Văn học đề tài công nhân - những chặng đường…

Nếu kể từ khi tiểu thuyết “Vùng Mỏ” của nhà văn Võ Huy Tâm ra đời, đến nay Văn học về đề tài Công nhân đã có gần 60 năm phát triển. Cùng với văn học viết về đề tài chiến tranh và cách mạng, văn học viết về đề tài nông thôn… văn học về đề tài công nhân đã góp phần tạo nên diện mạo của văn học hiện đại Việt Nam. Nhân ngày Quốc tế Lao động 1/5 và kỷ niệm hai năm thành lập Chi hội Nhà văn Công nhân, phóng viên Báo Văn nghệ đã có cuộc trò chuyện với nhà thơ Nguyễn Tùng Linh, Chủ tịch Chi hội về vấn đề này.

 

- Thưa nhà thơ, mặc dù có gần sáu thập niên phát triển, văn học về đề tài công nhân dường như vẫn có chút gì bỡ ngỡ với bạn đọc. Xin nhà thơ cho biết khái quát về thành tựu của văn học viết về công nhân, người lao động từ khi ra đời đến nay?

- Trong nền văn học hiện đại nước ta từ lâu đã xuất hiện một mảng văn học mới mẻ lôi cuốn được sự chú ý của người đọc, đó là văn học về đề tài công nhân, người lao động lao động. Ngược dòng lịch sử, chúng ta thấy hình tượng người lao động trước Cách mạng Tháng Tám đã xuất hiện trên ca dao mới, trong thơ ca của các chiến sĩ cách mạng và trong cả các tác phẩm của một số nhà văn hiện thực thời bấy giờ như Nguyên Hồng, Lan Khai, Tam Lang và cả Vũ Trọng Phụng nữa…

Nhưng văn học viết về người công nhân chỉ thực sự ra đời sau Cách mạng Tháng Tám. Một cái mốc rất đáng nhớ là năm 1949, cuốn tiểu thuyết Vùng Mỏ của một cán bộ công đoàn hoạt động trong vùng địch hậu ra đời và ngay sau đó được giải Nhất của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1952. Có thể lấy năm 1949, năm xuất hiện tiểu thuyết Vùng Mỏ của Võ Huy Tâm là năm ra đời văn học viết về đề tài công nhân, người lao động.

Cùng với công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và thực hiện các kế hoạch năm năm lần I (1960-1965) và lần thứ II (1965-1970) phát triển kinh tế- xã hội ở miền Bắc, ngay sau khi Hội Nhà văn Việt Nam được thành lập (1957) với chủ trương đưa các nhà văn thâm nhập thực tế, văn học đề tài công nhân có một bước phát triển cả về lượng và chất. Hàng loạt các tác phẩm viết về công nhân và công nghiệp ra đời mà chúng ta có thể kể đến như Xi măng của Huy Phương, Suối Gang của Xuân Cang, Chuyện nhà, chuyện xưởng của Nguyễn Thành Long, Anh công dân mới của Lê Minh… Các nhà thơ tiền chiến cũng tìm thấy cảm hứng mới trong cuộc sống lao động. Nhà thơ Chế Lan Viên trong Ánh sáng phù sa có rất nhiều bài thơ viết về lao động. Xuân Diệu thay đổi với Riêng Chung. Và đặc biệt là nhà thơ Huy Cận sau chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh đã có những thi phẩm giá trị viết về người lao động như Đất nở hoa và nhất là Trời mỗi ngày lại sáng.

Sự cộng hưởng giữa văn học viết về đề tài công nhân và văn học chống Mỹ, cứu nước đã khiến trong một thời gian ngắn nở rộ rất nhiều cây bút xuất sắc trên cả hai thể loại văn xuôi và thơ. Chính họ đã làm nên diện mạo mới của một giai đoạn văn học đầy hứng khởi. Rất nhanh chóng họ trở thành những cây bút chủ lực của văn học nước ta trong nhiều thập niên gần đây. Đó là những Ma Văn Kháng, Trần Thanh Giao, Nguyễn Gia Nùng, Nguyễn Quang Thân, Nguyên Bình, Nguyễn Dậu, Thái Giang, Trần Kim Thành… và sau một chút là Lý Biên Cương, Tô Ngọc Hiến, Trần Nhuận Minh, Nam Ninh, Sỹ Hồng, Yên Đức, Võ Khắc Nghiêm… ở Quảng Ninh; Vũ Hữu Ái, Thanh Tùng, Đào Cảng, Trần Tự, Thi Hoàng, Nguyễn Tùng Linh… ở Hải Phòng; Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Lưu Nghiệp Quỳnh, Trần Dũng, Tùng Điển, Bùi Việt Sỹ, Từ Ngàn Phố, Phạm Ngọc Chiểu, Quang Khải, Vũ Từ Trang, Đỗ Bảo Châu, Trần Hoàng Bách… ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Chiến tranh kết thúc, đất nước hoàn toàn giải phóng, cả nước chung sức cho mục tiêu xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Di chúc Bác Hồ căn dặn. Có thể thấy rõ thời kỳ này là khoảng thời gian các cây bút viết về công nhân, người lao động xuất hiện trước năm 1975 tiếp tục chín. Và trên con đường đã chọn, họ tiếp tục đem đến cho bạn đọc những tác phẩm xuất sắc viết về cuộc sống và người lao động. Tiêu biểu là những tiểu thuyết, những tập truyện ngắn Trước lửa, Những vẻ đẹp khác nhau của Xuân Cang; Mưa mùa hạ, Đám cưới không có giấy giá thú, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng; Bận rộn, Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn; Đứng trước biển, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuân; Sao Băng của Nguyễn Gia Nùng; Thung lũng Cô Tan của Lê Phương… và rất, rất nhiều tác phẩm của Lý Biên Cương, Tô Ngọc Hiến, Nguyễn Quang Thân, Trần Chinh Vũ, Nam Ninh, Phạm Ngọc Chiểu… Thơ với sự thăng hoa của lớp nhà thơ ươm mầm ở thời chống Mỹ và kết trái ở giai đoạn hậu chiến. Nhiều tập thơ ra đời và để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc của Trần Nhuận Minh, Thi Hoàng, Đào Cảng, Thanh Tùng, Anh Chi, Quang Khải, Nguyễn Thái Sơn, Chử Văn Long, Tạ Vũ, Hoàng Việt Hằng…

Đặc biệt ở giai đoạn này là sự xuất hiện của các cây bút mới ở mọi miền đất nước. Đó là Ngô Xuân Hội, Trần Ngọc Tảo, Trần Tâm… ở vùng mỏ Quảng Ninh; Nguyễn Thị Minh Dậu, Tô Ngọc Thạch, Bão Vũ, Nguyễn Phước Sang… ở Hải Phòng. Còn phải kể đến Triệu Xuân, Hoàng Đình Quang, Nguyễn Đông Thức, Cao Xuân Sơn… ở thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Đức Thọ, Khôi Vũ ở Đồng Nai; Nguyễn Văn Thọ, Văn Vĩnh, Nguyễn Hữu Hà… ở Hà Nội. Và cả Nguyễn Quang Vinh ở Quảng Bình, Chu Hồng Hải ở Long An…

Bên cạnh những tác phẩm của các nhà văn được xem là chuyên hoặc viết đậm về đề tài công nhân và công nghiệp, chúng ta còn chứng kiến sự đóng góp của một số nhà văn vẫn được xếp ở những mảng đề tài khác. Rõ ràng cuộc sống lao động đầy gian khó có sức hấp dẫn ngòi bút của họ. Đó là trường hợp Nam Hà với cuốn ký sự về đường dây tải điện 500kw Bắc- Nam, Hoàng Minh Tường Và Hồ Anh Thái với những tiểu thuyết rất thành công viết về những người công nhân giao thông…

- Như vậy, phải chăng việc thành lập Chi hội Nhà văn Công nhân là cần thiết dẫu hơi muộn. Xin nhà thơ cho biết vài nét về hoạt động của Chi hội?

- Do khuôn khổ của một cuộc trò chuyện ngắn, chúng tôi không thể kể hết các tác giả và tác phẩm thành công viết về công nhân và người lao động. Nhưng chỉ với vậy chúng ta đã thấy lực lượng sáng tác viết về đề tài công nhân thật không ít và những thành tựu mà họ đóng góp vào nền văn học hiện đại nước ta thật đáng trân trọng. Chính từ suy nghĩ như vậy mà Chi hội Nhà văn Công nhân được thành lập, dẫu hơi muộn. Nhưng như ta vẫn thường nói dẫu muộn còn hơn không.

Chi hội được thành lập với cốt lõi là những hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã và đang công tác tại Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngay sau khi có quyết định thành lập, chúng tôi đã tiến hành đại hội và bầu Ban Chấp hành của nhiệm kỳ I (2006-2011). Sau hai năm hoạt động, chúng tôi đã làm được một số việc như xốc lại đội ngũ, kết nạp thêm hội viên mới với điều kiện đó là những hội viên Hội Nhà văn Việt Nam có thành tựu về văn học đề tài công nhân. Chi hội đặt trọng tâm hoạt động vào việc đẩy mạnh sáng tác. Và chỉ ngần ấy thời gian đã có khá nhiều tác phẩm của hội viên được xuất bản, đáng kể là tập truyện ngắn Dòng chảy của Nam Ninh, tiểu thuyết Vụng dại tình đầu của Bùi Việt Sỹ, các tập thơ Ngược dốc của Vũ Từ Trang, Thơ Quang Khải của Quang Khải, Tên rơi trước mặt của Nguyễn Thái Sơn… Và còn nhiều tác phẩm khác của các hội viên đang hoàn chỉnh để xuất bản như tiểu thuyết Khoảng trống cuộc đời của Nam Ninh, Biển mùa đông, tập thơ của Nguyễn Tùng Linh… Đặc biệt là đóng góp của Nguyễn Quang Vinh với vở kịch viết về liệt sỹ, bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm đã được xuất bản và nhiều đoàn dàn dựng gây một hiệu ứng xã hội rất mạnh.

Được sự đồng ý của Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội Nhà văn Công nhân đang tổ chức xét tặng “Tặng thưởng văn học đề tài Công nhân lần VII”. Đây là một hoạt động rất lớn và cần có sự tham gia của nhiều tổ chức xã hội. Chúng tôi đã nhận được hơn 100 tác phẩm bao gồm các thể loại thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, phóng sự… gửi về tham gia, tham dự giải thưởng. Chúng tôi đang cố gắng hoàn tất khâu đọc tác phẩm để Lễ trao tặng thưởng có thể tiến hành trước Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ X và quý IV năm nay.

- Nhà thơ vừa nói đến “Tặng thưởng Văn học đề tài Công nhân”. Xin ông cho biết sự ra đời, phát triển cũng như bước sắp tới của giải thưởng văn học có truyền thống này?

- Với sự phát triển rất mạnh của văn học viết về công nhân, người lao động trong những năm 50 và 60 của thế kỷ trước, năm 1969 Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) và Hội Nhà văn Việt Nam đã có sáng kiến tổ chức Hội nghị Văn học đề tài Công nhân lần I tại thị xã Hòn Gai (nay là thành phố Hạ Long) tỉnh Quảng Ninh. Rất đông những nhà văn có tên tuổi đã đến dự hội nghị như Võ Huy Tâm, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Huy Phương, Nguyễn Thành Long… Những cây bút trẻ lúc bấy giờ chưa phải hội viên Hội Nhà văn Việt Nam được mời là niềm vinh dự lớn. Một số bạn bè sáng tác ở Hải Phfong dự hội nghị về kể cho tôi nghe, đến nay tôi còn nhớ và vẫn còn xúc động. Ở hội nghị ấy, họ đã nhìn thấy các thần tượng của mình bằng xương bằng thịt Hơn nữa, được bắt tay, được trò chuyện, được trao đổi về văn học như những đồng nghiệp. Có thể bây giờ nghe bình thường nhưng với chúng tôi lúc bấy giờ nó thiêng liêng lắm. Và biết đâu nhờ có hội nghị ấy mà rất nhiều cây bút tiếp tục dấn thân để trở thành nhà văn có tên tuổi hiện nay.

Hội nghị thành công đến nỗi, ngay sau khi kết thúc Tổng Công đoàn Việt Nam đã thành lập một tổ chức để chăm lo cho sáng tác văn học. Đó là Hội đồng Văn học đề tài công nhân. Nhiều nhà văn dã được mời tham gia hội đồng như các nhà văn Ma Văn Kháng, Xuân Cang, Lê Minh, Huy Phương. Hội đồng Văn học đề tài công nhân hoạt động được 25 năm, đến năm 1996 không hiểu lý do gì, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã quyết định giải thể.

Công việc có ý nghĩa nhất của Hội đồng Văn học đề tài công nhân là trong một phần tư thế kỷ tồn tại, nó đã xét “Tặng thưởng Văn học Công nhân” được sáu lần. Với sáu lần xét tặng thưởng, đã có hàng chục tác giả được trao và hàng chục tác phẩm được ghi nhận. Nếu tôi nhớ không nhầm, lúc bấy giờ Hội Nhà văn chưa có giải thưởng hàng năm nên “Tặng thưởng Văn học đề tài công nhân” được xem như một giải thưởng văn học hàng đầu. Tất nhiên không ai viết văn để chờ nhận giải, nhưng được giải thì ai cũng thích. Trừ lần tặng thưởng lần thứ sáu bằng tiền, còn 5 lần tặng thưởng trước đều là hiện vật. Có lần giá trị tặng thưởng là xe máy Java mà có hai nhà văn được nhận là Nguyên Bình và Nguyễn Mạnh Tuấn.

“Tặng thưởng Văn học đề tài công nhân lần thứ VII” đáng nhẽ phải tổ chức vào năm 2001 nhưng do điều kiện không thuận nên không tiến hành được. Chính vì vậy, sau khi thành lập, Chi hội Nhà văn Công nhân đã khôi phục lại tặng thưởng, không có mục đích gì khác là tôn vinh các tác giả và tác phẩm viết về công nhân và người lao động, Chủ tịch Liên đoàn Lao động Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam. Chi hội Nhà văn Công nhân với tâm huyết và trách nhiệm chỉ xin làm người thực hiện dưới sự chỉ đạo của hai tổ chức trên. Sau Tặng thưởng lần thứ VII, để thích hợp với tình hình mới, chúng tôi sẽ tiến hành xét hai năm một lần với quy mô nhỏ hơn và tất nhiên giải thưởng cũng vừa phải.  

- Trở lại với văn học đề tài công nhân. Thưa nhà thơ, có ý kiến cho rằng không nên “đề tài hoá” văn học. Chúng ta nên hiểu vấn đề này như thế nào? Và vì thế, văn học đề tài công nhân, người lao động những năm tới sẽ có bước đi ra sao?

- Có cần thiết không phải nhắc lại một điều sơ đẳng: không có văn học đề tài. Nhưng rõ ràng có đề tài trong văn học. Khi càm trên tay một tác phẩm văn học ta dễ dàng nhận ra nhân vật trung tâm là ai, họ đang sống và hoạt động trong môi trường nào. Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu hay Gió từ miền cát của Xuân Thiều rõ ràng viết về những người thợ, những người quản lý trong môi trường lao động. Như vậy nói đến đề tài chỉ là nói đến công việc và không gian mà nhân vật trung tâm của tác phẩm hoạt động. Đề tài không làm nên giá trị của tác phẩm nhưng nếu không có đề tài thì khác nào diễn viên không có sân khấu thể hiện.

Hiện thực cuộc sống khá phong phú và sinh động. Đó thực sự là miếng đất màu mỡ để văn học đề tài công nhân gieo mầm và phát triển. Tôi không chủ quan mà nói rằng văn học đề tài công nhân rồi đây sẽ là mảng văn học quan trọng bậc nhất của văn học nước ta thế kỷ XXI. Tất nhiên bạn đọc sẽ không chấp nhận những tác phẩm nông cạn, hời hợt, tô hồng hay bôi đen một chiều. Cuộc sống đầy cam go và bất trắc, vì thế văn học không thể giản đơn. Chúng ta thử hình dung nếu có nhà văn nào dũng cảm đến với những người thợ cầu Cần Thơ, nơi đã từng xảy ra sự cố sập cầu dẫn đến mấy chục người lao động bị chết, để viết thì chắc chắn những trang viết của họ sẽ có cả mồ hôi và máu. Nếu nhà văn có tâm huyết và thực sự có tài thì lo gì không có tác phẩm hay.

Nói đến đây lại là nói đến công việc của Chi hội rồi. Chi hội Nhà văn Công nhân rất muốn đưa các hội viên của mình đến với những điểm nóng của công cuộc xây dựng đất nước. Chúng tôi rất mong được Nhà nước, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hay Hội Nhà văn Việt Nam đặt hàng. Và vì sao những tập đoàn kinh tế, những Tổng Công ty đã xây dựng nên những công trình lớn có quy mô “Công trình thế kỷ” lại không đặt hàng các nhà văn?

- Xin cảm ơn nhà thơ.

 

(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác