Văn học Thanh Hoá trong kháng chiến chống Pháp

Hoàng Khôi

(Toquoc)- Thời kháng chiến chống Pháp (1946- 1954) nếu Việt Bắc được xác định là căn cứ địa, là Thủ đô kháng chiến toàn quốc thì Thanh Hóa lại đóng vai trò như một hậu phương lớn, và trong nửa đầu của cuộc kháng chiến (1946- 1950) là căn cứ địa của văn hóa kháng chiến.

Thanh Hóa là nơi quy tụ lực lượng văn nghệ trước cách mạng đi theo kháng chiến, là nơi rèn luyện bồi dưỡng đội ngũ này thành lực lượng nghệ sỹ- chiến sỹ, cũng là nơi xây dựng phát triển đội ngũ, lực lượng văn nghẹ sỹ mới lớn lên cùng cách mạng và kháng chiến.

Ta có thể bắt gặp rất nhiều tên tuổi của văn nghệ Việt Nam tại “căn cứ địa” Thanh Hóa trong thời gian này. Đó là các nhà lãnh đạo văn nghệ mới: Đặng Thai Mai, Tố Hữu, Hải Triều. Đó là các nhà thơ nhà văn đã nổi danh thời kỳ tiền chiến như Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Lạp, Mạnh Phú Tứ, Chế Lan Viên, Vũ Ngọc Phan, Lưu Trọng Lư, Đồ Phồn, Huyền Kiêu, Hoàng Xuân Nhị… Đó là các nghệ sỹ sân khấu: Lộng Chương, Bửu Tiến, Hà Văn Cầu, Đình Quang… Các nhạc sỹ Phạm Sỹ Sáu, Văn Chung, Nguyễn Văn Thương… Các họa sỹ, các nhà điêu khắc: Phạm Viết Song, Nguyễn Văn Tỵ, Bùi Xuân Phái, Sỹ Ngọc, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim… Lớp nhà văn lớn lên cùng cách mạng và kháng chiến được đào tạo từ “cái nôi” Thanh Hóa này cũng thật là đông đảo: Hoàng Trung Thông, Xuân Hoàng, Vũ Tú Nam, Dương Tường, Trần Hữu Thung, Minh Hiệu, Cẩm Lai, Nguyễn Trọng Oánh, Thanh Hương, Cẩm Thạnh, Minh Huệ…

Cái không gian và không khí kháng chiến ấy vừa là “cái nôi” vừa là “cánh tay đưa”(1) cho văn nghệ Việt Nam thuở ấy, lại vừa là cơ duyên để xuất hiện những tác giả Thanh Hóa mở đầu cho văn học cách mạng và kháng chiến.

Đây là một đặc điểm rất đáng tự hào của văn học Thanh Hóa bởi đóng góp của nó là không thể phủ nhận được đối với văn học Việt Nam nói chung và văn học thời chống Pháp nói riêng.

Nét nổi bật của Văn học Việt Nam 1946-1954 là thơ kháng chiến chống Pháp, thì Thanh Hóa, ngay từ đầu, sự xuất hiện của Nhớ máu (1946- Trần Mai Ninh), Đèo Cả (1946- Hữu Loan). Rồi liên tiếp là Tình sông núi (1947- Trần Mai Ninh), Lên Cấm Sơn, Lời cô lái đò (1948- Thôi Hữu), Nhớ (1948- Hồng Nguyên), Có một mùa chiêm, Nghìn ngày kháng chiến gặp mùa lúa chiêm (1949- Hà Khang), Màu tím hoa sim (1949- Hữu Loan), Mưa núi (1949) và nhiều ca dao của Minh Hiệu… đã tạo ra một đội ngũ thơ xứng đáng mang tầm cả nước.

Các nhà thơ Thanh Hóa đã có những thành công đáng kể khi đưa được không khí, chất liệu hiện thực và cả nghệ thuật biểu hiện mới cho thơ kháng chiến.

Khí thế hào hùng, niềm vui hồn nhiên, tình người chân thực… có thể bắt gặp ở bất cứ bài thơ nào trong thơ Thanh Hóa thuở ấy.

Ta thấy khí thế ấy ở những hình ảnh về dân tộc, về Tổ quốc:

Dân tộc rớt mồ hôi thấm đất

Bắp căng như đồng

Tay ghì cán cuốc

Tay ghì tay xe

Nhìn quanh là cả bốn bề cần lao…

 Có mối tình nào cao hơn thế nữa:

Đi sâu lòng đất thấm lòng người

Đượm lều tranh thơm dậy ngàn khơi

Khi vui non nước cùng cười

Khi căm non nước với người đứng lên…

Có mối tình nào cao hơn thế nữa

Nói bằng súng, bằng gươm sáng rền

Có mối tình nào cao hơn

Tổ quốc.

                              (Tình sông núi- Trần Mai Ninh)

Ta thấy niềm vui trong sáng trẻ trung trên nét mặt, trong tiếng cười của người chiến sỹ:

Lũ chúng tôi

Bọn người tứ xứ

Gặp nhau hồi chưa biết chữ

Quen nhau từ thuở “một, hai…”

Súng bắn chưa quen

Quân sự mươi bài

Lòng vẫn cười vui kháng chiến…

Rồi:

Cả lũ cười vang bên ruộng bắp

Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu

                                        (Nhớ- Hồng Nguyên)

Ta còn bắt gặp bao nhiêu tấm lòng, tình nghĩa yêu thương trong tình quân dân thắm thiết:

Chúng tôi đi nhớ nhứt câu ni

Dân chúng cầm tay lắc lắc

- Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc.

                                       (Nhớ-Hồng Nguyên).

Tình đồng đội chân thành:

Lòng tôi xao xuyến tình thương xót

Muốn viết bài thơ thắm lệ nhòa

Tặng các anh tôi đang đổ máu

Đem thân xơ xác giữ sơn hà.

                                     (Lên Cấm Sơn- Thôi Hữu)

Tình vợ chồng thẳm sâu:

Nhỡ khi mình không về

Thì thương người vợ chờ

Bé bỏng

Chiều quê…

                               (Màu tím hoa sim- Hữu Loan)

Thơ kháng chiến chống Pháp Thanh Hóa đã phản ánh được những hiện thực nhất về đời sống chiến sỹ trong kháng chiến. Đó có thể là hiện thực về cảnh nghèo đói, thiếu thốn trong những ngày tòng quân. Về văn hóa thì “Chưa biết chữ”; về quân sự thì “Súng bắn chưa quen/ Quân sự mươi bài…”; về trang bị thì “áo vải chân không”, “Lột sắt đường tàu/ Rèn thêm dao kiếm”… Đó còn là hiện thực về ước mơ, những khao khát giản dị nao lòng. Đi dánh giặc nhưng lòng luôn hướng về quê hương với những “Mái lều tranh, tiếng mõ đêm trường”, những “Luống cày đất đỏ/ ít nhiều người vợ trẻ/ Mòn chân bên cối gạo canh khuya”

Cái hàng ngày mà bộ đội phải chấp nhận là:

Họ vẫn gầy vẫn ốm

Mắt vẫn lõm, da vàng

Áo chăn chưa đủ ấm

Ăn uống vẫn tồi tàn…

Nhưng vẫn có cái hằng ngày, thường xuyên khác rất lạc quan:

Ở đây những mặt buồn như đất

Bộ đội cười lên tươi như hoa.

Anh bộ đội Cụ Hồ là một hình ảnh về nhân vật trung tâm của thời đại đã được thơ kháng chiến Việt Nam tạo dựng qua nhiều  vẻ đẹp, đương nhiên là phải mang tính lý tưởng hóa cao độ, nó nổi lên hàng đầu trên bình diện là những con người mới trong quần chúng công nông. Tuy nhiên chúng ta bắt gặp hình ảnh anh bộ đội trong những bài thơ của các nhà thơ Thanh Hóa những năm đầu kháng chiến chống Pháp lại là những mẫu người thật mộc mạc, giản dị.

Thơ văn kháng chiến Thanh Hóa (1946-1954) được viết lên bằng “máu thịt của mình tung ra giữa thời hoạt động; trong sự sống ngang tàng, chăm chỉ, không ngừng một phút” (Trần Mai Ninh)

Lối thơ ấy vừa có nét tự do phóng khoáng vừa nghiêm ngặt, tiếp nối trong một hơi thở cuồn cuộn sức sống, khi vươn lên, khi nén chặt, khi vỡ òa và đúng là của những con người đang hành động khẩn trương giữa những ngày đang rừng rực lửa cách mạng và kháng chiến. Đấy là những tiếng nói thơ ca tự do đầu tiên nên dễ khát khao sục sôi. Vì thế thơ kháng chiến chống Pháp Thanh Hóa vừa tràn đầy cảm hứng lãng mạn vừa tươi mới song lại cũng hết sức đời thường.

Lối thể hiện quen thuộc của thơ kháng chiến Thanh Hóa là những câu thơ tự do tuôn chảy ào ạt, có vẻ chú trọng đến nhịp nhiều hơn vần, cho nên có lúc nó gập ghềnh, đứt nối, có khi lại mạnh mẽ dồn dập đầy nét tráng ca, có cả những lúc trữ tình song ít hào hoa, thường gắn với giọng của ca dao. Những hình ảnh, chất liệu dân dã song vẫn có nét riêng biệt. Thật tiếc! Sự khai phá này ở Tần Mai Ninh (Nhớ máu, Tình sông núi), ở Hồng Nguyên (Nhớ), ở Thôi Hữu (Lên Cấm Sơn), ở Hữu Loan (Đèo Cả, Màu tím hoa sim)… chỉ mới tạo thành công ở từng bài mà chưa tạo thành một giọng riêng, một phong cách. Có thể đây là những cơ sở ban đầu để sau này một nhà thơ tài danh khác- Nguyễn Đình Thi- thành công hơn chăng?

“Văn học là một phươmg tiện thích hợp nhất cho sự truyền bá tư tưởng. Thời kỳ kháng chiến yêu cầu các nhà văn những lời tin tưởng bạo dạn, cương quyết để cám dỗ, để an ủi, để hướng dẫn các năng lực của dân tộc trên con đường tranh đấu”.

“Mục đích của văn học quyết định sự lựa chọn của thể văn. Nhà văn vận dụng hết mọi hình thức văn nghệ, bất cần là mới hay cũ, kịch cũ, kịch mới, thơ luật, thơ mới, ca dao, hát nói, kể truyện, truyện dài, truyện ngắn… Viết gì cũng được. Miễn là dân chúng thích và hiểu”.

Đây là những chỉ đạo của Chủ tịch Hội Văn hóa kháng chiến khu Bốn, Hội trưởng Hội Văn hóa Việt Nam Đặng Thai Mai năm 1947. (Kháng chiến và văn hóa- Đặng Thai Mai). Các nhà văn Thanh Hóa thời ấy đã lĩnh hội được điều đó và góp phần để hình thành một nền văn hóâ kháng chiến Việt Nam.

Nói đến văn học kháng chiến 1945- 1954 ở Thanh Hóa mà không nói đến phong trào sáng tác quần chúng thì đó là một thiếu sót lớn. Văn học dân gian nói riêng, folklore nói chung cũng như mọi hiện tượng lịch sử khác đều có sự vận động riêng của nó trên hai bình diện không gian và thời gian. Mỗi một thời kỳ đất nước bước vào cuộc đấu tranh mới, folklore Việt Nam với văn học dân gian giữ vai trò xung kích đã có những đóng góp đặc sắc. Văn học dân gian Thanh Hóa sau cách mạnh tháng Tám dã có những bước phát triển đáng chú ý thể hiện đậm đà yếu tố đại chúng và dân tộc, trong đó hai thể loại là chuyện đồn đại (giai thoại) và ca dao phổ biến hơn cả.

Sinh hoạt kể chuyện khá phong phú đã được nhà thơ Hồng Nguyên nhắc trong những vần thơ quen thuộc:

…Tôi nhớ

Giường kê cánh cửa

Bếp lửa khoai vùi

Đồng  chí nứ vui vui

Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ

Đồng chí mô nhớ nữa

Kể chuyện Bình Trị Thiên

Cho bầy tui nghe ví…

                                   (Nhớ- Hồng Nguyên)

Nhưng hiện tượng đáng ghi nhớ nhất là sự xuất hiện của ca dao kháng chiến mà đặc biệt là ca dao dân công. Ca dao hiện đại xuất hiện lưu truyền và bảo tồn vừa bằng truyền miệng, vừa được cho in ấn xuất bản trên báo chí, sách vở và có cả tên tác giả rõ ràng. Tuy thế không phải là ca dao nào đăng báo, in sách cũng có thể trở nên quen thuộc với quần chúng, mà chỉ có tác phẩm nào ý vị nhất, phù hợp với cảm nhận, cảm hứng của dân gian mới có thể sống và lưu truyền. Ca dao dân công Thanh Hóa trước hết tồn tại trong cái không gian thời gian cụ thể của thời đó. (Mãi sau này, 1976, Ty Văn hóa Thanh Hóa mới phát hành tập Ca dao Thanh Hóa 1945- 1975 của các tác giả Hoàng Khôi và Lê Huy Trâm biên soạn).

Ca dao dân công Thanh Hóa đã góp cho văn học hai hình ảnh mang nét riêng đặc trưng. Đó là hình ảnh về đôi bồ gánh gạo và xe thồ (Hình ảnh thuyền nan vận tải cũng là một hình ảnh mới, được tiếp nối trong ca dao dân công, nhưng đó là vào thời chống Mỹ)

Đôi bồ gánh gạo là dấu ấn về một thời tải lương, tiếp vận chống Pháp:

Mồng một vác cuốc tăng gia

Mồng hai đan bịch,  mồng ba lên đường

Mồng bốn em đi tải lương

Mồng năm đã đến chiến trường khu Ba.

Bồ, sọt đan bằng nứa, bằng giang là những nguyên liệu rất phổ biến của vùng rừng Thanh Hoá. Bồ được đan bằng tay theo phương pháp thủ công có thể to nhỏ tuỳ ý phù hợp với sức mang của từng lứa tuổi, tạng người. Nghề đan bồ cũng không khó, nhiều người mù loà cũng có thể đan bồ. Với đôi bồ, người ta thấy khá rõ những đóng góp âm thầm và vô danh của rất nhiều lớp người Thanh Hoá:

Anh mù nhưng dạ chẳng mù

Vót tre chẻ nứa đan bồ dân công

Gửi vào đây cả tấm lòng

Kháng chiến chống Pháp thành công hẹn ngày.

Hoặc:

Trèo lên dốc núi Na Mèo

Đôi bồ gánh nặng cheo leo lưng đồi

Áo người ướt đẫm mồ hôi

Bước chân vẫn dẻo, hò vui vẫn đều.

Hình ảnh xe thồ vận tải lại mang một vẻ đẹp khoẻ khoắn, mạnh mẽ. Xe thồ không chỉ giải phóng đôi vai mà còn nâng khả năng chuyên chở lên gấp nhiều lần so với gánh vác. Xe thồ Thanh Hoá phục vụ chiến dịch Điện Biên đã đạt kỷ lục trên ba tạ hàng cho một xe. (Đến kháng chiến chống Mỹ thì nhiều chiến sỹ đã đạt tới mức thồ bốn tạ bảy (470 kg). Người chiến sỹ xe thồ phải lao động vất vả song nhiều khi họ cũng có những gặp gỡ lãng mạn, phóng khoáng. Khi đã giải phóng hàng, đi xe không trên những lối mòn trong rừng sâu, trong đêm tối, họ thắp những chiếc đèn dầu tự tạo, không cần bóng đèn, chỉ đặt một phiến lá cây phía sau, cứ thế mà phóng, đèn không tắt vì không bị gió lùa.Trên những chặng núi đồi trập trùng, đó cũng là một hình ảnh đẹp.

Tối trời thì có ánh sao

Dốc thì mặc dốc, đèo cao mặc đèo.

 

Mau lên hỡi bạn xe thồ

Đường đi rầm rập vui mô vui bằng

Qua rừng qua núi băng băng

Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù.

 

Đùng đùng gió giục mây vần

Phò Lào, dốc Mướp xa gần quản chi

Cánh bằng tiện gió vừa khi

Trai anh hùng xe đạp, gái nữ nhi đôi bồ.

Với ca dao dân công Thanh Hoá, người ta không chỉ sống lại một thời kháng chiến oanh liệt mà còn thấy những đóng góp lớn lao vô tận và cũng rất vô danh của người dân xứ Thanh. Ta còn thấy cả những vẻ đẹp tâm hồn, thấy sức sống của một thể loại văn học dân gian vẫn trường tồn, sung mãn- Có lẽ những câu ca như thế này phải được xem là những câu hay nhất của ca dao hiện đại:

Trúc với tre về khe đổi gánh

Em đổi cho chàng đến Sánh thì thôi

Giờ đây chiến dịch thắng rồi

Trúc tre lại được về xuôi một chiều

Yêu anh đã quyết thì theo

Xuống Thạc em cũng xuống, về Neo cũng về.

Hoặc:

Đường lên Hịch, Hạ cheo leo

Có đi dốc Cún, bản Phèo cùng anh

Về đây có núi non xanh

Có đoàn tiếp vận nấu canh măng rừng

Đêm khuya đuốc sáng suối Pưng

Sáng dài eo Đỏ, sáng trưng sông Luồng

Bài ca Khặp Thái ai buông

Dân công tiếp vận gánh lương diệt thù.

Văn học dân gian Thanh Hoá nuôi dưỡng tinh thần người dân xứ Thanh, góp phần trong công cuộc kháng chiến nước nhà, ảnh hưởng của nó thật rộng rãi. Các nhà thơ Thanh Hoá thuở ấy có được thành công như Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Hồng Nguyên, Hữu Loan, Minh Hiệu, Hà Khang…chính một phần nhờ bắt gặp nguồn mạch này.

Mười năm văn học kháng chiến chống Pháp Thanh Hoá đã được khẳng định bằng những thành tựu Thơ (Cả văn học viết lẫn văn học dân gian).

Mười năm văn học kháng chiến Thanh Hoá đã đóng góp cho văn học Việt Nam những tác giả và tác phẩm xứng đáng.(ở cuối giai đoạn kháng chiến còn xuất hiện Cầm Giang- tức Bạc Văn ùi, Cầm Vĩnh Ui- theo phát hiện của Cao Sơn Hải- với một giọng thơ mộc mạc đáng yêu đầy chất Tây Bắc nữa).

Mười năm, một giai đoạn văn học ở Thanh Hoá đã có không khí toàn quốc và địa phương, có chất lượng cao, ý nghĩa lớn. Đó là một khuôn dạng riêng và đóng góp không nhỏ.

 

 

--------------------

(1)- Chữ dùng theo Địa chí Thanh Hoá, tập II, phần Văn hoá xã hội, NXB KHXH- H 2003

  

 

   

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác