Viết nhanh đôi dòng về Bùi Minh Chức

 

(Toquoc)- Văn chương, đáng ra đã có thể phiêu diêu như bản lai của nó là những thăng hoa tinh thần. Nhà văn, đáng ra cũng là những người nhàn cư (mà không nhàn tâm) chăng? Nhưng, đằng sau một chữ nhưng là những hệ lụy muôn đời của áo cơm vây giáp những gác trọ văn chương, là sự thịnh suy của những luồng thị hiếu hoặc tung hô, hoặc ép xác trang văn trên những kệ sách phủ bụi mờ.

Từ trong mớ bòng bong ấy, giữa một thành phố trẻ trung được mọc lên từ hạt mầm chắc khỏe là ngổn ngang công trường thủy điện, trầm tĩnh, nhún nhường nhưng quyết liệt, táo bạo trong suy nghĩ là một “gã” viết văn thật già. Cái già của những trải nghiệm, nhưng thật trẻ, cái trẻ của sự hào hứng với sống và viết. Ấy là Bùi Minh Chức, cái tên mà nhiều người đọc nghe phong thanh đâu đây nhưng lại chưa thực tường diện mạo.

Viết nhanh đôi dòng về Bùi Minh Chức  - ảnh 1

Khoảng những năm 90 của thế kỉ trước, đài báo nói rất nhiều về sự thành công của nhà máy thủy điện Hòa Bình. Nhưng, đâu chỉ dừng lại ở sự thắng lợi của ngăn sông tạo ra “nguồn than trắng” mà ngưng kết một tinh thần của tuổi trẻ sông Đà. Đó là sự kết hợp giữa chất tráng kiện, nhiệt thành, vô tư của những người con đất Mường bản địa và tài hoa, trí tuệ của những con người miền xuôi. Đó là sự ngưng kết của văn hóa sinh hoạt cổ truyền và sự khoan giản, khoa học, linh hoạt của những “làng công nhân”. Độc đáo thay, là những tên dốc, tên đường, cách gọi từng con ngõ, khu chợ như: Dốc năng lượng, ngõ Thủy công, chợ Đường hầm… nằm kề bên những núi Đúng, đồi ông Tượng; là khi huyền thoại ngăn sông “lẫn” vào những truyền thuyết Ông Đùng, bà Đà kì vĩ… Và, cũng chỉ khi đã hội đủ những điều đó, mới xuất hiện một lớp người cầm bút để viết về những gì không có gốc gác trong kho tàng thi liệu truyền thống:

Chợ Vồ giữa công trường

Vài cô em trườn người xem sách chưởng

Anh thợ đồng hồ ngáp dài ngáp ngắn

Con chó béc- giê ăn trộm thịt bò

Một người điên suốt ngày mang súng gỗ

Pằng… Pằng… vào những bộ mặt cười

Có một chợ vồ yêu dấu ở trong tôi

Nơi quán nhỏ các “nhà thơ” uống rượu

Anh công nhân vội đi ca

Mua hàng không mặc cả

Và những cô gái Mường quanh đó

Ra chợ cốt để hẹn hò

Chợ Vồ đông sáng vắng trưa

Chiều thì nhốn nháo

Tre, pheo, nứa, gạo…

Cờ bạc, số đề, người say lảo đảo

Mùi biển mặn mòi trong quán khô

Xin ai chớ có hẹn hò

Về một chợ Vồ đông sáng vắng trưa.

(Chợ Vồ - Bùi Minh Chức)

Đã có nhiều nhà văn thành danh từ thành phố - công trường ngày ấy. Người yêu văn hẳn còn nhắc Tạ Duy Anh, Nguyễn Hoàng Sơn. Trẻ trung hơn thì là những Nguyễn Quyến, Bùi Tuyết Mai. Nhưng, ở lại với sông Đà, sống để chiêm nghiệm, lặn lội với cơm áo nhưng không nát để nghĩ đủ rồi mới viết lại là người trai đất mường Bi có tên Bùi Minh Chức ấy. Ra cổng nhìn về bên kia là đập thủy điện như còn âm vang một thời. Sau lưng dãy núi mẹ khắc sâu ngấn nước ngày xưa. Còn dưới kia, là chợ Vồ “đông sáng vắng trưa” như bức phù điêu sống một thời.

Nghe nói, văn anh đã được nhắc đến cho các cháu học sinh THCS. Nhưng, điểm lại hành trình đến với văn chương của anh cũng thú vị lắm chứ. Người con đất Hạ Bì một thời tuổi thơ tắm gội dòng Bôi, bàn chân nhỏ ngã xoài quậy trắng, mải đuổi theo bắt những ba ba, rùa nhỏ, mà không hay mình chưa có một cái tên. Để rồi, khi đến lớp, chính cô giáo đã đặt cho anh cái tên ấy. Minh Chức cứ sáng mãi môt thiên chức cầm bút từ những ngày thanh bình trên giảng đường Đại học Tổng hợp. Là anh sinh viên can trường gối đầu lên báng AK ngủ vùi trước lúc vượt sông Hồng của những đêm 1972 đỏ lửa đất Hà Thành. Đất nước thống nhất, theo chân người lính giải phóng ngồi xe JEEP mà sốc nảy người trên sườn Bẩy Núi mà cười như thế.

Nhưng rồi, sớm hay muộn những trầm luân vẫn đến với người chót mang cái nghiệp văn. Trở về đất sông Đà, ông chọn một cửa rừng để lập “thảo lư” chong đèn ngẫm ngợi. Những truyện ông viết không nhiều như sự sởi lởi của đa phần các nhà văn địa phương mà rất tinh và kĩ. Sự tích một câu nói đã đưa ông vào chung khảo một cuộc thi. Nhưng, sự chiêm nghiệm đằng sau ấy mới… khoái.

Nhớ lại, ngày vừa mới rời trường ốc để đến trường đời, tôi đến tòa soạn gặp ông cũng kiềng lắm. Thế rồi sau này lại thấy ngồi đàm đạo với ông bên quán cóc ven con đường quành ngọn núi Đúng mới thấy thú nhất. Ông yêu nền văn hóa mình đến lạ. Chỉ ước gặp ai dịch Đẻ đất đẻ nước ra tiếng Anh, nhưng cũng từng mắng té tát những anh cộng tác viên choai choai tự huyễn hoặc tô vẽ về những gì không có thật. Văn hóa Mường với ông không ôm đồm như người ta hay làm, ông lọc ra từ luật tục, chắt vào tản văn rồi suy cảm bằng truyện ngắn. Nhưng đâu phải có thế, anh cũng đau đáu về một Sông Đà chưa được gọi tên thành văn hóa. Ông bảo: Ngày xưa những ông Lang cậu đã ra lập làng xóm ở những quèn sông bồi tụ này từ sớm lắm. Đình Sủ Ngòi, chùa tám mái Thịnh Lang giúp tôi hiểu ra những điều ấy. Thế rồi anh nói đến những dòng họ bất bạt xưa lên kịch cùng Phương Lâm, Nghĩa phương lập phố, người đất Xiêm về lập phố Thái, rồi công nhân, kĩ sư thủy điện. Tựu chung lại thành một diện mạo văn hóa ấy là gì nhỉ? Câu chuyện của anh cứ mở ra như thế, hay nhưng bất tận. Ngại cho sự bon chen kiếm kế mưu sinh của đời không cho mình nghĩ xa bàn kĩ nhưng thế biết đâu cũng đã đủ rồi. Người ta biết trở thành một giá trị văn hóa còn đáng giá hơn trăm ngàn cuốn sách khoe mẽ nhưng vô hồn. Viết nhanh đôi dòng anh là thế.

Bùi Việt Phương

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác