Về Giải thưởng Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNTVN (3)

(Toquoc)- Ý nghĩa của giải thưởng văn học tưởng đã được hoàn kết từ lâu trong các nghi thức tôn vinh hoạt động sáng tạo văn học, tưởng đã trở thành một biểu tượng thiêng và bất biến trong lòng công chúng thì nay đang trở nên bấp bênh. Công chúng tiếp nhận, giới truyền thông, giới kinh doanh sách, các phê bình gia, các tác giả sáng tạo văn học... đều nhìn giải thưởng trong nước với ánh mặt dè dặt và đầy hoài nghi, một cảm thức hoài nghi rất đặc trưng cho cái thời họ đang sống.

Hiện tượng chống giải thưởng là có thực và đang diễn ra phổ biến trong sinh hoạt văn chương Việt Nam khoảng chục năm trở lại đây. Việc này diễn ra giữa một số trung tâm chính thống có quyền lực đoạt định giải thưởng; và giữa các nhóm cá nhân thường xuyên tham dự vào trò chơi hợp thức hóa các giá trị hiện đại này. Điều đáng nói nữa là sự chống giải thưởng ở nhiều nơi không nhằm vào hợp thức hóa một giá trị khác, tích cực hơn mà có chiều hướng làm cho cuộc khủng hoảng giá trị văn học đương đại càng trở nên tồi tệ thêm nữa. Chống giải thưởng thực chất là chống các nhãn quan giá trị nào đấy, chống những thế lực nắm được phương tiện truyền thông đang tuyên xưng độc quyền chân lí, chống sự can thiệp của những yếu tố ngoài văn chương, và vì thế cũng là chống những mưu toan kéo lùi sự vận động của văn học.

Trước đây, thông qua cơ chế chuẩn hóa của mình, việc trao giải thưởng đem lại một giá trị tiêu biểu nào đấy, có thể làm mẫu thức chung cho nhiều người, được thừa nhận rộng rãi thì bây giờ nó lại tạo ra những mối đe dọa cho nhiều người cầm bút, chẳng hạn có những sáng tạo mới mẻ bị đặt sang bên lề một cách cực đoan hoặc có những đợt sóng dư luận mà phần nhiều là chỉ trích nhằm vào các tác giả được trao giải. Công chúng ngày nay không còn tiêu dùng giải thưởng đơn thuần nữa, chính họ luôn đề nghị tiếp nhận văn học giải thưởng bằng một tâm thế phản tỉnh sâu sắc.

Tình hình trao giải thưởng văn học hiện nay gợi cho người ta cảm giác lẫn lộn: vừa như có một sự đàn áp các giá trị mới, những tiếng nói mới ở ngoại biên của văn học, vừa như có hiện tượng chống lại sự đàn áp các giá trị văn học đích thực một thời chưa xa nào đó. Nói chung, các phát ngôn kiểu như: việc chọn trao giải thưởng văn học đã được tiến hành khách quan, công bằng, chính xác, đưa đến sự đồng thuận trong dư luận và đoàn kết trong văn giới chỉ là một viễn mơ, một ảo tưởng. Không hơn không kém.

2. Sau nhiều năm tổ chức tặng thưởng, do nhận thấy có nhiều bất cập, Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (gọi tắt UBTQ) tiến hành điều chỉnh quy chế xét tặng thưởng, theo đó UBTQ không nhận trực tiếp các tác phẩm dự thưởng, các Hội Văn học Nghệ thuật (VHNT) địa phương sẽ thực hiện công việc sơ khảo này qua việc chọn lọc, giới thiệu, đề cử tác phẩm của hội viên. Về lí thuyết, quy chế này có tác dụng nâng cao chất lượng giải thưởng, động viên kịp thời và không bỏ sót các tác phẩm có giá trị xuất bản hàng năm, nhưng trên thực tế năng lực thẩm định của nhiều Hội đồng nghệ thuật (BCH) địa phương còn yếu. Đấy là chưa kể đã và đang có sự chi phối của các yếu tố ngoài văn chương đến khâu sơ khảo ở địa phương: chẳng hạn các tác giả là hội viên hội chuyên ngành trung ương, các tác giả đã thành danh, nổi tiếng hoặc các tác giả đang giữ một chức vụ quan trọng và có lợi thế quan hệ nào đó ở Hội VHNT địa phương thường được ưu tiên trong việc xét chọn đề cử.

Theo Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam (số 1 + 2 - 2000) cơ cấu “Giải thưởng văn học nghệ thuật năm 1999” của UBTQ vẫn bao gồm ba loại: Tặng thưởng cho các tác giả cao tuổi; Tặng thưởng cho các tác giả trẻ; Tặng thưởng theo các loại A,B, C. Nhìn vào Cơ cấu này ta thấy cần phải gọi cho đúng là tặng thường thường niên chứ không phải là Giải thưởng như báo chí trước năm 2005 (kể cả cơ quan ngôn luận của UBTQ) vẫn đưa tin, công bố. Tặng thưởng thường niên của UBTQ được nâng lên thành Giải thưởng văn học thường niên từ năm 2005. Riêng ngành văn học tổ chức chấm 2 vòng (sơ khảo và chung khảo), những tác phẩm đạt quá phiếu bầu chọn sẽ được đưa vào Chung khảo. Đối với các ngành nghệ thuật khác, Hội đồng giải thưởng của UBTQ thông qua Hội đồng nghệ thuật các chuyên ngành. Điều đáng nói là các Hội đồng chuyên ngành chú ý đến chất lượng nhưng “đồng thời tính đến cơ cấu vùng miền để động viên hoạt động sáng tạo trên cả nước vì đây là tính đặc thù của UBTQ”. Hội đồng giải thưởng của UBTQ do Chủ tịch UBTQ làm Chủ tịch.

3. Năm 1999, trong số 16 tác phẩm đoạt tặng thưởng văn học của UBTQ thơ chiếm ưu thế (10 tác phẩm); truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút trung bình mỗi thể loại có 2 tác phẩm được trao tặng thưởng; phần tặng thưởng trao cho các tác giả cao tuổi chiếm số lượng lớn nhất (6 tác phẩm), tặng thưởng dành cho tác giả trẻ chiếm số lượng nhỏ nhất (Như Bình và Trần Thị Ngọc Lan), còn lại tặng thưởng loại B có 4 tác giả (Phạm Việt Long, Vân Long, Nguyễn Anh Thuấn, Y Phương), tặng thưởng loại C cũng có 4 tác giả (Nguyễn Thị Minh Thông, Trương Xương, Phạm Thu Yến, Trần Thị Nương) không có tặng thưởng loại A. Lí luận phê bình chỉ có tác phẩm Không có một thời như thế của Hà Xuân Trường đoạt tặng thưởng dành cho các tác giả cao tuổi.

Tác phẩm đoạt giải cao nhất (Bê trọc) của Giải thưởng UBTQ năm 1999 đề cập đến người thực, việc thực. Ở đây, điều đáng nói thứ nhất, là việc đánh giá tác phẩm văn học của Hội đồng vẫn theo khuôn mẫu: nhân vật điển hình, hoàn cảnh điển hình. Thứ hai, là vấn đề thể loại: trước việc tác giả Bê trọc không ghi vào tác phẩm của mình thể loại gì một số thành viên Hội đồng giải thưởng đã lộ ra năng lực thẩm định văn học còn hạn chế của họ. Có chuyện lúng túng, mập mờ trong việc diễn giải giá trị cùng thể loại của Bê trọc. Có nơi thông báo đó là truyện kí (nhưng B trọc dài hơn 500 trang), có chỗ chỉ diễn giải chung chung “tác phẩm mang rõ đặc trưng của thể kí”, hoặc tác giả đã văn học hóa nhiều tư liệu quý. Chỗ khác lại quả quyết tác phẩm này là tiểu thuyết tư liệu hoặc Bê trọc chưa phải là tiểu thuyết bởi vì kết cấu tác phẩm ấy chủ yếu theo tuyến thời gian, thiếu tính đan xen. Để giải quyết những khó khăn trong xác định thể loại, theo một thành viên Ban Sơ khảo thì “cuối cùng, cần nhận thức rõ rằng, cái quyết định đối với một tác phẩm văn học không phải là thể loại mà là ở bản thân tác phẩm”. Ngay đến tác giả của nó (Phạm Việt Long), gần đây cũng vẫn cho rằng “Bê trọc vừa là nhật ký, vừa là thư, báo vừa là truyện. Tất cả những yếu tố này đã hoà quyện vào nhau để tạo tính chân thực cho một tiểu thuyết”.

Năm 2000, số lượng các tác phẩm được tặng thưởng của UBTQ tăng lên đáng kể (23 tác phẩm), thơ chiếm hơn 50% số lượng tác phẩm được trao giải (13 tác phẩm). Tác phẩm phê bình văn học được trao tặng thưởng vẫn thuộc hạng mục Tặng thưởng cho các tác giả cao tuổi (Thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh của hai tác giả Vũ Châu Quán và Nguyễn Huy Khoát). So với năm 1999, giải thưởng năm này đã có loại A, dành cho 2 tác phẩm thơ (Thao thức những vầng trăng của Tô Thi Vân, Muối ngày qua của Trần Thị Huyền Trang). Tặng thưởng cho các tác giả trẻ của UBTQ thường vẫn ít về số lượng nhất (1 tác phẩm thơ, 1 tác phẩm văn xuôi), chưa bằng một ½ so với Tặng thưởng cho các tác giả cao tuổi.

Năm 2001 số lượng tác phẩm văn học nghệ thuật được UBTQ tặng thưởng tăng gần gấp đôi so với hai năm trước (91 tác phẩm). Đoàn Chủ tịch UBTQ và Ban Tổ chức xét tặng thưởng của UBTQ khẳng định các tác phẩm được đề cử lần này (755 tác phẩm, năm 2000: gần 600 tác phẩm) tăng cao chứng minh rõ sự quan trọng của việc tổ chức trại sáng tác cho văn nghệ sĩ.Năm 2001 UBTQ có trao tặng thưởng văn học loại A và tặng thưởng cho tác giả cao tuổi nhưng không có tác giả văn học trẻ nào được tặng thưởng. Tặng thưởng loại C (12 tác phẩm) tăng gấp ba so với năm 1999, trong đó có một tác phẩm phê bình (Đến với văn hóa Đức của Trần Đương). Điểm đáng chú ý là năm 2001, UBTQ trao tặng phẩm đặc biệt cho tập thơ Một thuở xuống đường của Võ Quê. Hoạt động thẩm định tặng thưởng văn học của UBTQ đến đây nhìn chung là vẫn “đi vào những khuynh hướng lớn” và bám sát quan điểm đúng đắn của Đảng, chú trọng đến các đề tài lớn như: lịch sử, cách mạng, kháng chiến, công cuộc xây dựng đất nước.

Năm 2002, có 85 tác phẩm thuộc 9 chuyên ngành được trao thưởng (thấp hơn năm 2001). Tặng thưởng loại A được trao cho tập thơ Mãi mãi ngày đầu tiên của Bế Kiến Quốc. Từ năm 2001 đến năm 2003 số lượng tác phẩm dự thưởng ngày càng giảm dần, từ 755 năm 2001, 672 tác phẩm năm 2002 đến 591 tác phẩm năm 2003. Từ 95 tác phẩm được trao tặng thưởng năm 2001 giảm xuống còn 85 tác phẩm năm 2002, rồi 81 tác phẩm năm 2003. Tặng thưởng cho các tác giả cao tuổi vẫn luôn giữ ở mức cao (14 tác phẩm); Tặng thưởng các tác giả trẻ rất hạn chế (6 tác phẩm);…

Đến năm 2006 Tặng thưởng của UBTQ chính thức được nâng lên thành Giải thưởng. Có 408 tác phẩm thuộc các chuyên ngành dự xét giải, riêng văn học có 161 tác phẩm. Lần đầu trao Giải thưởng hàng năm, không có tác phẩm nào đoạt giải A (thậm chí là giải B) mặc dù trong danh sách có đến 30 tác phẩm văn học được trao giải thưởng. Giải B được trao cho 4 tác phẩm (trong đó có 1 công trình văn học dân gian), giải C có 13 tác phẩm (trong đó có 7 tác phẩm văn học), giải tác giả cao tuổi: 14 tác phẩm (trong đó có 7 tác phẩm văn học), giải tác giả trẻ: 13 tác phẩm (trong đó có 5 tác phẩm văn học); giải khuyến khích: 33 tác phẩm (trong đó có 14 tác phẩm văn học). Theo đánh giá của Ban tổ chức và Hội đồng giải thưởng năm 2006, các tác phẩm được trao giải chủ yếu vẫn “tiếp tục dòng chảy của văn học nghệ thuật truyền thống”, những gương mặt trẻ thiếu những tác phẩm thực sự xuất sắc về tư tưởng và nghệ thuật, còn các tác giả cao tuổi thì vẫn có được những sáng tác độc đáo. Có thể thấy chất lượng các tác phẩm đoạt giải thưởng năm 2006 rất thấp.

Năm 2007, có 315 tác phẩm thuộc 9 chuyên ngành (không có kiến trúc) dự xét giải thưởng, riêng văn học có 133 tác phẩm. Tổng hợp kết quả có 62 tác phẩm đoạt giải thưởng; gồm 2 giải A (không có văn học), 6 giải B (trong đó có 2 tác phẩm văn học), 17 giải Khuyến khích (trong đó có 9 tác phẩm văn học), 12 giải tác giả cao tuổi (trong đó có 6 tác phẩm văn học), 11 giải tác giả trẻ (trong đó có 1 tác phẩm văn học). So với năm 2006, giải thưởng năm 2007 chưa thu hút được nhiều tác giả dự xét giải thưởng. Báo cáo Tổng kết của Ban tổ chức và Hội đồng giải thưởng năm 2007 (Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số 1- 2008) lần đầu tiên công khai thừa nhận chất lượng giải thưởng của UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam (gồm 10 Hội chuyên ngành văn học nghệ thuật trung ương) kém hơn giải thưởng của các Hội chuyên ngành trung ương do mình quản lí: Giải thưởng thường niên của UBTQ là “giải thưởng dành cho hội viên các Hội VHNT địa phương nên không thể đòi hỏi chất lượng giải thưởng phải như hoặc thậm chí là cao hơn giải thưởng của các Hội chuyên ngành trung ương được”. Đây là một nghịch lý.

Nghịch lí bởi vì: 1/ trong số các tác giả có tác phẩm được đề cử xét giải thưởng và được trao giải có nhiều người vừa là hội viên các Hội VHNT trung ương vừa là hội viên các Hội VHNT địa phương; 2/ chất lượng của một giải thưởng văn học không phụ thuộc vào việc tác giả có tác phẩm tham dự đó là hội viên cấp nào; 3/ giải thưởng của các Hội chuyên ngành trung ương như Hội Nhà văn Việt Nam không phải chỉ được trao cho các tác giả là hội viên cấp trung ương, thực tế số lượng các tác giả chưa là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam được trao giải thưởng tính đến năm 2007 không phải là ít; 4/ hằng năm theo Quy chế giải thưởng của UBTQ các Hội văn học nghệ thuật địa phương đều chủ động chọn lựa, giới thiệu các tác phẩm tiêu biểu nhất, nổi trội nhất để dự xét giải thưởng; Hội đồng giải thưởng của UBTQ vẫn luôn khẳng định phương châm xét giải thưởng của UBQT là chú ý đến “chất lượng”, kiên quyết đến mức “những chuyên ngành ít tác giả dự xét giải, và chất lượng không cao thì Hội đồng sẽ không đề nghị trao giải”; 5/ tham gia xét trao giải thưởng của UBTQ, ngoài bước sơ khảo đầu tiên do các Hội VHNT địa phương thực hiện thì có Chủ tịch các Hội chuyên ngành trung ương chủ trì việc xét giải thuộc chuyên ngành mình phụ trách và thành lập Hội đồng giám khảo chuyên ngành để tổ chức chấm giải; riêng chuyên ngành văn học có đến 2 vòng chấm giải: Ban Sơ khảo gồm 10 nhà thơ, nhà văn, nhà lí luận phê bình văn học do Ủy viên thường trực Đoàn Chủ tịch UBTQ làm Trưởng ban; Hội đồng Chung khảo gồm 6 nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học do Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam làm Chủ tịch.

Với một đội ngũ chuyên gia và quy trình xét giải như thế nhưng UBTQ vẫn xác định tinh thần xét trao giải thưởng của mình là: chất lượng không cao hơn, cũng không bằng giải thưởng của các Hội thành viên khác. Có thể nói đấy là một sự thừa nhận thất bại trong công tác thẩm định giải thưởng của một tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp có bề thế và truyền thống hơn 50 năm; sự thất bại nghiêm trọng trong nhiệm vụ định hướng sáng tác, định hướng xây dựng các giá trị văn học nghệ thuật cả nước của một tổ chức văn học chính thống.

Năm 2009, UBTQ “Điều chỉnh một số nội dung Quy chế trao giải thưởng tác phẩm công trình Văn học nghệ thuật và gửi tác phẩm dự xét giải thưởng năm 2009” (Công văn số 931-CV/UB). Có 345 tác phẩm của các tác giả và nhóm tác giả thuộc 41 Hội VHNT tỉnh, thành phố gửi dự xét giải thưởng. 52 tác phẩm của các tác giả, nhóm tác giả thuộc 29 Hội VHNT tỉnh, thành phố đã được trao thưởng: 08 giải B, 12 giải C, 11 giải Khuyến khích, 13 giải tác giả Cao tuổi, 08 giải tác giả Trẻ. Năm 2010 có 415 tác phẩm dự xét thưởng. Kết quả 98 tác phẩm được trao giải thưởng. UBTQ trao 12 giải B, 28 giải C, 29 giải Khuyến khích, 17 giải cho các tác giả cao tuổi (trong đó có 3 tác giả vẳn học), 11 tác giả trẻ (trong đó có 3 tác giả vẳn học). Không có giải A dành cho văn học. Các tác phẩm đoạt giải thưởng năm 2010 tập trung vào đề tài kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, và vẫn theo khuynh hướng truyền thống, ít có sự đổi mới, tìm tòi.

Điểm qua hơn 10 năm một giải thưởng văn học có thể thấy giải thưởng văn học thực ra không đơn giản chỉ là phản ánh hiện tình sáng tác, mà phản ánh cả hiện tình hợp thức hóa các giá trị văn học dưới một chính thể, phản ánh quan điểm, uy tín, trình độ, bản lĩnh, năng lực thẩm định của cả một Hội đồng giải thưởng.

Thu Huệ

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác