Văn học địa phương, làm sao để không hẫng hụt lớp người kế cận?

(Toquoc)- Cuộc sống ngày hôm nay có nhiều sự lựa chọn dành cho mỗi người. Nhưng văn chương vẫn luôn là một lựa chọn đầy nghiệt ngã mà không phải ai cũng sẵn sàng dấn thân theo đuổi trở thành “nghiệp” của đời mình.

Văn học Việt Nam, lớp nhà văn chống Pháp lần lượt “mỏng” đi, lớp nhà văn chống Mỹ thì đang có khuynh hướng già hoá... tất cả đã để lại cho văn học của chúng ta một “khoảng trống” mà không biết làm cách nào để lấp đầy...

Thừa Thiên- Huế, một trong những trung tâm văn hoá nghệ thuật của cả nước cũng đang rơi vào tình trạng hẫng hụt lớp nhà văn có đủ “Tâm - tầm - tài” để kế cận. Xung quanh vẫn đề này, phóng viên báo Tổ Quốc đã có dịp trao đổi với nhà văn Nguyễn Khắc Phê - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên - Huế để cùng chia sẻ.

PV: Ngoài các thành phố lớn, trong năm qua ông thấy văn học ở đâu sôi động nhất?

Văn học địa phương, làm sao để không hẫng hụt lớp người kế cận? - ảnh 1

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê: Theo tôi, khi đánh giá văn học, sự “sôi động” chỉ là bề nổi, nhiều khi không phản ánh đúng thực chất các hoạt động văn học - nhất là trong tình hình dư luận, báo chí thường chạy theo những “sự kiện giật gân”, rồi kiểu “lăng-xê” theo yêu cầu của “thị trường” hoặc “gu” của nhóm này nhóm khác. Văn học cần sự lặng lẽ, âm thầm, sâu sắc - từ đây mới hy vọng có những tác giả và tác phẩm đáng kể. Gần đây, Đoàn Minh Phượng hầu như chưa có tên tuổi trên văn đàn, công bố tiểu thuyết “Và khi tro bụi” - Giải thưởng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam- 2007 khiến nhiều nhà văn “có hạng” phải kính nể. 

PV: Theo ông vấn đề gì đáng quan tâm nhất ở văn học địa phương hiện nay? Vì sao?

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê: Vấn đề đáng quan tâm nhất đối với văn học địa phương là đội ngũ người sáng tác không đáp ứng được thực tế cuộc sống sôi động và phức tạp hiện nay cũng như yêu cầu đổi mới nghệ thuật. Trong khi lớp nhà văn Chống Mỹ nay đều thuộc loại “U 60” trở lên, khó có những bứt phá ngoạn mục về đổi mới nghệ thuật và không còn đủ thời gian, sức lực để thâm nhập vào những “mặt trận” nóng bỏng của cuộc sống hôm nay thì lớp trẻ ít có người chuẩn bị đầy đủ “hành trang”, sẵn sàng dấn thân vào hoạt động văn học - một lĩnh vực đòi hỏi rất nhiều công phu và tâm huyết mà không bao giờ hứa hẹn một kết quả chắc chắn, càng khó kiếm tiền. Vì thế, hầu như địa phương nào cũng hẫng hụt lớp người “kế cận”.

Ngay ở một trung tâm như Huế, hai mươi năm trước, Hội Văn nghệ và Tạp chí “Sông Hương” có một danh sách dài những tên tuổi như Xuân Hoàng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ, Hà Khánh Linh… thì sắp tới cả hai cơ quan sẽ không còn một người nào là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nữa! Tất nhiên danh hiệu “nhà văn” và các cơ quan văn học không làm nên giá trị văn học, nhưng qua đây thấy rõ sự thiếu hụt trầm trọng lực lượng sáng tác trẻ; từ đó vấn đề đặt ra quan trọng nhất là phải đặc biệt quan tâm đến việc phát hiện, tạo điều kiện cho những cây bút trẻ gắn bó dài lâu với văn học, chứ không chỉ “ghé” qua một cách ngẫu hứng.

PV: Các nhà văn khu vực miền Trung thường quan tâm đến điều gì trong sáng tác của mình và cách chọn đề tài ấy có khác so với sự lựa chọn của các nhà văn khu vực trong cả nước không?

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê: Đội ngũ sáng tác chủ yếu ở miền Trung hiện nay vẫn là những người đã lớn tuổi nên hầu hết đều dành quỹ thời gian còn lại cho những sáng tác thể hiện những trải nghiệm của cả cuộc đời mình, bao quát một quãng thời gian dài trong lịch sử dân tộc. Lớp trẻ thì thường viết về “đời thường” - những quan hệ riêng tư, cách nhìn nhận, đánh giá về đạo đức, các “chuẩn” giá trị trong thời đại hội nhập… Sự lựa chọn đề tài tuỳ theo sở trường của mỗi người chứ không tuỳ thuộc vào vùng - miền họ cư trú.

PV: Ông có thể nói khái quát đặc trưng của văn học miền Trung mà các nhà văn đã tạo thành một phong cách riêng, không thể trộn lẫn?
Yếu tố vùng miền của mỗi địa phương ảnh hưởng như thế nào trong tác phẩm của nhà văn?

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê: Như đã nói ở trên, vùng - miền không phải là điều quan trọng tạo nên đặc trưng, phong cách của văn học, nhất là trong điều kiện giao lưu, hội nhập hiện nay. Một nhà văn “nghiện” văn học trên “mạng” có thể chịu ảnh hưởng của một phong cách rất “Tây”. Nếu có chăng thì do điều kiện địa lý, cuộc sống có phần bó hẹp ở miền Trung mà những cây bút ở đây, so với Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh thường trầm lắng hơn, ít có những bứt phá táo bạo.

PV: Nhiều người cho rằng trong năm qua, các cây bút ở miền Trung ít nhiều đang gặt hái được thành công, điển hình nhất là ở các giải thưởng với các tên tuổi như Ngô Phan Lưu, Lê Hoài Lương, Nguyễn Mỹ Nữ, Nguyễn Hiệp... nhưng dường như họ quá ít cơ hội được công nhận ở cấp độ cao hơn để có điều kiện khẳng định, như việc trở thành Hội viên hội Nhà văn Việt Nam  chẳng hạn. Ông nghĩ sao về nhận định này?

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê: Một vài giải thưởng - dù là rất đáng trân trọng, chưa thể tạo nên “tên tuổi” trong văn học. Rõ ràng là các cây bút ở hai trung tâm báo chí là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh dễ được “lăng-xê” hơn, nhưng như trên đã nói, điều đó có khi có hại cho người sáng tác, vì nhà văn thật sự cần sự lặng lẽ, kiên trì… Danh hiệu hội viên Hội Nhà văn cũng cần, nhưng khẳng định tên tuổi thì phải bằng tác phẩm. Chúng ta đã biết nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn đã xin ra khỏi Hội Nhà văn mà không vì “bất mãn” với ai hay như Trần Vàng Sao ở Huế, hầu như không quan tâm đến chuyện vào Hội mà vẫn nổi tiếng.

PV: Một số các cây bút đáng “chú ý” của miền Trung hiện nay đều làm nhiều nghề tự do và khá khó khăn về kinh tế, theo ông điều gì đã thôi thúc họ viết văn, trong khi ai cũng biết “Cơm áo không đùa với khách thơ”?.

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê: Nghề văn rất cần học vấn và có khi cả kinh tế (để mua chiếc máy tính xách tay chẳng hạn…) nhưng càng cần sự trải đời, thông hiểu những trăn trở và cả những đau buồn của nhân dân. Điều này thì người làm “nghề tự do” có thế mạnh hơn hẳn các nhà-văn-ăn-lương Nhà nước. Chính điều đó đã thôi thúc họ cầm bút. Chúng ta đều biết Nam Cao, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng… đã viết những tác phẩm bất hủ trong hoàn cảnh sống ngặt nghèo. Tất nhiên, bây giờ không ai nghĩ một cách đơn giản là nhà văn phải sống khổ cực mới có tác phẩm hay.

PV: Các hội VHNT địa phương đã có giải pháp nào để giúp họ yên tâm sáng tác chưa? Hiện là Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên - Huế, ông có đề xuất gì để giúp những cây bút đó ?

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê: Theo tôi biết, các Hội VHNT địa phương hàng năm đều có Trại sáng tác và quỹ đầu tư sáng tác. Như ở Thừa Thiên Huế, chúng tôi luôn nhớ đến các cây bút làm “nghề tự do” trong khi tổ chức Trại sáng tác hay xét “đầu tư”. Tuy vậy, có người do hoàn cảnh riêng hoặc chỉ thích viết “tự do” ở nhà, nên dù được mời đi dự Trại Sáng tác vẫn không đi. Sáng tác không phải là đặc quyền của lớp người nào, tài năng luôn là của hiếm, nên về lâu dài, tôi nghĩ các tổ chức văn nghệ và cả cơ quan liên quan khác ở mỗi địa phương, khi phát hiện một cây bút thực sự có khả năng thì cần ưu tiên tạo điều kiện sáng tác tốt nhất cho họ, tránh tình trạng dàn đều và bất kể họ có là “hội viên” hay không. Ngoài các cơ hội đi dự Trại sáng tác, hay nhận tiền đầu tư, trong cơ chế thị trường và hướng đến việc “xã hội hoá” hoạt động VHNT, có thể nghĩ đến những phương sách khác; ví như vận động một doanh nghiệp làm “Mạnh Thường Quân” đỡ đầu cho một cây bút làm nghề “tự do” đang thai nghén một tác phẩm lớn… Xin thử ví dụ: Một cây bút cần mỗi tháng 2 triệu đồng để chỉ ngồi viết một tác phẩm tâm huyết (mà không phải bận tâm kiếm sống), như thế một năm chỉ cần chưa đến ba chục triệu. Đã có doanh nghiệp bỏ cả tiền tỷ cho bóng đá rồi chỉ chuốc lấy tai tiếng, thì việc giúp vài chục triệu cho một nhà văn là điều quá đơn giản. Đó là chưa nói khi tác phẩm được công bố, tất nhiên “thương hiệu” của doanh nghiệp đó coi như cũng được một lần quảng cáo.

Vấn đề là xã hội có đánh giá đúng vị trí của văn học hay không và những người quản lý các tổ chức văn nghệ địa phương có hết lòng với những cây bút thực sự có năng lực hay không?

Trên đây mới chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh có tính “vật chất” của vấn đề. Với người sáng tác, sự ủng hộ về mặt tinh thần có khi quan trọng hơn. Đã có một số nơi chưa thoát ra được những quan niệm ấu trĩ, chỉ muốn văn nghệ tô điểm cho thành tích của địa phương, đối chiếu thực tế cuộc sống với những điều miêu tả trong tác phẩm một cách thô thiển, rồi phê phán tác giả là “bôi đen”, “bịa đặt”… Do đó, sự ủng hộ trước hết, đó là cách nhìn nhận VHNT phải thực sự cởi mở, đúng với tinh thần mà một Nghị quyết của Đảng từng ghi rõ: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hoá - nghệ thuật… Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật…” (Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 28/11/1987 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam). Mặt khác, các Hội VHNT cần phải có kế hoạch phối hợp với các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình, thư viện, các trường học… tổ chức giới thiệu, hội thảo về những tác phẩm đã công bố; nếu có điều kiện quảng bá rộng trên các cơ quan truyền thông đại chúng ở trung ương, trên mạng internet. Việc làm này có tác dụng động viên cổ vũ tác giả rất lớn, cũng là cách “tiếp thị” loại sản phẩm đặc biệt là VHNT và góp phần đưa những giá trị văn hoá đến với công chúng đông đảo.

Xin cảm ơn ông!

THU HIỀN (Thực hiện)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác