Văn học Việt Nam là một (Phần 2)

Bảo Ninh

Khá lâu trước ngày lần đầu gặp nhà văn Cao Xuân Huy tôi đã được bạn bè gửi cho một bản cuốn tiểu thuyết Tháng Ba Gãy Súng rút từ máy tính ra. Tôi đọc suốt lượt chỉ sau một đêm. Lúc đọc xong tôi biết rằng mình sẽ còn nhiều lần đọc lại tác phẩm này.

Cuốn tiểu thuyết đã thực sự đưa tôi trở về với nắng lửa của tháng Ba khốc liệt mùa thu năm 1975, và hơn thế giúp tôi nhìn vượt được qua chiến tuyến, một cái nhìn cận cảnh, tận mắt, rất rành rẽ, đậm nét, sống động, đáng tin về cuộc sống và cuộc chiến của binh sĩ và sĩ quan cấp tiểu đoàn đại đội trong quân lực Sài Gòn. Không gian của cuốn tiểu thuyết là cuộc rút chạy của lữ Thuỷ quân Lục chiến từ sông Mỹ Chánh và kết cục cùng đường của đoàn quân ấy ở cửa Thuận An. Trên cái nền tan hoang tanh bành đó nổi bật lên những trường đoạn mà tôi nghĩ là nhà văn Cao Xuân Huy đã viết thật xuất sắc, xuất sắc theo cái nghĩa là thể hiện được tột cùng sự thống khổ của người trong những hoàn cảnh kinh hoàng nhất của thảm hại chiến tranh.

Song điều tôi thích ở cuốn sách không phải chỉ là ở sự miêu tả sinh động trận chiến mà còn là ở khả năng bộc lộ được một cách chân thực và chân thành tính cách, tâm trạng, tình cảm của các nhân vật. Tác phẩm này cũng phần nào cho tôi thấy quan niệm sống, cách nhìn đời, nhận thức về cuộc chiến tranh của người lính Sài Gòn. Về khía cạnh này, quan niệm và cách nhìn, dĩ nhiên là tôi quá khác với tác giả, tôi có thể trích ra nhiều đoạn đã khiến tôi không thể chấp nhận cách nghĩ của anh. Nhưng dù là không tán thành, không chấp nhận thì tôi vẫn thấy đấy là sự bộc bạch nội tâm của nhà văn. Anh chân thành suy nghĩ như vậy chứ không nghĩ ngợi hùa theo sách vở và truyền hình, không triết lý giả tạo trái với lòng thực mình nghĩ. Nhiều đau xót và cay đắng, song tác phẩm không mang màu sắc thù hận, không hằn học rủa xả phỉ báng, nhất là không tuyên ngôn với lại thề thốt nuôi thù rửa hận vân vân này nọ. Theo tôi tâm trạng của tác giả và tinh thần của tác phẩm vẫn chủ yếu mang nặng nỗi hoài nhớ quá khứ và tiếc thương tuổi trẻ, âm hưởng quen thuộc và thường thấy trong nói chung các tác phẩm văn học viết về chiến tranh ra đời trong những năm hậu chiến.

Do vì đây là cuốn sách đọc được từ trên mạng nên tôi không bàn luận và bình phẩm một cách chủ quan. Nhưng mà tôi không thể không mong là đến một khi nào đấy lúc tác phẩm này đã là tác phẩm xuất bản ở trong nước thì ở trong nước sẽ có nhiều độc giả cũng thấy thiện cảm với nó như tôi bây giờ.

Thiện cảm với tác phẩm thì tất nhiên là cũng rất muốn có được thiện cảm với tác giả, mà điều này thì không phải bao giờ cũng được như ý. Do vậy khi nhà văn Cao Xuân Huy từ Mỹ về Sài Gòn rồi ra Hà Nội, thoạt đầu gặp nhau tôi đã thật sự thấy mừng bởi thấy rằng con người tác giả không mấy khác so với sự mường tượng của tôi lúc mới chỉ biết anh qua tác phẩm.

Ngôi nhà của thân phụ anh ngay kề báo Văn Nghệ. Mấy ngày anh ở chơi Hà Nội, tôi dong xe máy đưa anh thăm thú phố cổ, Hồ Gươm, Hồ Tây, lai rai với nhau và trò chuyện thật nhiều. Những năm tuổi trẻ chiến tranh mỗi người một bên chiến tuyến ác liệt đối đầu sống mái, song nhờ sức mạnh lẳng lặng mà lớn lao của thời gian và cuộc sống hoà bình, giờ đây chúng tôi hoàn toàn là hai người bạn đã luống tuổi của nhau, nhà văn của nhau và độc giả của nhau, sau nhiều chục năm trời và qua ngàn vạn xa cách, gặp lại nhau. Cùng là hai đứa con của Hà Nội, cùng một độ tuổi, cùng từng trải sự đời với bao thăng trầm của số phận một thế hệ người Việt thời đại chiến tranh và chia lìa, thực tình tôi không thấy có gì ngăn cách tình bạn bè, bạn văn của hai chúng tôi.

Suy nghĩ của chúng tôi, cả trong lĩnh vực văn học, là rất khác nhau, có thể nói ngược hẳn nhau, mà chúng tôi cũng không lảng chuyện né tránh nhau, thế nhưng, chính sự khác biệt lại vô hình chung khiến chúng tôi gần nhau hơn, như là những tâm thế trái dấu. Mà lạ là đã rất lâu rồi tôi không đàm luận sự văn chương với ai một cách nghiêm túc, thành thật, thẳng thừng và cởi mở như với nhà văn Cao Xuân Huy. Nhà văn này không vướng vào cái lối nói năng chiều mỵ đôi tai và lụy lòng tự ái của người đối thoại. Lời lẽ chừng mực, còn giữ nhiều sự dè dặt, song nói thẳng vẫn là nói thẳng. Nghĩ gì về văn xuôi quốc nội, nhất là những tác phẩm liên quan tới những năm chiến tranh, mà cụ thể là cuốn sách của tôi, anh nói thật ra tất, măng - phú cái sự rằng nói vậy có chọc giận và có làm tôi nộ khí lên hay không.

Sự thật là cho đến bây giờ quan hệ qua lại, gặp gỡ, bạn bè bằng hữu giữa các nhà văn Việt Nam sống trong nước sống ngoài nước, có gốc gác và quá khứ trái ngược nhau, quan điểm chính trị và tín niệm văn chương khác xa nhau, đã trở nên là sự bình thường. Vẫn rất khác nhau, vì nhà văn và văn chương là vậy, nhưng cứ như tôi thấy thì những sự hằn thù và đối địch vô lý, những sự kỳ thị, miệt thị, báng bổ và phủ nhận tất tật những ai trái với mình một cách hàm hồ và vô lối, đã ngày một vắng bóng, đã ngày một trở nên lạc lõng, lạc hậu, lạc thời, đã ngày một trở nên tầm thường, vô nghĩa, đáng chê trong suy nghĩ của hầu hết các nhà văn cùng của đông đảo độc giả sống ở trong nước lẫn ở ngoài nước.

Sau bao nhiêu năm hoà bình đến bây giờ bản thân tôi và hẳn là chẳng riêng gì tôi đã không còn có thể nào thấy ra nổi duyên do vì sao tôi không nên yêu mến và coi là như nhau các nhà văn Việt Nam mà tôi ưa chuộng văn tài và tác phẩm chỉ vì rằng người này là bạn đồng ngũ còn người kia trước 1975 ở trong hàng ngũ đối phương, người này hiện sống ở Hà Nội, ở Sài Gòn, còn người kia ở Mỹ, ở Pháp, ở Đức.

Và dù rằng giờ ai đó có vạch rõ ra cho tôi được hay sự hão huyền trong suy nghĩ của mình thì tôi vẫn tiếp tục hy vọng rằng chẳng chóng thì chầy văn học Việt Nam trong nguyên bản tiếng Việt, chứ chưa nói đến đã dịch ra tiếng nước ngoài, và trong sự đa dạng, sự khác nhau, sự riêng biệt của từng nhà văn, từng tác phẩm, sẽ là một đối với độc giả người Việt Nam ở mọi lứa tuổi sống ở mọi nơi trên thế giới.

(Văn Nghệ trẻ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác