Văn xuôi về dân tộc và miền núi từ 1986 đến nay

Ngoài một số truyện đường rừng ra đời trước 1945, đề tài dân tộc và miền núi trong văn xuôi Việt Nam hiện đại được hình thành, phát triển chủ yếu từ sau Cách mạng tháng Tám. Đây là một đề tài văn học lớn, từng đem lại những tác phẩm đứng ở vị trí hàng đầu trong nền văn học cách mạng. Đây cũng là một khu vực văn học đặc biệt bởi có sự tham gia của cả người Kinh và người dân tộc thiểu số trong đội ngũ sáng tác.

Đáng chú ý là, trong khi văn học miền xuôi và đô thị đang phát triển khá phong phú cùng xu hướng đô thị hoá của không ít cây bút trẻ, nhiều tác phẩm văn xuôi giành được giải thưởng văn học cao trong nước và quốc tế những năm gần đây lại là các tác phẩm viết về miền núi (1). Điều đó cho thấy mảng đề tài vốn bình dị, có mối liên hệ bền chặt với truyền thống này vẫn thể hiện sức sống, bản lĩnh riêng của nó.

Từ 1986, đời sống văn nghệ cởi mở hơn và công cuộc đổi mới từng bước đem lại những chuyển biến ở địa bàn miền núi đã tạo cơ sở cho bộ phận văn học viết về khu vực này phát triển với những đặc điểm mới so với các giai đoạn trước. Bài viết này xin góp một cái nhìn tổng quan về văn xuôi dân tộc và miền núi thời kì đổi mới với những nét cơ bản nhất mang tính chất nhận diện.

1. Nét mới của văn xuôi miền núi đương đại là sự mở rộng đề tài, chủ đề, tuy chưa thực phong phú. Một số tiểu thuyết trở lại khai thác hiện thực miền núi những năm đầu Cách mạng với cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân các dân tộc như Nhớ Mai Châu (sau đổi thành Đà Bắc, Mai Châu ngày ấy) (1987) của Tô Hoài, Chuyện trên bờ sông Hinh (1994) của Y Điêng, Gió Mù Căng (1995) của Hà Lâm Kỳ, Ba ông đầu rau (1999) của Hà Đức Toàn, Trên đỉnh đèo giông bão (2004) của Đoàn Hữu Nam, hay đi vào hiện thực những năm chống Mĩ như Lạc rừng (1999) của Trung Trung Đỉnh. Nhìn chung các tác phẩm tìm cảm hứng ở quá khứ này đều xoay quanh những vấn đề phổ quát của chiến tranh, cách mạng: sức sống và bản lĩnh của dân tộc, tình đoàn kết và tinh thần cộng đồng, con đường thu phục lòng dân và cảm hoá tầng lớp lang đạo ở miền núi… Trong Nhớ Mai Châu, Lạc rừng, Trên đỉnh đèo giông bão, chất sử thi đã nhạt, nhưng những tiểu thuyết này vẫn chưa có dấu hiệu phản sử thi hay thể hiện nhu cầu nhận thức lại quá khứ một cách rõ rệt theo kiểu Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Bên cạnh đề tài chiến tranh cách mạng, nhiều tác phẩm hướng về công cuộc xây dựng đời sống, phát triển kinh tế ở miền núi như các tiểu thuyết Mũi tên ám khói (1991), Gió hoang (1992) của Ma Trường Nguyên, tập bút kí Cao nguyên trắng (1992) của Mã A Lềnh và các tập truyện ngắn Vùng đồi gió quẩn (1995), Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (2005) của Sa Phong Ba. Ngoài hai mảng đề tài quen thuộc này, nhờ sự dân chủ hoá của văn học đổi mới, các phạm vi hiện thực được mở ra rộng rãi hơn. Những mặt trái, những mảng tối văn học trước đây từng né tránh được phơi bày. Dồn dập trong nửa đầu thập kỉ 90, các tiểu thuyết Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Vào hang (1990), Chồng thật vợ giả (1994)… của Vi Hồng được dư luận quan tâm bởi những vấn đề có tính thời sự. Các tác phẩm này đề cập tới sai lầm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, sự ấu trĩ của việc ngăn cấm làm giàu cá nhân và gióng hồi chuông cảnh báo về sự hoành hành ghê gớm của cái ác. Tái hiện chân thực một thời bao cấp, tiểu thuyết Xứ mưa (2000) của Hoàng Thế Sinh phơi bày thảm trạng đói nghèo, nhem nhuốc, túng quẫn của công chức Nhà nước, thân phận bọt bèo vô nghĩa của giáo viên cùng sự hoang mang, đổ vỡ niềm tin của giới trí thức trước sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Bi kịch từ cái nghèo, cái ác làm bùng phát khát vọng làm giàu và đổi đời trong cuộc kiếm tìm đá đỏ và vàng ở miền núi cũng là đề tài cho nhiều tác phẩm của nhà văn này. Mạnh mẽ, táo bạo và bi phẫn, tiểu thuyết Đàn trời (2006) của Cao Duy Sơn công khai hé mở thực trạng về sự nghèo đói truyền kiếp của người dân vùng cao, vạch trần thói mị dân, sự sa đoạ cùng hành vi đen tối của quan tham cao cấp thời đại mới. Cùng sự hiện hữu của cái nghèo, cái ác, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với vùng cao là vấn đề được nhiều tác phẩm quan tâm. Sự xâm thực của thương trường phá vỡ trật tự rừng xanh, lối sống thực dụng làm nứt rạn nếp nghĩ truyền thống, cái xấu xa phi pháp khuấy đảo sự thanh bình của làng bản... đó là những dấu hiệu băn khoăn lo ngại trước sự biến chuyển của miền núi đương đại, thể hiện trong một số truyện ngắn như Làng Mô của Thu Loan, Giữa cơn mưa trắng xoá của Niê Thanh Mai, Lửa cháy trong rừng hoang của Sương Nguyệt Minh, Ngoài cửa trời chưa sáng và các truyện ngắn khác của Đỗ Bích Thúy. Đáng chú ý là ngoài những vấn đề mang tính xã hội, một số tác phẩm đã đi vào các khía cạnh của đời tư con người. Có thể kể đến tập truyện Số phận đàn bà (1990) của Hoàng Thị Cành với những thân phận đàn bà nhỏ nhoi, yếm thế hoặc gặp trắc trở, bất hạnh trong hôn nhân; tập truyện Tiếng chim kỷ giàng (2004) của Bùi Thị Như Lan với những mảnh đời phụ nữ bị trói buộc bởi lương tâm và bổn phận, hi sinh hạnh phúc riêng vì người khác. Vốn nhạt nhoà trong văn xuôi cách mạng, chuyện tình yêu gặp luồng gió đổi mới đã bừng nở trong không ít truyện ngắn, tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, Hà Lý, Hoàng Thế Sinh. Việc khai thác vấn đề số phận cá nhân đã làm giàu thêm chất văn xuôi, chất tiểu thuyết cho các tác phẩm và nêu cao tinh thần nhân văn, nhân bản đang là xu thế chung của văn học đổi mới.

2. Nét mới thứ hai của văn xuôi miền núi từ 1986 đến nay là sự ra đời của những tác phẩm có dấu hiệu mới trong cách nhìn và tư duy nghệ thuật. Được khai sinh cùng công cuộc đổi mới, hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp “hai lần lạ: nội dung lạ, nghệ thuật lạ” (Phạm Xuân Nguyên). Các truyện về miền núi của ông như Những ngọn gió Hua Tát, Muối của rừng, Những người thợ xẻ, Truyện tình kể trong đêm mưa, Sống dễ lắm, Thổ cẩm, Những người muôn năm cũ cũng như các truyện ở đề tài khác ít nhiều mang sắc thái hậu hiện đại, chất folklore hiện đại và đậm tư duy tiểu thuyết, với cái nhìn sâu vào mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Ngoài các tập Vệ sĩ của quan châu (1988), Móng vuốt thời gian (2003) góp phần làm mới truyện ngắn Việt Nam ở nhiều yếu tố, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (1999) cũng là một trong bộ ba tiểu thuyết kết tinh thành tựu của Ma Văn Kháng về đề tài dân tộc và miền núi, đã thể hiện "một bước tiến dài về tư duy tiểu thuyết" của nhà văn (Nguyễn Ngọc Thiện). Điều đáng chú ý là sự đổi mới tư duy nghệ thuật không chỉ bộc lộ ở các nhà văn người Kinh. Là tác phẩm văn xuôi dân tộc thiểu số đầu tiên thể hiện rõ ý thức soi chiếu nhân vật ở góc độ đời tư với ngôn ngữ đậm chất văn xuôi, tiểu thuyết Người lang thang (1992) của Cao Duy Sơn khi ra đời đã được đánh giá là “có những dấu hiệu mới” (Nguyên Ngọc), "thể hiện rõ dấu hiệu của một tiểu thuyết hiện đại" (Lâm Tiến). Qua việc xây dựng những nhân vật luôn có sự chuyển hoá giữa các cực đối lập, tuy còn khiên cưỡng, tiểu thuyết Dặm ngàn rong ruổi (2000) của Triều Ân đã thể hiện nét tích cực ở cái nhìn con người trong quan điểm phát triển, như một sự phủ nhận cái nhìn tĩnh tại, một chiều thường thấy trong văn xuôi miền núi. Tiểu thuyết Dòng đời (2007) của Hữu Tiến có hướng đi khác mọi tác phẩm văn xuôi miền núi xưa nay viết về số phận con người trước và sau Cách mạng; kết thúc truyện, Cách mạng thành công nhưng các nhân vật không có sự đổi đời mà đi vào bế tắc, ngõ cụt và cái chết bởi sự xô đẩy của định kiến và cái xấu cái ác muôn đời. Với những nhân vật không có quá trình cách mạng hoá này, Dòng đời mang đậm cái nhìn đời tư - thế sự, hoàn toàn xa lạ với cách nhìn hiện thực và con người theo quan niệm sử thi trước đây. Trong tiểu thuyết này và tập truyện ngắn Cô gái nhặt bông gạo (2004) của Hữu Tiến, tính cách nhân vật khá rõ nét và bước đầu có xu hướng đa diện, phức tạp.

3. Nét mới thứ ba của văn xuôi miền núi thời kì đổi mới là sự phát triển về đội ngũ tác giả. Những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, sau nhiều năm thiếu vắng người viết, ở một số vùng miền đã xuất hiện những cây bút mới. Ở Tây Nguyên trước kia chỉ có Y Điêng, nay có Hlinh Niê (tức Linh Nga Niê Kđăm, người Êđê) với tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997) và tập kí Trăng Xí Thoại (1999), Kim Nhất (người Bahnar) với các tập truyện Động rừng (1999), Hồn ma núi (2002) và Niê Thanh Mai (người Êđê) với tập truyện Về bên kia núi (2007). Kí của Hlinh Niê sắc sảo, tâm huyết, đào sâu vào các mặt đời sống của các dân tộc Tây Nguyên làm rạng lên những nét riêng độc đáo trong lễ hội, nhà cửa, folklore, thổ cẩm... đậm bản sắc; chỉ ra cái xấu chưa lụi tàn, cái tốt đang khởi sắc và cả cái đẹp đang mai một. Nhiều bài kí của nữ nhà văn - nhạc sĩ này là những thông điệp SOS trước hiện tượng mất mát từng ngày của văn hoá truyền thống ở Tây Nguyên. Kim Nhất lại là nhà văn đi tiên phong trong việc chỉ ra thực trạng về sự mông muội, mê tín dị đoan nặng nề bị kẻ ác lợi dụng và tố cáo những luật tục vô nhân đạo còn tồn tại ở Tây Nguyên đang bắt đầu bị lớp trẻ chống đối. Truyện ngắn Niê Thanh Mai phản ánh tâm trạng của lớp trẻ Tây Nguyên trước sự tác động của văn minh đô thị, trong đó xu hướng từ bỏ buôn làng nghèo khó thân thuộc đi về phía phồn hoa diễn ra với bao nỗi băn khoăn, day dứt, chạnh buồn. Phố phường không phải miền đất hứa - đó là thông điệp trong các truyện của nữ nhà văn trẻ - nơi đó luôn tiềm ẩn những bất an đối với cuộc sống và nhân cách con người. Ở phía Nam, lần đầu tiên có sự xuất hiện tác phẩm văn xuôi của một số dân tộc như truyện kí Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh (1994) của Lý Lan (người Hoa), tiểu thuyết Chân dung cát (2006) của Inrasara (nhà thơ dân tộc Chăm), tập truyện ngắn Chăm Hri (2008) của Trà Vigia (người Chăm). Chân dung cát được viết theo lối hậu hiện đại, “cắt dán” những mảnh văn bản rời lại với nhau, sử dụng giọng điệu giễu nhại, bỡn cợt. Về cơ bản, đó là bản phác thảo diện mạo tinh thần dân tộc Chăm qua một tập hợp chân dung hoạt kê những trí thức bình dân Chăm nhiều khát vọng nhưng không tưởng và bế tắc, giữa một đời sống còn lạc hậu và một nền văn hoá từng huy hoàng nay đã chìm khuất.

Ở khu vực miền Trung, một số cây bút đại diện cho dân tộc mình cũng xuất hiện. Đó là các cây bút dân tộc Thái ở Nghệ An như La Quán Miên với tập truyện Hai người trở về bản (1996), Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003) và Lang Quốc Khánh với tập kí Những miền thương nhớ (2005). Truyện của La Quán Miên đặt ra vấn đề nhân quả, báo ứng từ sự phá vỡ cân bằng trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, phát hiện cái bí ẩn thuộc về đời sống tâm linh ở miền núi. Tôn trọng cõi tự nhiên linh thiêng, bảo tồn động vật hoang dã, đó là thông điệp mà nhà văn đề xuất. Khu vực miền Trung còn có các cây bút dân tộc Mường ở Thanh Hóa là Hà Thị Cẩm Anh và Bùi Nhị Lê. Qua tập truyện Nước mắt của đá (2005), Hà Thị Cẩm Anh thể hiện sự cảm thông với những con người là nạn nhân của hủ tục, định kiến ở bản mường, và cũng như La Quán Miên, nữ nhà văn đã cất lời kêu gọi bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên một cách đầy tâm huyết.

Ở các vùng Việt Bắc và Tây Bắc là sự tiếp nối thế hệ. Sang thời kì đổi mới, ngoài Triều Ân, Vi Hồng, Mã A Lềnh, Sa Phong Ba còn sung sức trong sáng tạo, các cây bút văn xuôi còn lại của lớp nhà văn dân tộc thiểu số thời kì đầu (xuất hiện từ đầu thập kỉ 60 thế kỉ trước) đều viết ít hoặc ngừng viết. Kế tục lớp nhà văn này, có sự xuất hiện của nhiều gương mặt văn xuôi mới. Đó là các cây bút người Mường như Hà Trung Nghĩa với Hoàng hôn (tập truyện, 1995) và Lửa trong rừng sa mu (tiểu thuyết, 1996); Bùi Minh Chức với Sự tích một câu nói (tập truyện, 2001) và Hà Lý (hiện sống ở Hà Nội) với Ngọt đắng vị Mường (tập truyện, 2002). Truyện ngắn của Bùi Minh Chức thường ở dạng những cổ tích, truyền thuyết giải thích về nguồn gốc các vùng đất mường ở Hoà Bình. Tác phẩm của Hà Trung Nghĩa và Hà Lý đi vào các khía cạnh của hiện thực đương đại theo hướng khai thác đời tư nhân vật, trong đó Lửa trong rừng sa mu phản ánh khá cụ thể cuộc sống của giáo viên, cán bộ quân y và bà con dân tộc ở vùng cao. Trong lực lượng viết, tác giả người Tày luôn chiếm số đông. Ngoài các nhà văn đã nêu như Ma Trường Nguyên, Hà Lâm Kỳ, Bùi Thị Như Lan, Hữu Tiến, còn có Đoàn Lư với Kỉ niệm về một dòng sông (tập truyện, 1997) và Ngựa hoang lột xác (tập truyện, 1998); Hoàng Hữu Sang với Người đánh gấu trên núi Suối Mây (tập truyện, 1997) và Cửa rừng (tiểu thuyết, 2000). Truyện ngắn Đoàn Lư dành ngôi vị trung tâm cho những nhân vật hảo hán, những nông dân miền rừng khoẻ mạnh có võ nghệ cao cường, với đề tài ưa chuộng là sự đối đầu giữa người và dã thú. Cốt truyện của Đoàn Lư thường đơn giản, có khi như những mảnh cắt ngẫu nhiên từ đời sống, nhưng khá chi tiết khi dựng cảnh lao động, sinh hoạt của con người giữa môi trường tự nhiên hoang sơ ở miền núi. Ngoài ra có thể kể đến các cây bút Tày khác như Hoàng Luận, Nguyễn Minh Sơn, Hoàng Tương Lai, Đoàn Ngọc Minh, Vi Thị Thu Đạm, A Sáng... Đóng góp cho văn xuôi còn có các cây bút người Nùng như Hoàng Quảng Uyên với Vọng tiếng non ngàn (kí, 2001), Địch Ngọc Lân với Ngôi đình bản Chang (tiểu thuyết, 1999) và Hoa mí rừng (tiểu thuyết, 2001). Như vậy, cho đến nay Việt Bắc và Tây Bắc vẫn là hai miền đất vàng của văn chương miền núi, nơi ngưng tụ nguồn mạch chính của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam. Tuy chưa có được những tài năng xuất sắc, những phong cách đích thực, nhưng những cây bút trên đã thực hiện được sứ mệnh nuôi giữ ngọn lửa văn chương của dân tộc mình. Là nhà văn dân tộc Tày, hiện sống ở Hà Nội nhưng Cao Duy Sơn vẫn chung thủy với đề tài miền núi bằng sự xuất hiện đều đặn và thuyết phục. Với một hành trình từ Người lang thang (1992), Cực lạc (1995), Những chuyện ở lũng Cô Sầu (1996), Hoa mận đỏ (1999), Những đám mây hình người (2002), Đàn trời (2006) đến Ngôi nhà xưa bên suối (tập truyện ngắn đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008, giải thưởng văn học ASEAN năm 2009), Chòm ba nhà (2009), các tiểu thuyết và truyện ngắn của Cao Duy Sơn sâu lắng trong các mối quan hệ con người với đủ đầy ân oán, thiện ác, từ đó thể hiện những quan niệm nhân sinh, phương cách ứng xử nhân ái và cao thượng. Văn ông giàu trải nghiệm, cái nhìn và giọng điệu vừa thô mộc vừa ấm áp trữ tình. Có thể nói, ở thời điểm hiện tại, Cao Duy Sơn là gương mặt tiêu biểu nhất trong đội ngũ văn xuôi các dân tộc thiểu số.

Tham gia viết về miền núi từ đầu thời kì đổi mới đến nay còn có một số nhà văn người Kinh, chủ yếu tập trung ở miền Bắc. Sau nhiều năm ngừng viết, Nguyên Ngọc trở lại với Tây Nguyên trong một số tập bút kí, ghi chép như Tản mạn nhớ và quên (2005), Nghĩ dọc đường (2006), Bằng đôi chân trần (2008). Trên các trang sách hiện lên một Nguyên Ngọc với nỗi ưu tư văn hoá trước các câu hỏi: làm gì để giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, để tạo sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên. Những góc văn hoá, tâm hồn Tây Nguyên cùng những cảnh báo về xung đột giữa bảo tồn và phát triển, về việc đánh mất không gian thực của các thực thể văn hoá… được đặt ra. Ma Văn Kháng, sau Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (1999) mười năm, đã trở lại với đề tài miền núi trong tiểu thuyết Một mình một ngựa (giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2009) mang tính chất tự truyện. Qua quan sát và chiêm nghiệm của nhân vật hiện thân cho tác giả, tiểu thuyết này dựng lại chân dung một thế hệ được hình thành từ cách mạng, một lớp người năng nổ nhiệt thành nhưng hạn chế về tầm nhìn và tri thức, trong đó nổi lên vẻ đẹp kiêu hùng mà cô đơn của một nhân vật cán bộ cách mạng. Ngoài Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp và các cây bút đã nêu như Đoàn Hữu Nam, Hà Đức Toàn, Hoàng Thế Sinh, đội ngũ tác giả người Kinh còn có Vũ Xuân Tửu với nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết, gần đây nhất là Chuyện ở bản Piát (tập truyện, 2007); Trịnh Thanh Phong với Dưới chân núi Bắc Quan (kí, 2000); Nguyễn Khắc Đãi với Chớp núi (tập truyện, 1998); Nguyễn Anh Tuấn với Lũ muộn (tập truyện, 2007); Hồ Thủy Giang với Nhà có năm người (tập truyện, 2008); Nguyễn Hữu Nhàn với Rừng cười (tiểu thuyết, 2008); Tống Ngọc Hân với Khu vườn yên tĩnh (tập truyện, 2009); Phạm Duy Nghĩa với Cơn mưa hoa mận trắng (tập truyện, 2006) và Đường về xa lắm (tập truyện, 2007). Văn Vũ Xuân Tửu mộc mạc, hồn hậu như tính cách thật thà của người miền núi nhưng hóm hỉnh, có những chi tiết giản dị mà sâu sắc. Truyện ngắn của ông để lại hình ảnh đẹp về người trai dân tộc thiểu số hi sinh cuộc đời cho kháng chiến chống Mĩ, sống gan dạ và cao thượng. Truyện ngắn Tống Ngọc Hân đi vào các cảnh ngộ của con người cá nhân, khép mở một tâm hồn đàn bà mẫn cảm, khao khát bình yên và hạnh phúc. Hoàng Thế Sinh, ngoài tiểu thuyết Xứ mưa (2000) đã đề cập, còn có các tiểu thuyết Bụi hồ (1992), Rừng thiêng (2007) và tập truyện ngắn Sao tổn khuống (2009). Tác phẩm của ông thể hiện mạnh mẽ cảm hứng bất bình trước cái xấu cái ác với hình ảnh những con người yếu thế nhưng dũng khí, ngay thẳng, nghĩa hiệp; nhiều truyện rất giàu vốn tri thức về các hệ sinh thái miền núi với mạch tư tưởng xuyên suốt là tôn trọng, đề cao giá trị và sức mạnh linh thiêng huyền bí của cõi tự nhiên. Cùng gặp gỡ ở địa hạt văn xuôi của người Kinh viết về miền núi còn có sự đóng góp của các nhà văn Đỗ Kim Cuông, Lê Văn Thiềng, Phù Ninh, Đinh Công Diệp, Nguyễn Văn Cự, Hoàng Việt Quân, Ngọc Phượng... Trong số các tác giả kể trên, có những cây bút không thực gắn bó với đề tài miền núi hoặc viết về miền núi nhưng chưa có thành tựu nổi bật. Nhà văn nữ người Kinh viết về miền núi hiện nay rất hiếm, tiêu biểu hơn cả là Đỗ Bích Thúy ở miền Bắc, Thu Loan ở Tây Nguyên. Với tiểu thuyết Bóng của cây sồi (2005) và tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (2006), ngòi bút Đỗ Bích Thúy hướng vào những hay dở, được mất ở miền núi do tác động của kinh tế thị trường, và trong cái nhìn của người viết, sự vồ vập thái quá khi tiếp nhận cái mới ở vùng cao hay quan niệm bảo thủ muốn giữ nguyên lề thói cũ đều không phải là giải pháp tích cực cho đời sống con người miền núi.

4. Nhìn lại văn xuôi miền núi từ 1986, có thể thấy sự phát triển khá phong phú, cởi mở với những dấu hiệu mới. Trong sự mở rộng đề tài, nhiều tác phẩm đã kịp thời tái hiện bộ mặt mới mẻ của miền núi trong kinh tế thị trường với những khởi sắc và cả những bất ổn đang vỡ ra của nó. Cảm hứng phanh phui sự thật, nhìn nhận vấn đề từ hai mặt, tránh khuôn mẫu, một chiều, đó là nét riêng của văn xuôi miền núi đương đại như một sự bù đắp cho phần thiếu hụt của văn học sử thi giai đoạn trước. Tuy nhiên, so với khoảng thời gian đã hơn hai mươi năm của công cuộc đổi mới, nhìn chung văn xuôi miền núi vẫn chưa theo kịp bước đi của hiện thực. Cả về tầm vóc và số lượng, còn thiếu những tác phẩm khái quát được những vấn đề trung tâm của dân tộc - miền núi trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, thực hiện xoá đói giảm nghèo, đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Một số vấn đề “nóng” ở các vùng dân tộc miền núi như an ninh, quốc phòng, sự mị dân, lừa gạt, lợi dụng tín ngưỡng để tuyên truyền tà đạo và kích động tâm lí dân tộc của bọn phản động, hiện tượng di dân tự do, vượt biên trái phép, xâm hại tài nguyên... chưa được phản ánh toàn diện, triệt để. Những hiện tượng bất ổn về chính trị - xã hội diễn ra ở Tây Nguyên và Nam Bộ như “Nhà nước Đêgar tự trị”, ở Tây Bắc và Việt Bắc như “đạo Vàng Trứ” và phong trào theo đạo Tin Lành nổi lên ở nhiều nơi đến nay mới chỉ được đề cập trong một số rất ít truyện ngắn. Thực trạng đói nghèo, thất học, chậm đổi mới ở một số vùng cũng chưa được phản ánh rõ. Có thể nói, thực tiễn đang đòi hỏi những tác phẩm trung thực hơn với sự thật, do đó ở phương diện nội dung văn xuôi miền núi cần có sự mở rộng, đào sâu hơn về đề tài - chủ đề gắn với hiện thực miền núi đương đại. Ở phương diện hình thức, qua khảo sát có thể thấy bên cạnh những tác phẩm được đánh giá cao, văn xuôi miền núi vẫn là bộ phận văn học còn không ít những hạn chế mang tính phổ biến như­ đơn giản trong tổ chức cốt truyện, tính công thức trong xây dựng nhân vật và sự lạm dụng tính hình tư­ợng khiến ngôn ngữ mòn sáo, chất thơ lấn át chất văn xuôi. Về đội ngũ sáng tác, sự kế tục của thế hệ người viết trẻ ở cả dân tộc Kinh và các dân tộc khác hiện còn rất ít ỏi, chưa rõ rệt, đó là vấn đề đáng quan tâm cho tương lai của văn học về dân tộc và miền núi.

Phạm Duy Nghĩa

-----------------------------

(1) Các tiểu thuyết, truyện ngắn của Ma Văn Kháng và Cao Duy Sơn đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam và giải thưởng ASEAN; giải thưởng Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ Quân đội với các truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, Hà Thị Cẩm Anh, Phạm Duy Nghĩa, Vũ Xuân Tửu, Niê Thanh Mai, Nguyễn Phú...

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác