Vũ Đình Long và vở kịch mở đường cho kịch nói Việt Nam (*)

(Toquoc)- Vở kịch "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long là một vở kịch đánh dấu sự ra đời chính thức và phát triển của kịch nói Việt Nam, đây là vở kịch mang dấu ấn hiện đại hóa rất rõ nét.

Vũ Đình Long và vở kịch mở đường cho kịch nói Việt Nam (*)  - ảnh 1Những năm 20 của thế kỉ XX đã đánh một dấu mốc vô cùng quan trọng trong nền văn học Việt Nam với sự chuyển mình nhanh chóng của các thể loại văn học mang tính hiện đại hóa từ nội dung đến hình thức. Đặc biệt trên sân khấu kịch trong giai đoạn này, bên cạnh những thể loại truyền thống như tuồng, chèo, cải lương, kịch nói đã ra đời có ý nghĩa lớn lao đối với nghệ thuật sân khấu nói riêng và nền văn học nghệ thuật nói chung. Khác với cải lương, tuồng, chèo là những loại xuất phát từ trong sinh hoạt dân gian, kịch nói là thể loại mang ảnh hưởng của văn hóa phương tây đặc biệt là kịch của Pháp.

Về tác giả kịch bản Chén thuốc độc Vũ Đình Long, ông sinh năm 1896 tại Thanh Oai, Hà Nội, là người có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX. Là chủ bút của nhiều tờ báo nổi danh lúc bấy giờ, ông đã dành nhiều tâm huyết cho sự phát triển của nền văn học Việt Nam theo hướng hiện đại hóa. Trong văn học sử Việt Nam, với vở kịch nói Chén thuốc độc ông được nhắc đến như người mở đường, người “lĩnh ấn tiên phong” của thể loại kịch nói, một thể loại hoàn toàn mới, có xuất xứ từ truyền thống văn chương phương Tây. Vở kịch được đánh giá là một tác phẩm tiêu biểu cho tính hiện đại hóa của văn học Việt Nam.

Trước hết là về thể loại, đối với giai đoạn văn học trung đại trước đó, nghệ thuật sân khấu luôn là thể loại song song tồn tại cùng với những bước đi bên cạnh nền văn học viết và được biết đến với các vở tuồng, chèo và cải lương đã có hoặc xuất phát từ trong những loại hình hát dân gian từ rất lâu đời. Những năm đầu thế kỉ XX, sự xâm lược của thực dân Pháp với công cuộc khai hóa thuộc địa về mặt văn hóa - xã hội và sự mở rộng thành thị đã ảnh hưởng không nhỏ đến diện mạo văn học của Việt Nam. Các nhà văn nhà thơ từ chỗ ra sức tẩy chay những gì du nhập từ phương Tây thì giờ đây họ lại hoàn toàn chấp nhận những thể loại mới và những hình thức mới mang đậm dấu ấn phương Tây mà tiêu biểu là nền văn học Pháp. Kịch nói Pháp đã dần bám rễ vào cuộc sống thành thị và có rất nhiều nhà biên kịch, nhà văn đã dịch các vở kịch nổi tiếng của Pháp để công diễn và nhận được sự chào đón từ công chúng. Cũng trong sự phát triển đó, trên sân khấu kịch Việt Nam, những thể loại truyền thống như tuồng, chèo đang dần lâm vào khó khăn trong việc đi tìm chỗ đứng trên sân khấu và trong lòng khán giả thì sự xuất hiện của kịch nói với những vở diễn lấy kịch bản dịch từ những vở kịch nổi tiếng của Pháp đã làm phong phú thêm loại hình nghệ thuật sân khấu tự sự. Và đặc biệt, vở kịch Chén thuốc độc (năm 1921) đã đánh dấu mốc quan trọng cho sự ra đời của kịch bản kịch nói của dân tộc. Đây là vở kịch nói đầu tiên mang tính hiện đại thoát khỏi màu sắc của các thể loại kịch truyền thống dân tộc mà thay vào đó mang ảnh hưởng của kịch nói Pháp rõ rệt, được diễn trên nền sân khấu hiện đại với những bối cảnh và công cụ hiện đại.

Vở kịch cũng đánh dấu cho sự ra đời của một trong những thể loại văn học mới của Việt Nam. Đây là thời kì diễn ra cuộc đổi mới thể loại với sự ra đời ồ ạt của hàng loạt thể loại bên cạnh thể thơ dân gian như ca dao, vè, hát dặm hay những thể loại thơ ca cổ điển như thơ Đường luật, văn tế, phú… Những thể loại mới như tiểu thuyết, tùy bút, kí sự, truyện ngắn của phương Tây đã du nhập vào Việt Nam trở nên phổ biến và đạt được nhiều thành tựu lớn chỉ trong một thời gian ngắn. Không nằm ngoài quy luật của sự phát triển đó, kịch nói cũng trở thành một thể loại được đón nhận và phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực sân khấu bên cạnh những loại hình sân khấu truyền thống khác như tuồng, chèo, hát bội… Nhưng nếu trước đó kịch nói được biết đến qua các vở kịch của Pháp được các dịch giả sân khấu dịch từ những vở kịch nổi tiếng của Cooc-nây, Môlie và được công diễn với dàn diễn viên người Việt và khán giả chủ yếu là người Pháp và một số ít tư sản, trí thức thì với sự ra đời của vở kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long với tấm lòng tự tôn dân tộc và nhiệt huyết của một nghệ sĩ đã đưa sân khấu kịch nói gần gũi hơn với công chúng Việt Nam. Sau ngày công diễn đầu tiên 22/10/1921 chỉ dành cho người Pháp, vở kịch được coi là đánh dấu mốc đầu tiên cho lịch sử kịch nói Việt Nam đã được đón nhận nồng nhiệt và giành được sự quan tâm từ đông đảo công chúng và được công diễn rộng rãi ngay sau đó. Tính hiện đại hóa của vở kịch đã góp phần phá bỏ sự phân biệt đối tượng khán giả trước đây với những khán giả thuộc tầng lớp nông dân dành cho những loại hình dân gian như tuồng, chèo, hát bội và tri thức, tư sản và thực dân với những loại hình bác học như kịch cổ điển… vở kịch mang tính quần chúng và phù hợp với mọi đối tượng khán giả. Một trong những nguyên nhân khác đánh dấu sự ra đời của vở kịch Chén thuốc độc mang tính hiện đại hóa đó là sự phổ biến của chữ quốc ngữ và sự phát triển của các phương tiện báo chí đã giúp cho người đọc nói chung và khán giả sân khấu nói riêng ở mọi tầng lớp xã hội từ tư sản, trí thức Tây học, viên chức nhà nước, sinh viên hay thậm chí là địa chủ, nông dân dễ dàng tiếp cận tác phẩm và nhanh chóng phổ biến rộng rãi. Từ đó, vở kịch không giống như những tác phẩm văn học trước đó chỉ khoanh vùng đối tượng thưởng thức mà trở nên phổ biến với mọi tầng lớp.

Một nền văn học hiện đại vừa là nguyên nhân vừa là sự thay đổi lực lượng sáng tác, trong đó lực lượng sáng tác kịch là những tầng lớp trí thức tiểu tư sản những người được tiếp thu những thành tựu và màu sắc văn hóa phương Tây ảnh hưởng đến tư tưởng và thiên hướng nghệ thuật trong sáng tác của mình đặc biệt trong giai đoạn sân khấu truyền thống không còn sức hấp dẫn với công chúng nữa. Hơn thế, loại hình này đã không thể phản ánh được sự biến động trong đời sống xã hội Việt Nam đương thời. Khao khát có một loại hình mới có thể biểu đạt được những biến động đó đã thôi thúc những nhà văn hóa như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Ngọc Khôi, Trần Tuấn Khải và đặc biệt là Vũ Đình Long tìm tòi, sáng tạo để lần đầu tiên vở kịch Chén thuốc độc theo cách thức của kịch phương Tây mà hiện nay chúng ta gọi là kịch nói được ra đời. Vở kịch không chỉ mang tính chất hiện đại thể hiện qua cách tân loại hình mà quan trọng hơn là ở nội dung thể hiện của nó.

Mỗi tác phẩm văn học ra đời lại chứa đựng trong đó tư tưởng của người viết và một nội dung phản ánh sâu sắc. Đặc biệt với một tác phẩm kịch ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược và xã hội đang du nhập, ảnh hưởng sâu sắc lối sống phương Tây lúc bấy giờ thì hiện thực xã hội chính là đối tượng phản ánh quan trọng nhất của người nghệ sĩ. Nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng (Viện trưởng Viện Văn học) đánh giá: “Trước sự xâm nhập của lối sống phương Tây, xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đã diễn ra những thay đổi khá căn bản. Bên cạnh việc phát triển theo quy luật lịch sử và văn hoá, có không ít những cái kệch cỡm, lai căng, biểu hiện của lối sống vị kỷ, chạy theo lợi ích cá nhân, chà đạp lên đạo lý thuần phong mỹ tục của dân tộc. Vũ Đình Long đã đứng trên lập trường đạo đức phong kiến để phê phán, nhân danh những cái mới, cái tiến bộ, nhìn nhận rõ vấn đề đạo đức xã hội trong buổi giao thời” và vở Chén thuốc độc chính là một tác phẩm mang tính hiện thực sâu sắc. Khác với những tác phẩm trước phản ánh hiện thực bằng những loại hình và nội dung ước lệ, tượng trưng hay quy phạm, Chén thuốc độc được viết theo lối tả thực mô tả kịch Pháp đã dám đi thẳng và nhìn nhận hiện thực đang tồn tại trong xã hội thành thị Việt Nam lúc bấy giờ. Nội dung vở kịch xoay quanh câu chuyện của gia đình thầy Thông Thu - một gia đình tư sản Âu hóa với đủ những cám dỗ của xã hội thành thị thực dân. Mỗi người tìm đến cho mình một nguồn vui riêng, bỏ qua tất cả lễ giáo đạo đức và trách nhiệm để đi vào con đường ăn chơi sa đọa. Vũ Đình Long đã tìm đến những vấn đề phức tạp của xã hội với những chuyển biến của trào lưu Âu hóa tác động lên toàn bộ lối sống của các tầng lớp thị dân lúc đó. Một gia đình vốn giàu có, bề thế nhưng lại bị cuốn đi theo cơn lốc của tệ nạn xã hội, thầy Thông Thu thì mê mải với hát cô đầu còn cụ Thông “say sưa đồng bóng đến nỗi không thiết gì việc cửa việc nhà, đến nỗi để con gái dắt trai về nhà mà không biết, đến nỗi con gái chửa hoang mà vẫn cho là Thánh phạt”. Kết cục tất cả gia sản của gia đình đã ra đi tới những nơi chốn ăn chơi của cả gia đình. Tiền tài mất, danh dự cũng không còn, thầy Thông Thu chỉ có tự giải thoát bằng “Chén thuốc độc” để thoát khỏi những hình phạt đang chờ đợi trước mắt. Chén thuốc độc là nhan đề cũng là một chi tiết mang khá nhiều ý nghĩa, những tệ nạn xã hội cuốn con người ta vào vòng quay sa đọa và cũng là Chén thuốc độc dần dần giết chết nhân cách con người đồng thời cũng là liều thuốc tiêu cực để người ta tìm đến để tự giải thoát mình.

Với nội dung phản ánh hiện thực xã hội, vở kịch không chỉ dừng lại ở việc miêu tả hiện thực mà thông qua đó chúng ta thấy được thái độ phê phán sâu sắc đối với lối sống đó và cũng là lời cảnh tỉnh đối với những con người đương thời đang chạy theo lối Âu hóa, ăn chơi hưởng lạc quá mức mà lãng quên trách nhiệm của mình với gia đình và xã hội. Đây cũng là một trong những cách tân đổi mới trong văn học về nội dung. Trước đó,văn học trung đại là sự biểu hiện thành văn của chính trị - đạo đức, là sản phẩm của các bậc nho sĩ, vua quan, mà mục đích chủ yếu khi cầm bút là để bày tỏ chí hướng, bộc lộ khí phách người quân tử, văn chương là “thi dĩ ngôn chí”, là “văn dĩ tải đạo”, thì vào đầu thế kỷ XX văn chương hiện đại đã làm thay đổi vị trí và tâm thế người cầm bút. Và quan trọng hơn cả là các quan niệm về đặc trưng và chức năng của văn học cũng thay đổi khi mà những quan niệm về mỹ học phương Đông về sự ước lệ, tượng trưng, quy phạm… đã hầu như không còn phù hợp nữa. Đặc biệt là một quan niệm mớivề đời sống tinh thần cho thấy văn chương không chỉ là chính trị, là luân lý, mà nó còn mang những đặc trưng nghệ thuật riêng khác để phản ánh xã hội, để bộc lộ cảm xúc, thái độ cá nhân của người cầm bút. Với sự bộc lộ đó, Từ điển văn học (bộ mới) đã nhận xét về nội dung hai vở kịch Chén thuốc độcTòa án lương tâm “là hai vở kịch nói phản ánh một vài khía cạnh tiêu cực của chiều hướng tư sản hóa ở các thành thị Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XX. Tác giả phê phán cách sống ăn chơi trụy lạc dẫn đến sa đọa, tội lỗi của một lớp người thành thị trung lưu: những công chức, giáo học, ký giả, những thanh niên con nhà khá giả ăn chơi đàng điếm, những bà mẹ, bà vợ công chức sống vô công rồi nghề. Họ lăn mình vào cuộc sống xa hoa trụy lạc, từ đó dẫn đến sự phá sản và tội lỗi. Họ nhân danh tự do cá nhân để phát triển tính ích kỷ, hưởng lạc, gây nên tình trạng mà đương thời gọi là phong hóa suy đồi, luân thường đảo ngược".

Mang đặc trưng của thể loại, “không chứa đựng một dung lượng hiện thực rộng lớn, bề bộn như tiểu thuyết, cũng không thể lắng lại trong những mạch chìm của cảm xúc như thơ trữ tình. Gạt bỏ tất cả những gì rườm rà, tản mạn không phù hợp với điểu kiện sân khấu, kịch lựa chọn xung đột trong đời sống làm đối tượng mô tả. Dưới dạng xung đột, những vấn đề thuộc bản chất của hiện thực được quy tụ nổi bật” (Lí Hoài Thu). Như vậy, nội dung của vở kịch xoay quanh câu chuyện của gia đình thầy Thông Thu, với những mâu thuẫn và xung đột giữa các quan niệm khác nhau và những lối sống ăn chơi sa đọa khác nhau đã chỉ được giải quyết sau khi tất cả đã đi vào quỹ đạo tan vỡ đã thể hiện một cách chân thực và lời lên án khắc nghiệt của lối sống băng hoại đạo đức của một bộ phận không nhỏ của tầng lớp tư sản thị dân Việt Nam trong giai đoạn đó. Đây là một điểm cách tân so với nội dung thể hiện trong các tác phẩm trước đó và là một trong những tác phẩm mở đầu cho khuynh hướng hiện thực sau này trong các tác phẩm không chỉ của kịch nói mà còn trong các thể loại khác như truyện ngắn và tiểu thuyết…

Chén thuốc độc thể hiện tư tưởng nội dung khá sâu sắc được thể hiện qua hình thức phong phú và mang tính hiện đại đặc trưng của thể loại mới. Về cấu trúc, “Ông đã cấu trúc ba hồi kịch, trên ý thức cách tân “hí kịch lời mới, chia làm ba hồi”, mỗi hồi bao gồm một số cảnh, mà ông gọi theo tiếng Pháp là “sen”. Hồi một có 14 sen, hồi hai 13 sen, hồi ba 11 sen, tổng cộng 38 sen (PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái). Đây là cấu trúc khá mới lạ đối với nghệ thuật sân khấu truyền thống thường chia theo lớp kịch hoặc phân đoạn theo các cảnh nối liền nhau hoặc chỉ chọn và diễn theo một trích đoạn tiêu biểu. Vở kịch này đã mang đến một cách phân đoạn mới làm cho sân khấu diễn và bối cảnh phong phú hơn. Mỗi hồi đều có mở đầu, có xung đột và lên đến đỉnh điểm và kết thúc tại đỉnh điểm đó. Hồi một là bức tranh toàn cảnh về gia đình Thầy Thông Thu với công việc chuẩn bị cho những thú vui của mỗi người. Mẹ và vợ Thông Thu chuẩn bị quần áo, tiền bạc đi trẩy hội, Thông Thu cùng bạn chơi bàn bạc về những cô ả hát mà họ qua lại, còn cô Huệ đang tiếp người tình của mình là Cả Lém tại nhà. Hồi một kết thúc bằng việc Cả Lém bộc lộ rõ bản chất lừa lọc và thói trăng hoa của mình cũng như dã tâm lừa đảo Huệ. Tiếp tục hồi hai là những xung đột tiếp diễn xảy ra trong gia đình do thói ăn chơi và mê muội của mỗi người gây ra, kết thúc là cảnh Thầy Thông phê phán thói mê muội cô đồng của mẹ và vợ cũng như sự hư hỏng của em gái. Hồi ba bắt đầu từ cảnh gia tài nhà Thông Thu bị tịch thu kết thúc những ngày ăn chơi hưởng lạc của cả gia đình và sau đó lên đến đỉnh điểm bằng ý định tự tử của thầy Thông Thu và kết thúc bằng một kết thúc có hậu. Thông Thu được thầy giáo Xuân ngăn lại, gia đình được cứu nhờ số tiền của người em trai bỏ đi nay làm ăn phát đạt trở về và mọi người đều tỉnh ngộ sau giấc mơ dài mê muội.

Cũng mang dấu ấn hiện đại hóa, nghệ thuật xây dựng nhân vật của Chén thuốc độc nói riêng và kịch nói nói chung đã có những bước chuyển mình thay đổi từ một nhân vật trung tâm đến nhiều nhân vật trung tâm trong một tác phẩm. Tất nhiên, trong bất cứ một tác phẩm nào cũng có nhân vật chính, phụ nhưng trước đó, ở loại hình sân khấu cổ truyền như tuồng chèo, tác giả thường xoay quanh một nhân vật trung tâm. Các nhân vật này có thể là trong dân gian như Tấm Cám kể về nhân vật Tấm, Súy Vân trong vở Tuồng Súy Vân giả dại và phổ biến hơn đó là các nhân vật có thật trong lịch sử với những anh hùng dân tộc, những người làm nên lịch sử như Nguyên Phi Ỷ Lan, Trần Thủ Độ… đây là những nhân vật hành động nổi bật và nội dung vở diễn thường viết về cuộc đời của họ với sự ca ngợi sâu sắc. Ngược lại, ở vở kịch Chén thuốc độc, chúng ta thấy lần đầu tiên không phải xuất hiện trung tâm duy nhất mà đều là những nhân vật chính, phụ khác nhau. Số nhân vật được phân chia rõ ràng 13 nhân vật nam, 5 nhân vật nữ trong đó các nhân vật chính là các thành viên trong gia đình bao gồm mẹ, vợ, em gái và thầy Thông Thu. Các nhân vật còn lại được coi là nhân vật “ngoại biên” góp phần trong việc thể hiện xung đột kịch. Các nhân vật chính khá bình đẳng về vị trí, vai trò của mình trong vở kịch. Tuy trung tâm là thầy Thông Thu nhưng các nhân vật chính trong gia đình đều có đất diễn khá độc lập thể hiện tính cách riêng và vai trò của bản thân trong tác phẩm. Với nội dung phê phán thói băng hoại đạo đức trong các gia đình tư sản trong xã hội lúc bấy giờ, tác giả Vũ Đình Long đã chọn cách miêu tả lối sống của một gia đình giàu có ở thành thị, đó là gia đình thầy Thông Thu. Các nhân vật được xây dựng khá thành công không chỉ về số lượng nhân vật chính mà còn ở cách thể hiện của mỗi nhân vật đều mang tính chất tiêu biểu, điển hình hóa chứ không chỉ mang dấu ấn cá nhân của nhân vật. Có tiền bạc, có chức tước, thầy Thông Thu sớm cuốn theo thói ăn chơi hưởng lạc của đàn ca và tửu sắc nhưng anh lại có kiến thức của một người trí thức Tây học, rất hiểu và khinh bỉ những trò mê tín dị đoan, lừa lọc mà mẹ và vợ anh đang mê muội lao theo, anh đã gay gắt lên án nhưng dường như cũng bất lực trước sức hút quá lớn của nó đồi với mẹ anh. Mẹ và vợ Thông Thu lại là hình tượng nhân vật tiêu biểu cho lớp phụ nữ thành thị quen sống dựa dẫm, hưởng lạc, không biết làm gì ngoài việc ăn chơi và dễ bị cuốn hút vào những trò mê tín di đoan lừa bịp. Cô Huệ là một nhân vật đại diện cho một số không nhỏ những cô tiểu thư sớm xa rời lễ giáo phong kiên hòa mình vào lối sống tự do phương Tây nhưng lại quá nhạy cảm và cả tin trước cám dỗ của ái tình. Các nhân vật phụ cũng được tác giả chú ý xây dựng khá điển hình và tiêu biểu, với rất nhiều nhà trí thức coi trọng nghĩa tình và đạo đức xã hội như thầy giáo Xuân, với rất nhiều kẻ chuyên đi lừa đảo, lợi dụng sự cả tin của người khác cơ hội trục lợi về mình như bà Đồng quan, cô Hồn, Cậu Lém…

Xây dựng nhân vật không chỉ ở hình tượng mà còn ở hành động và tâm lí. Khác với những hành động mang tầm vóc lớn hoặc mang tính chất quyết định ở các vở kịch truyền thống, hành động của các nhân vật ở đây hoàn toàn phù hợp với các nhân vật bình thường trong cuộc sống bình dị. Tác giả miêu tả những hành động của nhân vật cũng diễn ra khá tự nhiên như chính cuộc sống thực hàng ngày như uống nước, nhai trầu, ướm quần áo v.v.. những hành động khá gần gũi, quen thuộc như chính cuộc sống vậy. “hành động kịch và nhân vật kịch là trục chính để xác định tính cách nhân vật” (Lí luận văn học - Hà Minh Đức chủ biên, tr 206). Song một điều đặc biệt ở đây bên cạnh hành động kịch chúng ta còn thấy được diễn biến nội tâm của nhân vật được thể hiện qua độc thoại nội tâm. Đây không phải là điều mới mẻ trên sân khấu kịch nhưng điều đáng nói đó là Vũ Đình Long đã biết tận dụng và khai thác rất hiệu quả các màn độc thoại nội tâm để thể hiện diễn biến tâm lí của nhân vật với một dung lượng đáng kể và cân bằng với hành động kịch, cùng với hành động kịch và hình tượng nhân vật giúp chúng ta xác định tính cách nhân vật. Ví dụ, như trên đã phân tích, nhân vật Thầy Thông Thu là một người đại diện cho một số trí thức tiểu tư sản bước vào lối sống tiêu cực lúc bấy giờ. Tuy nhiên bên cạnh đó chúng ta vẫn thấy anh có những tính cách, những phẩm chất đáng đáng qúy vẫn chưa mất trong con người mình, nét tính cách đó được thể hiện qua hành động uống thuốc độc tự tử. Đây là hành động thể hiện sự trốn tránh trách nhiệm cũng như sự sợ hãi trong bế tắc, nhưng thông qua màn độc thoại nội tâm ở phần cuối vở kịch chúng ta vẫn thấy được đây là nhân vật khá có nghĩa và hiếu thảo “Ta mà chết đi thì mẹ ta, vợ ta, em ta, ai nuôi, ai nấng, ai trông, ai nom? Và quyết định viết thư để lại cho người em lưu lạc của mình để em thay mình làm tròn trách nhiệm với gia đình “Vậy ta hãy viết cho nó cái thơ để nó về phụng dưỡng mẹ ta. Phải rồi, ta hãy viết thơ cho nó, rồi chết cũng cam tâm”. Như vậy hành động kịch và diến biến tâm lí nhân vật đã được tác giả một cách sâu sắc hơn so với những vở sân khấu trước đó. Nhân vật của vở Chén thuốc độc được thể hiện tính cách cũng như vai trò của mình trong tác phẩm khá rõ nét tạo được ấn tượng với người thưởng thức. Bằng lối viết hiện đại ảnh hưởng từ nghệ thuật kịch nói của Pháp, Vũ Đình Long đã cách tân mỗi nhân vật của mình là một cái Tôi hoàn toàn không ước lệ, không xây dựng bằng sự chuyển thể, phóng đại với mục đích ca ngợi, tôn vinh, họ hiện lên rất chân thực, rất đời thường khiến chúng ta đểu có cảm giác gần gũi. Đây là điều mà kịch sân khấu cũng như những thể loại khác trước đó hoặc chưa làm được hoặc chưa sâu sắc và nổi bật.

Quá trình hiện đại hóa văn học, nghệ thuật là một quá trình diễn ra khá phức tạp và chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau trong đó một nhân tố vô cùng quan trọng đó là ngôn ngữ. Với sự ra đời của chữ quốc ngữ, đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam chính thức bước từ văn học trung đại sang giai đoạn văn học hiện đại với nhiều cách tân đổi mới. Vở kịch Chén thuốc độc cũng là một tác phẩm được viết bằng chữ Quốc ngữ, vở kịch của Người Việt Nam, bằng ngôn ngữ Việt và về cuộc sống của chính người Việt. Cùng với đó là đặc trưng của thể loại kịch nói, nội dung hoàn toàn được truyền tải qua ngôn ngữ đối và độc thoại, thoát li hẳn ngôn ngữ của hát múa và âm nhạc. Ngôn ngữ của kịch nói chung được thể hiện hoàn toàn qua nhân vật, khác với những thể loại tự sự khác và ở đây, với hệ thống nhân vật là con người đời thường trong xã hội hiện đại, do đó ngôn ngữ của kịch mang tính hiện đại khá rõ nét. Ngôn ngữ trong vở kịch đã xa hẳn lối nói dân gian và ước lệ của tuồng chèo qua các bài ca,múa. Ở đây, chúng ta thấy xuất hiện chủ yếu là ngôn ngữ thành thị và hiện đại. Ngôn ngữ cũng phản ánh đúng lời ăn tiếng nói hàng ngày trong giai đoạn đó. Cách xưng hô thay vì “U. Thầy” đã chuyển thành “Cha, Me” vợ chồng thay vì “thiếp - chàng” đã chuyển thành “tôi - mình”, anh trai, em gái là “anh - em” thay cho “huynh - đệ” .v.v… Cách xưng hô đã được Âu hóa khá rõ gần như xóa bỏ hoàn toàn cách xưng hô đã tồn tại hàng ngàn năm trong thời kì phong kiến. Cùng với đó, ngôn ngữ hội thoại cũng đơn giản hóa, gần gũi với lời ăn tiếng nói của lớp thị dân trung lưu. Cách nói chuyện không còn câu nệ, không phải bóng gió xa xôi, những lời đối thoại, những câu chuyện hàng ngày đã được truyền tải vào trong vở kịch với một lối viết rất hiện thực. Xen vào đó là tiếng Pháp cũng được sử dụng như một công cụ hỗ trợ cho tiếng Việt phản ánh việc sử dụng ngôn ngữ nửa Tây, nửa ta của phần lớn thị dân thời đó. Ngôn ngữ trong vở kịch cũng súc tích và dễ hiểu, các nhân vật đối đáp với nhau khá tự nhiên, giản dị nhưng cũng không kém phần triết lí và giàu tính nghệ thuật, rất phù hợp để thể hiện tính cách nhân vật qua lời ăn tiếng nói. Ngôn ngữ của thầy giáo Xuân luôn từ tốn và giản dị nhưng lại sâu sắc thể hiện tấm lòng của một con người thấu đáo và chân thành “dại thì hại ngay, khôn thì hại dần, tóm lại khôn dại cũng có hại cả […] cờ bạc là bác thằng Bần, mà kẻ say rượu trông không khác gì con vật đấy sao” còn ngôn ngữ của Cậu Ấm lại mang đậm màu sắc của một kẻ ăn chơi sa đọa, quen ở chốn cao lâu…

Với sự ra đời của vở Chén thuốc độc của Vũ Đình Long, nền văn học Việt Nam đã đánh dấu mốc quan trọng cho việc ra đời của thể loại kịch nói. Mang đặc trưng của thể loại, vở kịch đã phản ánh hiện thực xã hội đương thời một cách sâu sắc và chân thực qua nghệ thuật kịch ảnh hưởng phương Tây. Vấn đề hiện đại hóa đã được thể hiện qua thể loại, nội dung và hình thức, mở đường cho sự phát triển của loại hình kịch nói hiện đại sau này. Qua tác phẩm Chén thuốc độc, Vũ Đình Long là người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng cho sự ra đời của sân khấu kịch nói và góp phẩn quan trọng trong quá trình hiện đại hóa văn học phát triển song song với hiện đại hóa xã hội.

Trần Thư

--------------

(*) Bài viết tưởng nhớ 50 năm ngày mất của nhà viết kịch Vũ Đình Long (14/8/1960-14/8/2010)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác