Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số vẫn luôn cần cái mới

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam được tổ chức vào thời điểm đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới.

Cùng với những thuận lợi và không ít những khó khăn, thách thức, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số vẫn đang góp phần bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa yêu nước và tiến bộ. Phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản đã có cuộc phỏng vấn nhanh với nhà thơ Bùi Nhị Lê (dân tộc Mường) - đại biểu Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa ngay trong không khí tưng bừng của Đại hội.

- Nhà thơ có đánh giá như thế nào về những tác động tích cực của Hội đối với văn nghệ sĩ?

- Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa có 53 thành viên, trong đó có 1 nhà văn nữ, 1 nhà thơ nữ, 8 người là dân tộc thiểu số, còn lại là người kinh. Được thành lập từ năm 1993 đến nay, thành công trước hết là Hội đã tập hợp được anh em sáng tác văn học nghệ thuật về đề tài dân tộc, gắn kết và tạo điều kiện giao lưu học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau giữa các vùng, các dân tộc. Do đó, hoạt động văn học nghệ thuật mang tính gia đình, tính cộng đồng lớn hơn.

- Bên cạnh những thuận lợi, văn nghệ sĩ trong Hội còn gặp những khó khăn gì?

- Trên thực tế, đời sống sinh hoạt của văn nghệ sĩ rất khó khăn, không sống được bằng đồng lương cơ bản. Khi đã viết xong tác phẩm, để in được thành sách cũng rất khó khăn. Mỗi lần in sách cũng phải mười mấy triệu, in được sách rồi đến bao giờ mới thu hồi vốn. Vì thế một bộ phận cũng nản, số anh em còn viết được nhiệt tình thế này là vì yêu thích quá mà viết. Hàng năm, nhà nước cũng có đầu tư, có tài trợ nhưng các nhà văn mới chỉ nhận được ở mức cứu trợ, mà đã là cứu trợ thì chia đều. 1 tác phẩm 300 trang nếu in cũng phải mất 15 triệu nhưng tài trợ chỉ có 2 triệu thì không đủ tiền giấy bút.

- Vậy, nếu sáng tác bằng tiếng dân tộc sẽ còn khó hơn nhiều?

- Tỉnh Thanh Hóa có 5 dân tộc thiểu số anh em, dân tộc có chữ viết là dân tộc Thái, nhưng số người biết chữ Thái hiện nay đếm trên đầu người nên có sáng tác cũng không có người đọc. Đó là chưa kể đến sáng tác bằng tiếng dân tộc phải kỳ công lắm mới in được, vì các chữ dân tộc chưa có trong bộ nhớ của máy in, kể cả trong các nhà in hiện đại, thành ra muốn in thì phải chép tay, sau đó chụp lại. Sáng tác bằng tiếng dân tộc là cái tốt nhưng phải được xây dựng trên cơ sở giáo dục, giáo dục chưa làm thì các văn nghệ sĩ có muốn làm cũng khó.

- Nhà thơ có nhận xét gì về đội ngũ những cây bút trẻ?

- Hiện tại, Hội Văn học nghệ các dân tộc thiểu số cũng có xuất hiện các cây bút trẻ nhưng mỗi tỉnh may ra được 1 - 2 người, đấy là may ra thôi, chứ nói chung, văn học nghệ thuật thiểu số vẫn chưa có lực lượng thay thế cho đội ngũ già hóa. Tuy vậy, cũng phải thấy được rằng lực lượng trẻ hiện nay hầu hết đều được học hành đến nơi đến chồn nên có nhiều kiến thức rộng rãi hơn, tiến bộ hơn, họ viết phù hợp với cái mới, với giọng điệu bây giờ.

- Nhưng giọng điệu mới có phải cũng là một nguy cơ của sự đồng hóa, xói mòn bản sắc dân tộc trong các tác phẩm văn học nghệ thuật?

- Nếu người viết biết chuyển, biết điều chỉnh cho phù hợp thì không sợ. Bởi khi viết, người ta đã phải có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa, nếu là người Thái, vẫn phải có âm điệu của người Thái, người Mường có âm điệu của người Mường, người Mông có âm điệu của người Mông. Nếu viết ra cái giọng điệu chung chung thì cũng không ai chấp nhận đấy là tác phẩm viết về dân tộc thiểu số. Vẫn biết phải đối mặt với sự đồng hóa, xói mòn nhưng văn học nghệ thuật vẫn luôn cần cái mới, điều quan trọng là sự điểu chỉnh phù hợp của người viết.

- Nhà thơ sẽ cho ra đời tác phẩm nào sau Đại hội lần này?

- Khoảng một tuần nữa, tôi sẽ ra mắt tập thơ mới "Hát quanh bếp lửa" với 40 bài thơ về cuộc sống hàng ngày của những người dân tộc Mường.

- Xin cảm ơn nhà thơ!

 

(cpv.org.vn)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác