấy mảnh đất xứ Đoài chính là cái nôi phát tích của thơ ca, không chỉ của một thời, mà là của muôn thuở.

 

Một vài nhà thơ tiêu biểu trong “Xứ Đoài Thơ

Nhà văn hóa, anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi (1380-1442) người xã Ngọc Ôi (Nhị Khê), Thường Tín, Hà Tây (cũ). Cha là Nguyễn Phi Khanh, mẹ là Trần Thị Thái, con gái Tể tướng Trần Nguyên Đán. Năm 1400, khi Hồ Quý Ly lên ngôi, Nguyễn Trãi tiên sinh mới tròn 20 tuổi, nhưng đã thi đỗ Tiến sĩ và làm quan cho nhà Hồ, giữ chức Ngự sử Đài chánh chưởng. Năm 1416 ông gia nhập nghĩa quân Lam Sơn do vị anh hùng áo vải Lê Lợi ở xứ Thanh lãnh đạo. Thời Lê Thái Tổ, ông được ban chức Quan phục hầu, giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Thượng thư Bộ Lại quản công việc ở Khu mật viện. Dưới triều Lê Thái Tông ông giữ chức Thừa chỉ Viện Hàn lâm kiêm Quốc Tử Giám, chủ khảo khoa thi Tiến sĩ ở Kinh đô Thăng Long.

Ông có những tác phẩm chính: “Ức Trai thi tập”, “Quốc Âm thi tập”, “Quân Trung từ mệnh tập”,...

Nguyễn Trãi được mệnh danh là người “chép thơ, thảo hịch nổi tiếng một thời”, nên có số bài thơ được đưa vào tập sách này nhiều nhất cũng là điều không lấy gì làm khó hiểu, trong đó có những bài thơ nổi tiếng sống mãi với thời gian như: “Cửa biển Thần Phù”, “Bài ca Côn Sơn”... biểu hiện cốt cách của một ông quan thanh liêm vào hàng bậc nhất các quan lại lúc bấy giờ. Đây là hai bài thơ đã được nhiều người biết đến và cả hai bài đều viết sau khi ông trở lại quê nhà vui thú điền viên, bởi án Lệ Chi viên trớ trêu và oan nghiệt đang treo lơ lửng trên đầu, chực giáng xuống dòng tộc Nguyễn của ông. Dù sau này có bị kết án chu di tam tộc, nhưng một người đã thấu hiểu tường tận lẽ đời, lòng người như Nguyễn Trãi thì ở đâu, làm gì cũng vậy thôi, mặc cho đôi lúc có cảm thấy nhớ “cửa Khổng, sân Trình” một thời:

Trời đất có tình phô vụng lớn,

Công danh gặp hội nhớ năm nào

(Cửa biển Thần Phù)

Man mác buồn nhớ chốn quan trường thuở nào, nhưng không hề thấy Nguyễn Trãi tiên sinh buồn chán hay lo sợ về những điều sắp xảy ra mà ông đã biết trước. Quả là người có chí khí như Nguyễn Trãi khó bị lay chuyển khi gặp phải gió to, sóng cả. Bởi lẽ Cửa biển Thần Phù được mệnh danh là nơi nổi tiếng có nhiều sóng to, gió lớn, đến mức dân gian còn truyền tụng nhau câu ca dao: Lênh đênh qua cửa Thần Phù/ Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm. Bài thơ này viết trong tâm trạng cuộc đời ông cũng đang là một cửa “Thần Phù” giữa dòng đời tráo trở, đổi trắng thay đen lúc bấy giờ.

Còn ở “Bài ca Côn Sơn”, ta thấy Nguyễn Trãi tiên sinh ở trong một tâm thế hoàn toàn khác. Người không những không lo sóng to, gió lớn từ sự trớ trêu của cuộc đời đang bủa vây tam tộc nhà mình, ngược lại ông khá tự tại, vui thú điền viên chốn quê nhà:

Núi Côn Sơn suối trong nước chảy

Ta nghe như đàn gảy bên tai

Đá Côn Sơn mưa sạch trần ai

Ta sẵn có chiếu ngồi vui thú  

Trong muôn trượng dãy tùng reo múa

Ta thường thường thức ngủ nằm khênh

Ngoài nhìn mẫu trúc xanh man mác

Ta thường thường ngâm hát gần kề...

...Hỏi ai sao chẳng đi về

Nửa đời danh lợi mệt mê trong vòng

Lọ là cửu đỉnh vạn chùng

Cơm rau nước lã cũng xong tháng ngày...

Ở vào hoàn cảnh lúc bấy giờ, một người có học vấn Nho học uyên thâm, lại đã từng làm quan qua hai triều đại Hồ- Lê như Nguyễn Trãi tìm cho được chữ “nhàn” ở chốn quê mùa không hề đơn giản chút nào. Chỉ có những người đạt đến độ “siêu thoát”, chẳng hề bận tâm đến sống, chết, nhục, vinh, coi nó là lẽ thường ở đời, ai và lúc nào gặp thì biết lúc ấy, mới mong có được cái tâm “vô vi” đến như ông. Cuộc đời làm quan đã cho ông đầy rẫy những nếm trải, dù có lúc đã được “cửu đỉnh vạn chùng”, tức là bỗng lộc, mưa móc vua ban đạt đến ngưỡng nhất nhì trong thiên hạ, còn giờ đây “Cơm rau nước lã cũng xong tháng ngày”, có sao đâu. Ông quả là một nhân cách văn hóa lớn của dân tộc ta, đáng để con cháu noi theo.

Nhà thơ Bằng Việt sinh năm Tân Tỵ (1941), quê ở xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Tây (cũ). Sau khi tốt nghiệp khoa Pháp lý, Đại học Tổng hợp Kiev (Liên Xô)) vào năm 1965, Bằng Việt về Việt Nam, công tác tại Viện Luật học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Đến năm 1969, ông chuyển sang công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1970, ông vào Bình Trị Thiên, với tư cách là một phóng viên chiến trường...

Sau khi về Hội Văn học- Nghệ thuật Hà Nội, năm 1983, ông được bầu làm Tổng thư ký Hội Văn học- Nghệ thuật Hà Nội (1983-1989) và là một trong những người sáng lập tờ báo Người Hà Nội (xuất bản từ 1985). Năm 2001, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học- Nghệ thuật Hà Nội và được bầu lại làm Chủ tịch Hội các nhiệm kỳ tiếp theo 2006- 2010; 2010- 2015...

Tác phẩm chính của Bằng Việt gồm có: “Hương cây- Bếp lửa” (in chung với Lưu Quang Vũ), “Những gương mặt- Những khoảng trời”, “Đất sau mưa”, “Ném câu thơ vào gió”...

Nói đến nhà thơ Bằng Việt là nhiều người nghĩ ngay rằng đấy là một hồn thơ tài hoa, tinh tế và đôn hậu theo cách của riêng ông. Nhiều bài thơ của ông đã đi vào lòng công chúng từ những năm 60 của thế kỷ trước, đặc biệt là những bài trong tập thơ đầu tay in chung với Lưu Quang Vũ, tập “Hương cây- Bếp lửa”.

Trong “Xứ Đoài thơ” ông chọn in 5 bài với các chủ đề và các thời kỳ khác nhau, càng thấy sự phong phú, đa dạng nhưng rất thống nhất trong phong cách thơ của ông. Tuy nhiên, tôi vẫn thích bài “Cuối năm”, được viết trong những năm tháng cả dân tộc đang gồng mình lên chống lại chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc mà đỉnh điểm là Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không ở Hà Nội. Khi ấy Bằng Việt đang ở chiến trường Bình- Trị- Thiên vô cùng khốc liệt, đặc biệt là trước, trong và sau chến dịch Đường 9- Nam Lào.

Cách đây đã 40 năm có lẻ, trong đoàn quân đánh Mỹ ngày ấy có chàng trai trẻ Bằng Việt. Xa quê đi đánh giặc, khoảnh khắc làm những người lính trẻ nhớ nhà nhất chính là dịp Tết đến, Xuân về, nhà nào cũng gói bánh chưng:

Cuối đông, lá rực rừng già

Trời như một thoáng nhớ nhà, thẳm xanh...

...

Quê nhà gói bánh khi nao,

Rừng dong lá mới xanh vào tận đây?

Trong thời khắc ấy, ngay giữa ngút ngàn Trường Sơn hết bom rơi, đạn nổ đến muỗi vắt, sốt rừng hành hạ người lính, vậy mà chàng lính trẻ Bằng Việt nhìn rừng lá dong vẫn một niềm đau đáu nhớ quê:

Bỗng trong bóng nắng im lìm

Lá dong mát dậy suốt triền non cao...

Ngẩn ngơ giữa cảnh rừng dày,

Ngỡ dang tay đã ôm đầy quê hương!

Có lẽ chỉ có những người lính trẻ ở vào thời khắc ấy mới có thể cảm nhận được điều đó, để đến hôm nay, khi đất nước có hòa bình gần 40 năm, khiến không ít người trong chúng ta còn phải ngỡ ngàng.

Công bằng mà nói, chính sự hồn nhiên, trong sáng của tâm hồn những người lính trẻ thời ấy đã làm nên một sức mạnh to lớn, không một thứ đạn bom nào của kẻ thù có thể khuất phục được. Điều ấy đã góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước.

*

Đây là tập sách quý, tập hợp được hầu hết các nhà thơ xứ Đoài và tác phẩm của họ. Làm được điều đó, trước hết cần ghi nhận sự cố gắng nỗ lực cả về vật lực và tài lực của Quỹ hỗ trợ Văn chương và Cuộc sống cũng như sự dày công của những thành viên trong Ban tuyển chọn. Trong thời buổi thị trường sách nói chung và thơ nói riêng được in ra như nấm sau mưa, có được một tập “tuyển” các bài thơ của hàng trăm tác giả từ cổ chí kim như thế này là rất quý. Nó giúp cho những ai yêu mảnh đất xứ Đoài và thơ ca về mảnh đất này, có trong tay một tập hợp tương đối đầy đủ các gương mặt thơ của một vùng đất tạm gọi là “sân sau” của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, thật đáng quý lắm ru!

Có lẽ, do việc mở rộng phạm vi đối tượng “Xứ Đoài” nên trong tập sách này có cả những người sinh ra và lớn lên từ xứ Đoài, người hiện đang sống và làm việc tại xứ Đoài, người có gốc quê từ nhiều đời nay ở xứ Đoài, những người đã từng có thời gian làm việc, công tác tại xứ Đoài và cả những người ở nơi khác viết về xứ Đoài... (!?). Tuy nhiên, theo tôi biết, Quỹ hỗ trợ Văn chương và Cuộc sống đang chuẩn bị cho ra mắt bạn đọc “Xứ Đoài Văn”. Tại đây, phạm vi đối tượng có thể được thu hẹp lại giúp bạn đọc dễ dàng hơn trong việc cảm nhận nét tinh túy của những con người ở vùng đất có truyền thống văn chương từ lâu đời nay.

Đỗ Ngọc Yên

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác