"Xác thu", sắc diện còn thiếu của Trường thơ loạn (*)

 

(Toquoc)- Lý thuyết loại hình đã không còn xa lạ với giới nghiên cứu Việt Nam. Cốt lõi của loại hình học là truy tìm những tương đồng có tính quy luật nhằm xác lập một “cộng đồng thẩm mỹ” từ việc khảo sát các hiện tượng văn học.

Loại hình thơ có thể được tiến hành nghiên cứu từ nhiều góc độ. Tuy nhiên, một thao tác đã được nhiều bậc tiền bối tiến hành là: xếp chồng những tác phẩm thơ để tìm ra những trùng hợp nhất định làm nên tính tương đồng. Từ đó nắm bắt được những quy luật, xác định được những nguyên tắc chi phối tới việc hình thành và phát triển của các tác phẩm (Chiều dọc). Khảo sát trong không gian, thời gian với tất cả các tác phẩm thơ đang vận động trong đời sống văn học nhằm xác định tính phổ quát chính là thao tác theo chiều ngang.[1]

Loại hình thơ là một sự quy ước và định danh dựa trên việc giải quyết mối quan hệ chung - riêng, tương đồng và khác biệt, phổ biến và đặc thù để tìm ra một hệ quy chiếu nhằm xác lập các hiện tượng thơ vào cùng một hệ thống, một hình thái. Hệ thống này có một trục phổ quát, hình thành trên cơ sở mối tương đồng có tính quy luật của các hiện tượng thơ. Hệ quy chiếu mà chúng tôi sử dụng để nhận diện loại hình thơ xoay quanh trục: Kiểu tư duy thơ với các Module: Quan niệm về chất thơ, kiểu cái tôi trữ tình, những đặc thù về thi giới (không gian, thời gian và các đối ảnh), đặc trưng về vật liệu kiến tạo hình thức nghệ thuật.

Không phải ngẫu nhiên mà các yếu nhân của Trường thơ loạn đã đi cùng nhau trong miền Thơ kinh hãi. Nếu trực nhận các trạng thái sẽ được viện dẫn sau đây là đặc thù của mỹ cảm thơ ca, là cung bậc “tột cùng” trong tư tưởng, nội giới thi nhân thì Hàn Mặc Tử là Thơ điên, Chế Lan Viên là Thơ loạn, Bích Khê là Thơ cuồng còn Hoàng Diệp hẳn phải là Thơ tàn - Thơ của sự tàn hủy, của giờ khắc tiêu vong[2].

Điều lý thú khi tiếp cận Thơ điên (Hàn Mặc Tử), Điêu tàn (Chế Lan Viên), Tinh huyết, Tinh hoa (Bích Khê) và Xác thu (Hoàng Diệp) chính là nhận ra những thi cách khác nhau, những cá tính “tột cùng” nhưng không trùng nhập, cùng kiến tạo một không gian thơ - Trường thơ loạn.

Hậu thế không còn được chiêm ngưỡng Giếng loạn của Yến Lan. Xác thu hiện nay chỉ còn một bản duy nhất dưới dạng Micro Fiml tại Thư viện Quốc gia[3]. Nghiên cứu Trường thơ loạn, cho đến thời điểm hiện tại chưa thấy công trình nào khảo sát Xác thu. Đó là một thiếu sót. Thứ nhất, thiếu Xác thu, sắc diện Trường thơ loạn sẽ chưa được hình dung đầy đủ. Thứ hai, sự du nhập của nhiều lý thuyết phương Tây hiện đại, đang mở ra nhiều chân trời diễn giải cho sự đọc. Thứ ba, Xác thu xuất bản năm 1937 - trước Đau thương, có nhiều điểm tương đồng với Đau thương của Hàn Mặc Tử nhưng Hoàng Diệp chỉ được xem như đồ đệ của kẻ thống trị Trường thơ loạn… Chính vì thế, sự lãng quên Xác thu rất dễ trở thành sai lầm đáng tiếc.

 

Loại hình Thơ tàn - một sắc diện của Trường thơ loạn

Xác thu - cõi đời tàn lụi

Trong Xác thu không thấy một bình minh nào. Tất cả là một buổi chiều ảm đạm, tang tóc. Thời gian là một buổi chiều tàn và không gian là cõi thê lương. Đây là một không thời gian của tư tưởng biểu đạt sự nhận thức và quan niệm của thi sĩ về cuộc đời. Trong thơ Hoàng Diệp, người ta bắt gặp hoàng hôn nhiều hơn ban mai, chiều tà, đêm tối, quạnh hiu, cô độc nhiều hơn những bình minh và sự sum vầy. Đó là một không thời gian sắp sửa chuyển sang cõi chết:

Bên đống lửa hoang tàn màu đã chết

Ta lạnh lùng nghe lại tiếng tiêu vong

(Dấu quê hương)

Lửa vốn dĩ là một biểu tượng của sự ấm áp, của ánh sáng, thế nhưng, trong buổi hoang tàn của tâm can, lửa cũng mang màu sự chết. Đọc câu thơ không tìm thấy một nguồn ấm sáng nào, cái lạnh cứ tỏa ra từ ánh lửa địa ngục, từ sự lãnh lẽo của tâm hồn, bủa vây muôn vật. Trong thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên cũng ngập tràn những ám ảnh của địa ngục, của cái chết, nhưng dường như hai thi sĩ này khác với Hoàng Diệp. Hàn Mặc Tử càng bị kéo riết xuống địa ngục thì khát vọng vượt thoát càng mãnh liệt. Bởi thế, địa ngục và thiên đàng luôn là hai thế giới song trùng trong mỹ cảm Hàn Mặc Tử. Chế Lan Viên hoang loạn trong Điêu tàn nhưng vẫn mơ những ngày xưa hùng vĩ. Những xương tàn mộ héo vẫn thầm mơ những giấc mơ siêu hình. Thế giới Điêu tàn vẫn hiện hình những tường thành vững chãi, những giấc mơ chiến tượng. Còn Xác thu, cứ trượt mãi về tiêu vong. Đó là “Một thế giới u sầu không bến đỗ”, một đêm “bóng tối dài vô tận”:

Mau giở lại, bay về trong khoảng vắng

Trong mùa thu tắt cả tiếng lòng ta

Trong thế giới u sầu luôn vắng lặng

Trong muôn đêm khổ não… một thời xa

(Xứ sở của hồn ta)

Tàn thi tràn ngập hoa rơi, xác lá, trăng tan, sao rụng, đường quạnh hiu, chùa đổ nát, trời ly biệt, lửa chết, đêm lạnh, trúc khô, liễu gầy và hương sắc tiêu tan… Xác thu, mộ lá, mộ hoa chưa hẳn là nơi yên nghỉ của giấc mơ tàn lụi. Đó là nơi những úa tàn rên rỉ, những thương đau còn thoi thóp:

Những thi thể rớt rơi trên mộ lá

Những linh hồn rét mướt đẫm mình sương

(Dấu quê hương)

Vóc liễu gầy bên khóm trúc khô

Hồn hoa ngỏ với xác hoa mồ

(Nhạc trăng)

Một thi giới tàn lụi là sản phẩm của một cõi lòng tàn hủy, của một trái tim tàn lạnh, một nguồn huyết mạch tàn khô, một đôi mắt tàn mờ, những tư tưởng và khát vọng tàn vong. Không gì khác là hiện hình của ngày tận thế. Bước vào Xác thu người ta không còn thấy ngày về, bởi ngày hôm qua và những ảnh hình của quá khứ đã tan đi cùng với những giọt máu cuối cùng trong cơn hấp hối.

 

Xác thu - Kiếp sống tàn hủy

Cõi đời đã tàn và cõi người cũng tàn. Hình ảnh con người trong thi giới Hoàng Diệp còn thê lương, thảm hại hơn rất nhiều bởi ở đó, ý thức về sự sống, cái chết, về sự tàn hủy luôn luôn thường trực một cách ghê gớm. Trong thế giới đó, thi nhân là một lữ khách tàn hơi:

Cái tôi trữ tình trong thơ Hoàng Diệp vừa đại diện cho nhân cách và cá tính của tác giả lại đồng thời xưng danh nghệ sĩ, thi nhân ngay trong tác phẩm. Như thế, thi nhân còn là một đại từ chỉ cộng đồng, chỉ những thân phận trót đa mang thi nghiệp. Thi nhân là một xác người trong Xác thu, đã tàn cạn mọi nguồn sinh khí:

Phải chăng đây giọng buồn thê thảm ấy

Khóc làm chi xác mục đã lâu ngày

 

Muôn thớ thịt rã dần trong lạch suối

Chảy về đâu, người hỡi chảy về đâu ?

Những tiếc nấc sa vào hang thẳm tối

Tiếng gỗ thùng cồm cộp chạm hồn ta

 

Tiếng muôn người xô nhau về cõi chết

Tiếng quan tài đổ ụp xuống hư vô

Tiếng ngàn sâu lung lay hồn rũ liệt

Tiếng hình hài sắp vữa nát ra tro

(Xứ sở của hồn ta)

Rất hiếm hoi trong Thơ mới cái chết được gọi tên một cách cụ thể như thế. Xác mục lâu ngày, thịt rã xương tan, hình hài vữa nát, cõi chết, hang tăm tối, hồn rũ liệt, quan tài kêu chạm linh hồn,… Thơ Hàn Mặc Tử cũng có cái chết, nhưng không thê thảm và tàn lụi nhường ấy:

Một mai ở bên khe nước ngọc

Với sao sương anh nằm chết như trăng

Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc

Đến hôn anh và rửa vết thương tâm

(Duyên kỳ ngộ - Hàn Mặc Tử)

Cũng xác thân tàn rữa, cũng linh hồn phiêu tán, cũng kiệt khô máu đời, nhưng cái chết ấy dường như là một điều kiện, một thủ tục cuối cùng cho siêu thoát:

Rồi hồn ngắm tử thi hồn tan rã

Bốc thành âm khí loãng nguyệt cầu xa

Ngày tận thế là ngày thôi tán loạn

Xác của hồn, hồn của xác y nguyên

(Hồn lìa khỏi xác - Hàn Mặc Tử)

Điểm quan trọng hơn, Hàn Mặc Tử khác Hoàng Diệp ở tư duy và mỹ cảm thơ ca. Hàn Mặc Tử tư duy về ‘‘nẻo lên’’ dù luôn bị ghì riết bởi ‘‘nẻo xuống’’. Còn Hoàng Diệp cứ thảm thương lê bước về địa ngục, chán chường không hy vọng. Từ góc độ tư duy thơ, Hàn Mặc Tử tư duy bằng biểu tượng còn Hoàng Diệp mới tư duy bằng hình ảnh. Sự thiếu vắng chất tượng trưng của thi ảnh khiến cho cái chết trong Xác thu là một trần trụi tang thương. Dường như, đó là một cái chết nhọc nhằn:

Cho ta một chiếc quan tài

Kết bằng xương lá những ngày quạnh hiu

Bay lên tựa áng mây chiều

Hồn ta rũ xuống tiêu điều dưới săng

(Mùa thu hỡi - Hoàng Diệp)

Trong thơ Hàn Mặc Tử, sự linh thiêng cao vọng, vẻ sang trọng mỹ vì luôn là hoạt lực ẩn chứa niềm cứu rỗi. Thơ Hoàng Diệp thiếu vắng đức tin, đầy rẫy sự chán chường:

Hạt mưa kêu chán chường

Hạt buồn kêu thảm hại

Trong tôi làn máu vải

Chất nặng xác đau thương

(Nuối tình)

Thi nhân là một lữ khách tàn hơi đang đợi chờ cái chết và tưởng tưởng về cái chết. Đây là điểm khác biệt quan trọng nữa trong tư duy thơ Hoàng Diệp với Hàn Mặc Tử. Thơ Hoàng Diệp tàn hủy mà không điên loạn. Đó là điểm mấu chốt. Xác thu hiện diện một hệ thống tưởng tượng khá tỉnh táo về cái chết. Hay nói rõ hơn, cái chết được tưởng tượng bằng lý trí không hề bị điên loạn. Bởi vậy, hệ quả của nó là hình ảnh, mà đặc biệt là hình ảnh về cái chết, sự phân lập xác hồn không xa lạ với mỹ cảm thông thường (Xin được lưu ý, trong các tập thơ của Trường thơ loạn, Xác thu khá gần gũi với Đau thương. Vì thế, chúng tôi muốn có một cái nhìn tương sánh):

Ta để mặc cho làn tư tưởng cuốn

Vào thế giới xây đắp bằng tưởng tượng

Ta muốn gửi thân ta về địa ngục

Cho linh hồn phiêu diễu chốn mung lung

(Dòng tư tưởng)

Khi tưởng tượng được duy trì, kiểm soát bởi lý trí (suy tưởng) nó sẽ khó lòng đi ra khỏi cương vực của mỹ cảm nhân gian. Vì thế, trong thơ Hoàng Diệp người đọc thấy ít những hình ảnh kỳ lạ mà điều đó lại rất nhiều trong thi giới Hàn Mặc Tử. Kênh hình ảnh tân kỳ, dị biệt chỉ có thể có được khi thi sĩ vượt qua những giới hạn thông thường, để chạm tới, đánh thức những vùng linh thị, những nẻo mờ khuất tối, những kết hợp ngẫu nhiên, bất ngờ như bừng dậy từ vô thức. Sự vượt qua ấy chính nhờ nỗi đau, là cơn siêu thoát điên loạn của lòng, phần lớn nằm ngoài sự tự chủ của thi sĩ:

Thét chòm sao hoảng rơi vào đáy giếng

Mà muôn năm rướm máu trong không gian

(Rướm máu - Hàn Mặc Tử)

Thi nhân - lữ khách trong thi giới Hoàng Diệp chỉ có một tâm trạng đó là sự chán chường, tuyệt vọng trước cái chết. Không tìm được nguyên nhân của nỗi chán chường đó. Chỉ có thể giả thuyết rằng Xác thu là sự hiện diện của tâm thức cộng đồng, như một mỹ cảm phổ quát thời lãng mạn. Kẻ lữ hành trong tưởng tượng của Hoàng Diệp: Chết lịm trong ánh hoàng hôn, là người mất trí khôn, là xác đau thương, hình hài tan rã, lòng mê hoảng, tan hình cay đắng, linh hồn tê điếng,…

Riêng với kẻ lữ hành không quán trọ

Mỗi giây qua là một giọt máu rời

Mỗi ngày qua là một chút tàn hơi

Lưng còng xuống trông nụ cười chết hẳn

Đôi mắt mờ theo dõi bóng ngày rơi

(Dòng tư tưởng)

Mang đôi mắt mờ đục của sự hấp hối theo dõi bóng ngày rơi, nên tất cả hiện lên đầy tang tóc. Hoàng Diệp dường như cũng không mong chờ được cứu rỗi như Hàn Mặc Tử, cũng chẳng loạn tưởng một vàng son đã mất như Chế Lan Viên, cuồng mê vẻ đẹp của hoa và ánh sáng, vẻ đẹp và dâm như Bích Khê. Hoàng Diệp dành chút tàn hơi để hình dung - tưởng tượng xem cảnh chết thế nào:

Ôi mai mỉa! tro tàn vùi xác rã

Nơi đây là nghĩa địa cánh hoang đồng

Hương đâu nữa? Sắc cũng không còn nữa

Xác trơ vơ chất nặng vết thương lòng

(Xác chết của người đẹp)

Thi nhân là một nghệ sĩ. Người nghệ sĩ trong tàn thi cũng đã cạn kiệt mọi nguồn sinh dưỡng. Thi sĩ đem đánh đổi tất cả thanh xuân và tài sắc của mình để tìm kiếm những phút giây ‘‘mơ điên’’ trong thi cảm:

Đây là bóng nghìn xưa hồn nghệ sĩ

Đem sắc tài đổi lấy phút mơ điên

Trên máu cuồng ghi chép áng thơ tiên

(Xác chết của người đẹp)

Nhưng dường như, thi nhân đã thất bại. Điều tưởng như mặc nhiên gắn với thi sĩ chính là ái tình cũng hờ hững, đau thương. Tình yêu, thứ dưỡng chất thiên thần cho thi cảm cũng lụi tắt, giai nhân ra đi khi mùa thu ngả bóng:

Rồi một hôm khi thu vừa ngả bóng

Hồn nàng xa phiêu dạt cõi xa xanh

Còn ai nghe gió lá rủ mưa ngành

(Xác chết của người đẹp)

Ta biết đau thương đã muộn rồi

Hồn ta đã cạn chén tanh hôi

Tình đau khổ quá, cay chua lắm

Thuốc độc tâm hồn có thế thôi

(Thuốc độc tâm hồn)

Những ảnh tượng của một đời tàn lụi cứ hiện về trong giờ khắc cuối cùng của sự hủy diệt. Không tìm thấy một tín hiệu nào níu kéo linh hồn thi nhân ở lại. Chút tàn hơi cuối cùng rồi lữ khách cũng thốt lên:

Nàng hỡi nàng, cứu lấy mảnh hồn ta

(Khát…)

 

Giai nhân rời xa - những mối tình tàn phai

Trong tính biện chứng của tâm hồn, hẳn không ai phủ nhận trong mình có người khác, có nhân gian và trong người khác, trong nhân gian cũng có mình. Hẹp hơn, trong thi giới, tha nhân (nhân gian và người tình trong thi giới) và ngoại vật là những “đối ảnh” của cái tôi trữ tình. Chỉ khi nào nhìn ra sự tương quan mật thiết này mới có thể nhận dạng được chính xác “bản sắc nhân vị” của cái tôi - một cá tính đại diện trong thơ. Thơ tàn của Hoàng Diệp hiện hình một người tình, một giai nhân, là đối ảnh của cái tôi trữ tình. Giai nhân, trước hết được cảm nhận với vẻ đẹp cổ điển:

Đây nếp tóc mịn màng như sóng liễu

Nước da trong vẫn giữ nét khuynh thành

Đây là áo dịu dàng như dáng điệu

Thẩn thơ bay thơm ngát cả hồ xanh

(Xác chết của người đẹp)

Giới hạn của thơ Hoàng Diệp đến đây có thể đã hình dung được. Hoài Thanh quả đã không nhầm khi gọi Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên là những kẻ thống trị Trường thơ loạn và thâu nạp mấy đệ tử là Hoàng Diệp, Yến Lan. Vẻ đẹp cổ điển của giai nhân gợi lại một nét xưa đã đi qua trong tâm thức thời đại. Có lẽ Hoàng Diệp trong sự chán chường đã mơ về những giá trị đã từng quán ngự nhân gian. Lưu ý một chút đến lời đề tặng của bài Xác chết của người đẹp: “Kính tặng hương hồn cô Mỹ Thiện” ta mới vỡ lẽ đây là cô láng giềng của Hàn Mặc Tử - nàng Cung Thị Mỹ Thiện, vì oan khuất mà quyên sinh. Cả hai thi nhân đều có thơ về người con gái này nhân cái chết của nàng. Hàn Mặc Tử có bài Cô gái đồng trinh. Hãy xem giai nhân yểu mệnh trong thi cảm Hàn Mặc Tử:

Đêm qua trăng vướng trong cành trúc

Cô láng giềng bên chết thiệt rồi

Trinh tiết vẫn còn nguyên vẹn mới

Chưa hề âu yếm ở làn môi

 

Xác cô thơm quá, thơm hơn ngọc

Cả một mùa xuân đã hiện hình

Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi

Chết rồi - xiêm áo trắng như tinh

(Cô gái đồng trinh - Hàn Mặc Tử)

Hàn Mặc Tử đã đi xa hơn Hoàng Diệp và chứng tỏ vị thế con rồng trong nhóm Tứ linh, là kẻ thống trị Trường thơ loạn chính trong những giới hạn này. Giai nhân của Hoàng Diệp thiếu đi vẻ xuân tình rất cần thiết của thời đại mới. Nguyên do bởi chính Hoàng Diệp chưa thâm nhập vào thế giới tinh thần của giai nhân, chưa nhận ra những khát vọng đã không ngủ yên trong cương vực của lễ giáo, của thuần phong cổ điển. Còn Hàn Mặc Tử thì đã:

- Có tôi đây! Hồn phách tôi đây

Tôi nhập vào trong xác thịt này

Cốt để dò xem tình ý lạ

Trong lòng bí mật ả thơ ngây

(Cô gái đồng trinh - Hàn Mặc Tử)

Hoàng Diệp thừa nhận sự thất bại trong hành trình đi tìm vẻ đẹp mới. Hay đúng hơn, giai nhân đã chẳng ở cùng thi nhân nữa. Giai nhân đi tìm niềm gắn bó mới, nơi đó nàng thoát khỏi những ràng buộc:

Gió thổi mơn man đôi má lạnh

Mà em còn ngỡ bạn tình hôn

Em muốn, than ôi! không tưởng tiếc

Khổ lòng em ngán nỗi trơ vơ

(Giọng sáo chiều hôm)

Chẳng còn gì bên cạnh thi nhân! Người tình hờ hững trong chiều tàn của thân phận có lẽ là nỗi đau thương lớn nhất trong Xác thu:

Sao nàng vẫn âm thầm như bóng tối

Tai không nghe và mắt chẳng muốn nhìn

(Khát…)

Giai nhân là mộng đêm xinh, là tình tệ bạc. Thi nhân gặm nhấm nỗi uất ức, chán chường trong giờ khắc vĩnh quyết. Giọt máu cuối cùng dành cho ý nguyện này:

Hãy theo ta khối sầu thiên vạn cổ

Khóc làm chi năm tháng đã xa rồi

Hãy theo ta đi tìm người muôn thuở

Dưới muôn trùng địa ngục chốn xa xôi

(Xác chết của người đẹp)

Trên báo Tràng An số 314 (22/4/1938) Xuân Phương có lời phê bình tập Xác thu của Hoàng Diệp, xem là một “viên ngọc quý”[4]. Lời bình dĩ nhiên nhiều ưu ái tuy nhiên chưa thật sự có lớp lang, bài bản, mới dừng lại ở một vài cảm nhận. Trong đó, chúng tôi cho rằng có những nhận định khá xác đáng. Xuân Phương cho rằng: trong thơ Hoàng Diệp có sự “chán nản”. Cùng với đó, “thất thểu” là trạng thái, tư thế trữ tình của thi nhân. Về ái tình, “Hoàng Điệp bị hoàn toàn thất bại trên đường tình” còn giai nhân: “càng van xin chừng nào, người yêu ông vẫn không buồn trở lại, nàng vẫn là một hình ảnh đau xót trong trí tưởng tượng của ông mà thôi”. Một số nhận định khác của Xuân Phương như thơ Hoàng Diệp “thật dễ thương và mới lạ”, “bao gồm được lắm ý nghĩa sâu xa” chúng tôi cho là chưa thuyết phục, nhất là khi đặt Xác thu trong tương quan với các thi tập khác của Trường thơ loạn. Điểm khác biệt của Hoàng Diệp chính là tư duy và mỹ cảm về sự tàn lụi. Chỉ như thế. Trường thơ loạn dựng nên cả một thế giới tàn lụi, điêu loạn, nhưng cái tàn trong thơ Hoàng Diệp là cái tàn lụi toàn diện nhưng cứ mãi là sự tàn lụi, chưa bước vào nỗi chết. Thi nhân cũng không Điên, không Loạn, không Cuồng. Ngày tàn, giờ tàn, cõi đời tàn, thân xác tàn, ái tình tàn, linh hồn tàn làm nên thi tàn chính là định mệnh thi ca của Hoàng Diệp, một sắc diện của Trường thơ loạn. Tuy nhiên, với nội lực thơ như Hoàng Diệp, dấn thân một chút nữa dễ bị cuốn chìm vào xoáy hút của trường thơ Hàn Mặc Tử. Lúc ấy, sẽ chẳng còn Hoàng Diệp nữa. Câu cuối cùng trong Dòng tư tưởng cũng là lời cuối cùng của Xác thu chính là tư thế trữ tình và cũng là tâm thế của thi sĩ:

Đôi mắt mờ theo dõi bóng ngày rơi

Thơ tàn góp thêm một sắc diện, một thể điệu nhằm hoàn thiện hơn dung mạo Trường thơ loạn. Đọc Xác thu, dựng lại một hình hài cái tôi trữ tình, thi giới và các “đối ảnh” (người tình và tha nhân), chúng ta nhận ra một chất thơ riêng thuộc về thi tánh của Hoàng Diệp. Nếu chia nhỏ các cấp độ loại hình thơ, có thể (mơ hồ) thấy Trường thơ loạn đã dung chứa Thơ điên, Thơ loạn, Thơ cuồng và Thơ tàn…. (?). Từ quan niệm đến thực hành sáng tạo, từ chất thơ, mạch thơ đến các chất liệu, phương tiện, cách thức kiến tạo thi giới, Xác thu của Hoàng Diệp là một cõi tàn hủy trong miền kinh hãi của Trường thơ loạn.

Nguyễn Thanh Tâm

-----------------------

(*) Đọc Xác thu, phác thảo một sắc diện của trường thơ loạn từ lý thuyết loại hình 


[1]. Phương pháp luận này được gợi lên từ những nghiên cứu kinh điển về hình thái học cổ tích thần kỳ của Propp, cấu trúc thần thoại của C. Lévi Strauss… Xin xem thêm: Nguyễn Thanh Tâm, Lý thuyết loại hình trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận Phê bình văn học nghệ thuật (Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học, Nghệ thuật Trung Ương), Số 5, tháng 1/2013, tr 21 -32.
[2]
. Các hình thái thơ này chúng tôi nhận ra trong quá trình nghiên cứu tư duy và mỹ cảm thơ của các tác giả Trường thơ loạn. Tính chủ quan, tương đối và có phần duy ý chí của định dạng này là điều có thể nhận ra, tuy nhiên rất cần gợi lên để các nhà nghiên cứu quan tâm bàn luận. Bên cạnh đó, từ góc độ loại hình, các phác thảo được nêu lên thể hiện nét đặc thù trong tư duy nghệ thuật của các yếu nhân Trường thơ loạn.
[3]
. Tất cả thơ của Hoàng Diệp trích dẫn trong bài viết này đều lấy từ tập Xác thu, Nhà in Thụy Ký, Hà Nội, 1937, bản Microfiml, Thư viện Quốc gia Việt Nam,  mã ký hiệu S87/8740.
[4]
. Nguyễn Ngọc Thiện (2001), Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, Tập 2, NXB Lao động, Hà Nội, tr 431, 432.

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác