Vui buồn chuyện thơ phổ nhạc

 

(Toquoc)- Thơ phổ nhạc là khi người nhạc sĩ, nhà soạn nhạc bỗng cảm thấy đồng cảm, đồng điệu cùng với một bài thơ mà người làm thơ, nhà thơ đã thổi vào đó những rung cảm chân thật và da diết, để bài thơ có một nét riêng, một “linh hồn”, số phận mới…

Bài thơ có khi trước đó đã nổi tiếng được nhiều người biết đến, hoặc còn “trong bóng tối” hay lẩn khuất đâu đó giữa… rừng thơ, mà người nhạc sĩ đã “lọc” ra, chắp cho bài thơ một đôi cánh để bay cao, bay xa. Và cũng có khi, đôi cánh âm nhạc chưa bay đã “đuối sức” chìm vào một khoảng trời âm nhạc, với nhiều bóng tối.

Khi tác giả âm nhạc chọn y nguyên lời thơ, có thể thay đổi vị trí, hay chỉnh sửa một vài từ, giới chuyên môn gọi là “ phổ nhạc”, trường hợp nhạc sĩ chỉ “lấy” ý tứ, hình ảnh hay chi tiết của bài thơ thì ghi là “phỏng thơ”. Cá biệt, có nhạc sĩ soạn hợp âm, giai điệu, thêm thắt vài ca từ, rồi lấy vài ba câu thơ, hay một khổ thơ của thi sĩ, thì chẳng biết… ghi gì? (Lúc ghi phổ thơ, lúc là phỏng thơ, hoặc “ý thơ của…”), đúng là chưa có sự qui định thống nhất cho các trường hợp này.

Dù sao thì giữa tác giả âm nhạc và tác giả thơ đều đã có chung một chữ “duyên”, cùng hòa điệu để có một tác phẩm âm nhạc chung. Còn sự “nổi tiếng” đôi khi còn phải chờ đợi rất nhiều yếu tố.

Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
(Ảnh Internet)

 


Trong rất nhiều nhạc sĩ Việt Nam thành danh lẫn chưa thành danh, có người chỉ phổ một hoặc vài ba bài thơ là đã nổi tiếng, có người đã phổ nhiều bài nhưng cứ nhàng nhàng. Các trường hợp như “phỏng thơ” của cố nhạc sĩ Trần Hoàn với bài thơ “Mưa rơi” của cố nhà thơ Tố Hữu. Nhạc sĩ Trần Tiến với ca khúc “Sao em nỡ vội lấy chồng” lấy từ cái ý rất độc đáo “Đi tìm lá diêu bông” của cố nhà thơ Hoàng Cầm… Cũng đều là những ca khúc bất hủ, sống mãi trong lòng người hát, người nghe.

Song người phổ rất nhiều thơ và hầu hết các ca khúc đều thành công và nổi tiếng phải kể đến cố nhạc sĩ Phạm Duy, người được mệnh danh “phù thủy” của âm nhạc. Những nhà thơ, qua sự tài hoa của cố nhạc sĩ Phạm Duy đều trở nên nổi tiếng, ví dụ như trường hợp của Phạm Thiên Thư, Linh Phương, Vũ Hữu Định, Nguyễn Tất Nhiên v.v… ở miền Nam lúc trước. Trong một bài viết: “Nói về ca khúc và thơ phổ nhạc”, Phạm Duy đã tâm sự: “Ca khúc của tôi, như mọi người đã biết, về phần lời ca, đa số là do tôi soạn, còn một số là những bài thơ đã nổi danh hay chưa ai biết tới khi được tôi phổ nhạc. Lý do tôi thích phổ thơ cũng rất là giản dị. Trước hết, tôi yêu thơ từ ngày còn bé. Lớn lên, tôi có nhiều bạn là thi sĩ làm thơ hay và làm cho tôi càng yêu thơ hơn lên. Cuối cùng, tôi có một người tình rất yêu thơ tiền chiến và làm 300 bài thơ tình tặng tôi.

Hành trình phổ nhạc những bài thơ hay của tôi xét ra cũng thật là dài. Khởi sự với thi phẩm của những thi sĩ đã thành danh như Cô hái mơ của Nguyễn Bính (1942), rồi tới Tiếng thu (1945) rồi sau đó là Vần thơ Sầu rụng, Hoa rụng ven sông, Thú đau thương của Lưu Trọng Lư. Tôi đến với Tiếng sáo thiên thai của Thế Lữ vào năm 1952, với Ngậm ngùi của Huy Cận và với Chiều của Xuân Diệu vào đầu thập niên 60. Những bài thơ của các thi sĩ lớn khác như Mầu thời gian của Ðoàn Phú Tứ, Tỳ bà của Bích Khê, Con qùy lạy Chúa trên trời của Nhất Tuấn cũng được tôi đem vào nhạc trong những ngày xa xưa đó.

Ngoài việc phổ nhạc những bài thơ đã trở thành thơ cổ điển của nền Thơ Mới, vào những năm 60, tôi là người đóng góp vào việc phổ biến những bài thơ tình của lớp thi sĩ trẻ vừa mới được in ra hoặc chưa ai biết tới như: Kiếp nào có yêu nhau, Đừng bỏ em một mình của Hoài Trinh, Mùa thu Paris, Tiễn em, Kiếp sau, Bên ni bên nớ, Về đây, Chiều đông của Cung Trầm Tưởng, Mùa xuân yêu em của Ðỗ Quý Toàn, Tâm sự gửi về đâu của Lê Minh Ngọc…

Trong khoảng đầu của thập niên 70, tôi lại có diễm phúc là làm cho mọi người nhanh chóng biết tới hai hiện tượng về thơ là: thơ rất Ðạo của Phạm Thiên Thư: Ðưa em tìm động Hoa vàng, Gọi em là đoá hoa sầu, Em lễ chùa này... (nhất là mười bài thơ được phổ thành Mười bài đạo ca), và thơ tình ngộ nghĩnh của Nguyễn Tất Nhiên: Thà như giọt mưa, Em hiền như ma-soeur, Hai năm tình lận đận...”. Phải chăng đó cũng là niềm vui, hạnh phúc, và vinh dự cho các nhà thơ được ông phổ nhạc?

Đánh giá về chuyện nghề nghiệp thơ phổ nhạc, Phạm Quang Tuấn nhận xét: “Phổ nhạc thơ Việt Nam rất dễ mà cũng rất khó. Dễ vì tiếng Việt có dấu, âm điệu bằng trắc êm ái của thơ tự nó đã gợi ra điệu nhạc uốn éo đi lên đi xuống. Chỉ cần nghe những điệu "hò Huế" thì đủ thấy là lời thơ dễ ảnh hưởng lên nhạc chừng nào. Khó, là vì chính những dấu đó cầm tù người viết nhạc, khiến trí tưởng tượng âm nhạc của họ như bị xiềng xích, mất phóng khoáng, để chonhững âm điệu của thơ trói buộc những quy luật mỹ thuật của âm nhạc.”, cho nên một bài thơ phổ nhạc đòi hỏi người nhạc sĩ ngoài sự đồng cảm, đồng điệu cần phải có sự tài hoa cần thiết, để bài thơ khi phổ nhạc sẽ có một sức sống mới kỳ diệu, được mọi người hân hoan, vui sướng đón nhận. Và đó là món quà vô giá, để nhạc sĩ và thi sĩ cùng hưởng chung sự hạnh phúc, trọn vẹn.

Nhưng sẽ thật khó chịu và chẳng vui khi có sự bất công ở chỗ nhạc sĩ phổ thơ “lờ tịt” tên tác giả bài thơ, đợi khi có… thưa kiện, hay dư luận eo sèo lúc đó mới thừa nhận là “phổ thơ” hoặc “phỏng thơ” của tác giả Y, nhà thơ X…

Không biết ở các nước tiên tiến, luật sở hữu bản quyền chặt chẽ, người ta xử lý các trường hợp “cố tình quên” như thế nào chứ ở nước ta, chuyện xảy ra… cũng bình thường thôi! Cứ coi những bài thơ mà nhạc sĩ thích mượn là “vô chủ”, không một lời hỏi han, tìm hiểu hay trao đổi với tác giả bài thơ, cứ coi như “bài thơ này là của chung”, đăng hay in ở đâu đó, và nhạc sĩ… cất công mang về thành “của riêng” mình.

Thời gian qua, không ít những chuyện phàn nàn về “tư cách đạo đức chân chính” của người nhạc sĩ khi tùy tiện phổ nhạc mà không liên hệ với tác giả bài thơ, như trường hợp mới đây của anh chàng nhạc sĩ sinh viên PHP, với cô nhà thơ VH. Người bênh, kẻ chê, không còn đâu là lòng tự trọng và nhân cách của người nghệ sĩ.

Thêm một điều… lạ, là các đài, báo đôi khi cho in hay chạy chữ tên tác giả của một ca khúc, thường chỉ ghi tên người sáng tác nhạc, không cần ghi tên tác giả thơ, dù đó là một ca khúc phổ thơ quen thuộc.

Có người đổ thừa cho “Văn kỳ thanh”, thấy bài thơ hay thì phổ nhạc, đâu biết tác giả bài thơ ở đâu mà tìm? Quả là đáng buồn trong thời đại thông tin và… phẳng này!

Mong sao, sẽ không còn chuyện… buồn, trong việc thơ phổ nhạc. Mọi sự chỉ là lòng tự trọng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Điều quan trọng vẫn là nhân cách và đạo đức của người nghệ sĩ chân chính trong quá trình sáng tạo một tác phẩm cho đời…

Trần Hoàng Vy

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác