Về các mô hình không gian trong truyện cổ tích thần kì

(Toquoc)- I.U. Lotman, nhà nghiên cứu nổi tiếng của chủ nghĩa cấu trúc đã nhấn mạnh rằng “Việc chú ý đến vấn đề không gian nghệ thuật là hệ quả của những quan niệm coi tác phẩm như một không gian hình ảnh được khu biệt, phản ánh trong cái hữu hạn của mình một thế giới vô hạn là không gian bên ngoài tác phẩm” [9, tr.200].

Về các mô hình không gian trong truyện cổ tích thần kì  - ảnh 1Nhận định này có thể nói đã bao quát hết tầm quan trọng của không gian nghệ thuật, một trong những thành tố kiến tạo nên một tác phẩm văn học hoàn chỉnh. Mỗi tác phẩm văn học đều có một không gian đặc thù. Đó là một dạng không gian đã được khu biệt hóa, trong đó chứa đựng mối liên hệ giữa các tính chất của không gian thông thường như cao - thấp, phải - trái, gần - xa, rộng - hẹp… Mặt khác, mỗi phạm trù chứa đựng những đặc tính không gian ấy lại là phương tiện để thể hiện thế giới, trong đó bao hàm cả những giá trị mà bản thân chúng không chứa đựng những tính chất không gian như các khái niệm thuộc về các lĩnh vực như tôn giáo và đạo đức. Truyện cổ tích cũng như vậy, do thừa hưởng lối tư duy nhị phân của con người từ thời viễn cổ, không gian nghệ thuật kéo theo những phạm trù phi không gian trong đó đều tuân theo lôgic nhị phân và được bao bọc trong một mô hình thế giới phân đôi và mô hình tam thế giới, cụ thể như sau:

 

1.Tư duy nhị phân của con người thời cổ - cơ chế sản sinh các mô hình không gian trong truyện cổ tích

Truyện cổ tích là một trong những thể loại cổ xưa nhất trong các thể loại tự sự dân gian, là một trong những hình mẫu cổ điển của Folklore. Các nhà khoa học như M.E.Melintinxky, K.X.Dovletov, hay V.IA.Propp đều đã chứng minh truyện cổ tích ra đời như một thể loại cơ bản vào thời kỳ tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy. Tuy nhiên, họ cũng khám phá ra rằng bản thân nó đã được hoài thai từ thời kỳ tiền giai cấp, khi tư duy con người vẫn còn tồn tại trong “tiền logic”. Dẫu là thể loại có mặt từ rất sớm nhưng truyện cổ tích vẫn là thể loại có nguồn gốc và thoát thai từ thần thoại, một thứ thần thoại đã được “giải thiêng” và “thế tục hóa”, một “mảnh vỡ” của thần thoại. Chính vì lẽ đó mà dẫu đã tạo dựng được cho mình một sự tồn tại đẳng lập qua một diện mạo nghệ thuật có những cấu tạo riêng biệt, nhưng truyện cổ tích vẫn kế thừa một cách tích cực thế giới quan của thần thoại. Thế giới quan ấy được thể hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong các câu chuyện cổ. Do vậy, để hiểu được bản chất sâu xa của các mô hình không gian nghệ thuật và sự dịch chuyển của nhân vật giữa các dạng thức không gian đó chúng ta cần có cái nhìn thấu đáo hơn về tư duy của con người thời cổ, về cội rễ phát sinh thế giới quan và các loại hình không gian trong truyện cổ tích thần kỳ.

Trong công trình nổi tiếng Hình thái học của nghệ thuật, nhà nghiên cứu C.Macgan có những nghiên cứu sâu sắc về tính hỗn đồng của tư duy người nguyên thủy. Ông cho rằng: “Tình trạng con người chưa tách mình ra khỏi tự nhiên, việc con người tinh thần hóa tự nhiên, cấp cho nó hình dáng người, tình trạng thiếu ranh giới giữa cái hiện thực và cái quái đản - đó là những đặc điểm của cấu trúc nhận thức nguyên thủy, chỉ có thể thể hiện thích hợp trong hình tượng nghệ thuật mà thôi” [4, tr.254].

Do đó theo ông, chuyện kể về những truyền thuyết cổ xưa nhất chẳng qua là những huyền thoại, tức là lời tự sự quái đản về cuộc sống của thiên nhiên, nguồn gốc của con người, những quan hệ của con người với động vật, cây cỏ. Và điều quan trọng hơn cả là các yếu tố tự nhiên và những bài tự sự này đối với những người tạo tác ra nó hoàn toàn “không phải là hư cấu nghệ thuật, mà là miêu tả những điều thực tế đã diễn ra và đang diễn ra” [4, tr.251].

Không chỉ riêng C.Macgan, những nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng khác như E.B.Taylo, nhà xã hội học Levy Bruhl, nhà nhân học trứ danh Jame Frazer… đều đi đến kết luận: Đặc điểm nổi bật nhất của tư duy con người thời cổ chính là kết quả của việc, một mặt chưa tách mình ra khỏi thế giới tự nhiên, mặt khác con người, một cách cố tình, gán cho môi trường tự nhiên những thuộc tính của bản thân mình, gán cho nó sự sống, khát vọng, diện mạo và đặc biệt là cơ cấu tổ chức xã hội của chính con người. Đấy là lý do cho sự ra đời của tín ngưỡng vật linh, các thuyết về vật tổ, ma thuật vi lượng, hay quan niệm về “sự tham dự thần bí” của các thế lực thần thánh trong đời sống thường nhật của con người.

Levi-Strauss, nhà khoa học khởi xướng trường phái nhân loại học cấu trúc lại kiến giải về khả năng tư duy của người nguyên thủy theo một hướng khác. Ông cho rằng con người ở các dân tộc thời cổ cũng có khả năng tư duy logic và tư duy đó không phải là kém phát triển: “Họ nhận xét thế giới trước hết bằng các cặp đối lập mà cơ bản nhất là hai cặp Trời / Đất và Đực / Cái. Hai cặp này cũng lồng vào nhau như Trời / Đất // Đực / Cái. Những bản phối hợp của chúng có thể biến thành nhiều “bản hòa tấu” trong thế giới của những ký hiệu, tượng trưng và thần thoại. Từ tư duy cặp đối lập, họ tìm ra yếu tố trung gian xen vào giữa, yếu tố có sứ mạng hòa giải tạo nên sự cân bằng. Nhiều nghi lễ, tập tục, thần thoại được tạo ra là để cụ tượng hóa yếu tố trung gian này. Chúng vừa là văn hóa nghệ thuật, vừa là công cụ giải thích thế giới, vừa có chức năng nghệ thuật, vừa có chức năng tôn giáo” [9, tr.28].

Melintinsky cũng đồng ý với quan điểm này và trong khi phân tích một cách khoa học bước đường chuyển hóa tư duy và nhận thức của con người thời cổ từ thần thoại sang cổ tích, đến sử thi anh hùng ông gọi đó chính là lối tư duy nhị phân và logic nhị phân của con người thời cổ. “Logic huyền thoại sử dụng rộng rãi các cặp đối lập nhị phân (cặp đôi) những phẩm chất cảm xúc, đồng thời nó khắc phục tính “liên tục” của tri giác về thế giới xung quanh bằng cách tách các khuôn hình riêng rẽ có dấu hiệu mâu thuẫn” [6, tr.219].

Nhìn vào hệ thống truyện thần thoại chúng ta có thể dễ dàng khám phá ra lối tư duy nhị phân này đã chi phối đến thế giới quan của nó rõ rệt như thế nào. Và nếu như truyện cổ tích thoát thai từ thần thoại, là một mảnh vỡ của thần thoại thì phương diện cơ bản nhất của thần thoại còn được bảo lưu một cách độc đáo trong truyện cổ tích đó chính là lối tư duy nhị phân. Nó đã chuyển hóa và in dấu ấn rất đậm vào trong các motif của truyện kể dân gian. Nhìn vào bảng tra motif của S.Thompson, riêng phần “Hành trình đến thế giới khác”, chúng ta có thể thấy thường xuyên xuất hiện các motif thể hiện sự phân đôi của các sự vật hiện tượng theo logic nhị phân này. Chẳng hạn như: “Lên trời bằng cừu trắng, xuống địa ngục bằng cừu đen” (F69), “Phân chia giới tính trong thế giới khác” (F.112.0.2), “Hành trình đến vùng đất của những người khổng lồ và những người tí hon” (F.123), “Mùa hè ở thế giới khác trong khi ở thế giới người chết đang là mùa đông” (F.161.1.1), “Đồ vật có phẩm chất trái ngược nhau được tìm thấy trong khu vườn ở thế giới khác” (F.162.1.2.), “Vòi nước đắng và ngọt trong khu vườn ở thế giới khác” (F.162.1.2.1), “Nước sôi và nước lạnh trong khu vườn ở thế giới khác” (F.162.1.2.2), “Đồ vật ở phía này thì màu trắng, phía kia thì màu đen trong khu vườn ở thế giới khác” (F.162.1.2.3), “Cây một nửa đang xanh, một nửa đang cháy trong khu vườn ở thế giới khác” (F.162.1.2.4), “Cây tri thức cho thiện và ác trong thế giới khác” (F.162.3.5)…

Lối tư duy nhị phân này của người nguyên thủy chính là nguyên nhân sâu xa, là cơ chế sản sinh ra các mô hình không gian trong truyện cổ tích.

 

2. Mô hình thế giới phân đôi

Như đã nói, Levi.Strauss đã rất chú tâm đến nguyên tắc nhị phân của con người thời cổ. Chứng minh rằng người nguyên thủy tư duy theo từng cặp đối lập và đồng thời đưa ra những kiến giải cho rằng logic nhị phân là công cụ chính yếu của phương pháp huyền thoại hóa. Ông nói người nguyên thủy phân thế giới thành Trời và Đất, Đực và Cái. Trời và Đất, Đực và Cái lại tiếp tục hình thành nên một cặp đối lập. Từ những bản phối hợp này có thể biến thành nhiều “bản hòa tấu” khác nhau. Tương tự, chúng ta có thể tìm thấy trong truyện cổ tích hàng trăm những cặp không gian đối lập, phân đôi như vậy. Ví dụ: không gian tĩnh và động, không gian kết nối và đứt quãng, không gian xa và gần, không gian chật và rộng, không gian tối và sáng…

Tất cả các cặp đối lập trong không gian cổ tích ấy đều chứa đựng những nội hàm tư tưởng và đạo đức. Nhân vật trong truyện cổ tích thường bị phân hóa chức năng theo các loại hình không gian ấy. Chẳng hạn nhân vật cổ tích sống trong không gian tĩnh là ngôi làng của mình. Khi bị xua đuổi, lập tức anh ta bị đẩy vào một không gian động đó là khu rừng. Chỉ những chuyện ly kỳ và rùng rợn mới xảy ra trong khu rừng, chỉ có ở trong khu rừng, nhân vật cổ tích mới bị buộc phải chiến đấu và vượt thoát khỏi các cạm bẫy. Những con quỷ, những mụ phù thủy ăn thịt người lại chỉ sống trong không gian của khu rừng, chúng không được xâm nhập vào ngôi làng. Cấu trúc văn bản của một câu chuyện cổ tích bị phân đôi và như thế kéo theo sự phân đôi của mô hình không gian được khu biệt hóa ở trong đó. Từ sự phân đôi trong mô hình không gian, như đã nói, các phạm trù phi không gian trong đó cũng sẽ phân hóa tương tự. Truyện cổ tích vì vậy luôn chứa đựng sự phân đôi trong các phạm trù đạo đức, tôn giáo… Đó là sự đối lập giữa thiện và ác, tốt và xấu, cao cả và thấp hèn, thiêng liêng và phàm tục, giàu và nghèo, cai trị và bị trị, thông minh và ngu ngốc… Cũng với nguyên lý như thế mô hình chu kỳ thời gian trong chính các xã hội cổ xưa cũng phụ thuộc vào mô hình phân đôi. Nó là sự đối lập giữa thời gian thần thánh và thời gian phàm tục, là “trước đây và bây giờ, là quá khứ và hiện tại...” Ở đây sự phân đôi không chỉ được hiểu theo nghĩa đơn thuần mà là sự phân đôi theo hình thức đối lập đẳng cấp.

Dĩ nhiên, nếu cho rằng sự phân đôi trong không gian cổ tích chỉ hoàn toàn xuất phát từ tư duy nhị phân của con người thời cổ có lẽ là chưa đầy đủ. Nguyên nhân là truyện cổ tích có thể thoát thai từ thần thoại, nhưng hơn hết, nó là một thể loại độc lập. Và khác với thần thoại, sự tạo tác ra truyện cổ tích đã có sự tham gia của các thủ pháp nghệ thuật có ý thức. Xuất phát điểm là từ tư duy và logic nhị phân của con người thời cổ, đến truyện cổ tích việc phân đôi mô hình thế giới đã trở thành một trong những thủ pháp có tính chất nguyên tắc trong quá trình nghệ nhân sáng tạo nên một câu chuyện. Axel Olriki trong bài nghiên cứu Những quy tắc mang tính sử thi của truyện kể dân gian đã chứng minh truyện kể dân gian về mặt hình thức bị ràng buộc cao hơn hẳn những gì mà chúng ta vẫn hằng nghĩ. Ông gọi những quy tắc về mặt hình thức đó là những quy tắc sáng tác và tổng kết thành các loại sau: quy tắc về sự mở đầu và sự kết thúc, quy tắc về sự lặp lại, quy tắc về con số ba, quy tắc hoạt cảnh hai người, quy tắc về cặp song sinh, quy tắc về vai trò cuối tầu, quy tắc một sợi chỉ hành động, sự mô hình hóa nghệ thuật tạo hình, tính logic của truyện kể dân gian, tính thống nhất của hành động (tính thống nhất có tính chất hành động và tính thống nhất có tính chất lý tưởng), sự tập trung vào nhân vật chính (kể cả sự tập trung thật sự lẫn sự tập trung chỉ có tính chất hình thức trong một vài trường hợp) và đặc biệt quan trọng là “quy tắc về các cặp đối lập” [72, tr.254]. Vì vậy, bên cạnh không gian cung điện sẽ là không gian làng quê, một người anh sống trong cảnh nhung lụa sẽ là người em cô độc nghèo nàn sống trong một góc vườn hay trên một chiếc thuyền chài. Một cô chị chăm ngoan, xinh đẹp, làm lụng vất vả sẽ xuất hiện bên cạnh một cô em xấu xí và biếng lười…

Cũng theo hướng nghiên cứu cấu trúc văn bản, từ kết quả nghiên cứu hình thái học truyện cổ tích của Propp, A.J. Greimas trong công trình Ngữ nghĩa học cấu trúc đã quy bảy vai trò thành ba cặp đối lập bao gồm: Chủ thể / Khách thể, Người cho / Kẻ nhận, Người giúp / Kẻ hại. Mô hình này chứa đúng sáu vai tính cách hay nhân vật hành động với tư cách là những phạm trù khái quát làm cơ sở cho các truyện kể. Sáu vai tính cách này hình thành từng cặp đôi một trong quan hệ đối lập, phân đôi và được sơ đồ hóa như sau:

Mô hình tinh giản mà Greimas đưa ra này cũng chính là một minh chứng quan trong cho việc phân đôi mô hình thế giới trong truyện cổ tích.

Tất cả những điều này đã góp phần khẳng định thế giới trong truyện cổ tích đã được tổ chức theo thể thức phân đôi. Và sự phân đôi trong các phạm trù không gian đã kéo theo sự phân chia tương tự ở các phạm trù phi không gian xung quanh nó.

 

3. Mô hình ba thế giới

Xuất phát từ lối tư duy và lôgic nhị phân, từ những ý niệm triết học về nhân sinh và vũ trụ từ thời xa xưa, người nguyên thủy hình dung thế giới theo mô hình thế giới phân đôi, theo quan hệ đối lập tầng bậc. Từ mô hình thế giới phân đôi ấy, người nguyên thủy bắt đầu hình dung những yếu tố đóng vai trò trung gian để kết nối các cặp đối lập. Mô hình thế giới theo trục dọc và phân chia thành ba lớp không gian hình thành từ đó. Như thế, mô hình ba lớp không gian ấy chính là hệ quả trực tiếp của mô hình thế giới phân đôi. Hay nói cách khác, việc phân chia vũ trụ theo trời và đất, trên và dưới theo nguyên tắc nhị phân đã tạo thành những nhân tố quan trọng để định tính phân biệt về bản chất vũ trụ theo chiều dọc. Chính loại mô hình này đã khiến cho không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích trở nên vô cùng độc đáo và phân biệt nó với các loại hình không gian nghệ thuật của các thể loại khác. Chúng ta gọi đó là mô hình tam thế giới. Thế giới trên cao (thiên đường, những hành tinh xa xôi, mặt trăng, mặt trời và các vì tình tú), thế giới trên mặt đất (bao gồm cả những thế giới khác cùng tồn tại trên mặt đất), và thế giới dưới mặt đất (âm ty, địa phủ và thế giới thủy cung).

Melintinxki đã khẳng định rằng “cách phân chia tam giới như vậy là kết quả của cặp đối lập cặp đôi “trên/dưới”, tiếp đó là kết quả của những đặc tính khác biệt giữa âm giới như là nơi trú ngụ của ma quỷ và thượng giới như là nơi sinh sống của các vị thần và sau đó là những người “được tuyển chọn” sau khi chết” [6, tr.285]. Như vậy, về nguyên tắc, lôgic nhị phân cũng gắn liền với việc phân chia thế giới theo nguyên tắc tam phân thành thiên giới, địa giới và âm giới (bao gồm cả thủy giới). S. Thompson trong Folktale đã nhận xét về mô hình các thế giới này như sau:

Về các mô hình không gian trong truyện cổ tích thần kì  - ảnh 2
“Nếu ta xem xét đến những nguồn gốc đa hình thức của truyện cổ tích châu Á và châu Âu, những hình thức có từ thời tiền sử, những truyện cổ tích phương Đông với sự phản ánh những niềm tin tôn giáo cổ xưa, những câu chuyện huyền thoại của người Celt và người Norse, những truyền thuyết của nhà thờ trung cổ, ta không ngạc nhiên khi nhận ra rằng đã tồn tại một cách mãnh liệt những niềm tin vào thế giới khác không phải là thế giới ta đang sống”. Ông cũng khẳng định trong phần lớn các truyện cổ tích châu Âu ta thấy có một niềm tin về sự tồn tại của ba thế giới:“trái đất, nơi chúng ta đang sống một cách bình thường; thế giới ở trên cao, hay thiên đường nơi những điều huyền bí có thể xảy ra; và cuối cùng là thế giới ở dưới thấp” [12, tr.56].

Trong truyện cổ tích khoảng cách giữa các thế giới này rất đặc biệt. Đôi khi thế giới ở trên cao và dưới thấp không cách xa nhau. Một cái cây có thể mọc vươn cao lên thiên đường chỉ sau một đêm, và một sợi dây lại có thể đủ để có thể leo xuống dưới địa ngục. Nhân vật có thể lên trời bằng chiếc cầu được làm bằng ánh nắng bình minh hay xuống thăm thế giới ở địa ngục thông qua một cái lỗ được tạo ra bằng cách nhổ một nhúm cỏ…

Giữa các thế giới này luôn tồn tại những yếu tố đóng vai trò trung gian kết nối. Thông thường, các dân tộc từ thời thượng cổ hay hình dung sự kết nối giữa ba thế giới này chính là một cái cây vũ trụ. Đây là sự hình dung mang tính phổ biến hơn cả. Cây vũ trụ này mang trên mình nó những sinh vật khác nhau như trên ngọn cây là chim đại bàng, dưới ngọn cây là những con mãng xà. Chúng đóng vai trò là những bậc thang của vũ trụ, là những khâu trung gian nối liền ba thế giới. Nhà nghiên cứu V.N.Toporov đã nghiên cứu kỹ lưỡng về biểu tượng cây vũ trụ này và cho đó là một mô hình lý tưởng của quá trình chuyển động theo chiều dọc.

Ngoài biểu tượng về cây vũ trụ ra, sự kết nối với thế giới trên cao còn được hình dung qua các biểu tượng như ngọn núi, dòng sông phù thủy (về mặt chức năng hoàn toàn giống với cây vũ trụ), còn lối xuống địa ngục thường là phiến đá mở, bóng tối hay nấm mồ người chết…

Như vậy, có thể thấy mô hình tam thế giới trong truyện cổ tích chính là cơ sở vô cùng quan trọng để từ đó lý giải cho việc các nhân vật có thể dịch chuyển một cách vô cùng “tự do” trong các loại không gian không đồng chất. Là nguyên nhân tạo nên sự kỳ ảo và thần tiên của các câu chuyện cổ. Ngoài ra, việc hình thành một cách rất độc đáo các mô hình không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích trên một số phương diện căn bản đã khẳng định những ý niệm rất thống nhất của người xưa về phạm trù không gian. Nó đồng thời còn là sự thể hiện những thủ pháp nghệ thuật mang tính chất nguyên tắc trong truyện cổ.

Dựa trên những vấn đề đã phân tích chúng tôi tiến hành lập sơ đồ về các mô hình không gian trong cổ tích trên cơ sở của lối tư duy nhị phân của con người thời cổ như sau:

Về các mô hình không gian trong truyện cổ tích thần kì  - ảnh 3
(Các mô hình thế giới trong truyện cổ tích thần kỳ)

Như vậy, với lối tư duy nhị phân vốn tồn tại từ trong thần thoại, truyện cổ tích đã tiếp thu nó và các mô hình thế giới của người nguyên thủy một cách chọn lọc, đồng thời cộng sinh thêm nhiều yếu tố thuộc về ý thức tạo tác nghệ thuật. Lối tư duy và sự hình dung các mô hình thế giới này trong cổ tích chính là lời giải đáp cho sự tương đồng về mặt cốt truyện của các câu chuyện kể dân gian trên toàn thế giới. Khi chúng ta đi từ lục địa này sang lục địa khác sẽ thấy được sự đa dạng đến không ngờ của truyện cổ tích. Thoạt tiên, có vẻ như sự đa dạng này rất là đầy biến ảo và bất quy tắc. Tuy nhiên, chỉ cần một chút lưu ý cẩn trọng thì có thể nhận ra rằng, cũng giống như những thành tố khác của văn hóa loài người, chuyện cổ tích không đơn thuần là những sáng tạo của sự tình cờ. Chúng tuân theo một số nguyên tắc nhất định và các nguyên tắc ấy đều xuất phát từ lối tư duy nhị phân và các mô hình thế giới mà người xưa quan niệm và chuyển hóa vào trong truyện cổ tích.

Nguyễn Thị Kim Ngân

 

Tóm tắt Tiếng Việt

Khác với tư duy của con người hiện đại, tâm thức của người nguyên thủy không hề có sự phân biệt giữa thế giới siêu nhiên, vô hình với thế giới hữu hình, tự nhiên. Những thần thoại đối với người sáng tạo ra nó không phải là hư cấu nghệ thuật, mà là miêu tả những điều thực tế đã và đang diễn ra. Truyện cổ tích là một “mãnh vỡ” của thần thoại, nó kế thừa một cách tích cực thế giới quan thần thoại, đặc biệt là lối tư duy nhị phân và sự tri giác các mô hình thế giới của người nguyên thủy. Thừa hưởng những điều đó, kết hợp với những yêu cầu có tính nguyên tắc về mặt nghệ thuật, không gian trong truyện cổ tích kéo theo những phạm trù phi không gian trong đó đều tuân theo logic nhị phân. Các mô hình thế giới trong truyện cổ tích cũng được xây dựng theo kiểu phân đôi hoặc kiểu mô hình ba tầng thế giới.

Tóm tắt tiếng Anh

Unlike us, premitive people didnot differentiate the two worlds: invisible metaphysical world and visible physical one. For them, myth isnot a fiction work, it is reality. Since folktale is a “segment” of mythology, it possitively inherited the perspectives on the world of mythology, particulary the binary principle of premitive people. All of these characteristics, when being  intergrated with some art principles, will contribute to the creation of an art space  which is strongly effected by binary principle. Imagining worlds in folktale are also based on the binary principle and three-world perspective.

 

------------

Tài liệu tham khảo:

Tiếng Việt

A.J.A.Gurevich (1996). Các phạm trù văn hóa trung cổ, NXB. Giáo dục

Lesvi Bruhl - Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy NXB Thế giới, 2008

Jean Chevalier, Alain Gheerbrant - “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, NXB Đà Nẵng, 2002

M. Cagan- “Hình thái học của nghệ thuật” (Phan Ngọc dịch), NXB Hội Nhà văn, 2004.

V.Guxep - “Mỹ học Folklore”, NXB Đà Nẵng, 1995

E.M.Meletinsky -  “Thi pháp của huyền thoại”, NXB ĐHQGHN, 2005

E.M.Meletinsky -  “Nhân vật trong truyện cổ tích hoang đường, xuất xứ của hình tượng”, NXB Văn hoá phương Đông, 1958

Jame Frazer - “Cành vàng-bách khoa thư về văn hóa nguyên thủy”, NXB Lao động , 2007

“Tuyển tập V.IA.PROPP”, NXBVHDT, 2003

Trịnh Bá Đĩnh -  “ Chủ nghĩa cấu trúc và văn học”,  NXB Văn hóa, Hà Nội, 2002

Nguyễn Đổng Chi - “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”, T 1, 2, 3, 4, 5, NXB Giáo dục, 2001.

Tiếng Anh:

S. Thompson -“Folktale”, The Dryden press, 1946, New York

S. Thompson- “Motif- index of Folk- Literature, A Classification of Narrative Elements in Folk- Tale, Ballads, Myths, Fables, Medieval, Romances, Exempla, Local Legends” Indiana University Press, 1955-1958
Jane Garry and Hasan El-Shamy - “Archetypes and motifs in folklore and literature : a handbook”, M.E. Sharpe, New York.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác