Văn hóa nông thôn trong tiểu thuyết sau đổi mới nhìn từ biểu tượng và ngôn ngữ


 

Hệ thống biểu tượng trong không gian văn hóa nông thôn

Nông thôn là nơi bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống. Các giá trị này được biểu hiện, sống trong đời sống cộng đồng như những biểu tượng, biểu trưng cho văn hóa, cho các sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng cũng như các sinh hoạt khác của xã hội nông thôn. Biểu tượng về cơ bản là những hình ảnh, hình tượng, vật thể tự nhiên hay nhân tạo mang giá trị tượng trưng, biểu đạt nhiều hơn cái biểu nghĩa đơn thuần thuộc về nó. Biểu tượng tồn tại như là hiện thân của ký ức tập thể, của lịch sử văn hóa cộng đồng. Gilbert Durand cho rằng: “Biểu tượng rộng lớn hơn cái nghĩa được gán cho nó một cách nhân tạo, nó có một sức vang cốt yếu và tự thân”1. Khi nói đến biểu tượng cũng là nói đến khả năng hàm nghĩa, cô đọng, phổ quát, có tính đại diện... Khi xem xét cách tổ chức thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới, có thể thấy quan điểm của C. Lévi Strauss đã mang lại những tưởng tượng tích cực: “Mọi nền văn hóa đều có thể được xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng…”2.

Hệ thống biểu tượng văn hóa nông thôn được sử dụng rất phổ biến trong tiểu thuyết viết về đề tài này sau đổi mới. Đó là một tất yếu lại cũng là một đặc sắc khi ký ức của cộng đồng làng xã thể hiện trong hệ thống biểu tượng, chuyển dẫn vào tác phẩm trở thành các biểu tượng văn học. Khai thác những lớp nghĩa tiềm ẩn, các thông điệp từ hệ thống biểu tượng, tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới đã đụng chạm đến một trong những phần nhạy cảm nhất của nông thôn Việt Nam. Từ cuối thập kỷ 80 đến đầu những năm 90 (thế kỷ XX) với các tác phẩm Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Người giữ đình làng (Dương Duy Ngữ), Dòng sông Mía (Đào Thắng), Kẻ ám sát cánh đồng (Nguyễn Quang Thiều), Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường), Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn), Ma làng (Trịnh Thanh Phong)... hệ thống biểu tượng của văn hóa nông thôn đã đi vào tiểu thuyết với một sinh lực mới.

Đình làng là một trong những biểu tượng lớn của đời sống văn hóa nông thôn. Đình làng Đông trong tiểu thuyết Bến không chồng, đình làng Phượng trong tiểu thuyết Người giữ đình làng, Đình làng Nhô trong tiểu thuyết Kẻ ám sát cánh đồng, đình làng Thái Hòa trong tiểu thuyết Dòng sông Mía, đình làng Bái Hạ trong tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm, đình làng Động trong tiểu thuyết Thời của thánh thần... đã kiến tạo nên một không gian văn hóa, một đại tự sự của nông thôn Việt Nam. Người dân nông thôn tự hào với cái đình làng của họ: “Đình làng Đông to nhất” [Bến không chồng, tr. 10]. Đình làng “… đối với mỗi người là những kỷ niệm không thể phai mờ… Với Quý, ngôi đình làng mình bao giờ cũng thiêng nhất… Đình là nơi thờ Đức Thành hoàng bản thổ, nơi hội họp, nơi sinh hoạt văn hóa của làng. Đình cũng là nơi chứng kiến nhiều sự bất công và thấm đẫm nước mắt… Không có đình nên làng chỉ là cái xóm, một cái xóm hoang có dân số đồng gấp rưỡi số dân của làng Trung và làng Yên” [Người giữ đình làng, tr. 16]. Như thế, đình không chỉ là biểu tượng của tinh thần mà còn là biểu tượng của thể chế, của tổ chức làng xã, có tính quy chuẩn về một tầm mức phát triển nhất định. Có đình làng nghĩa là vượt lên khỏi mức độ là xóm, là một cộng đồng ngụ cư tạm bợ. Đình làng đánh dấu sự trưởng thành của cộng đồng, là hiện thân của thiết chế được thừa nhận. Có thể nói, đối với tiểu thuyết viết về nông thôn, khai thác biểu tượng đình làng là đi vào “long mạch” của làng xã, của cấu trúc xã hội nông thôn. Bởi thế, cái chất nông thôn hiện lên, kiến tạo khí hậu của tác phẩm: “Hướng đình làng mình là do cụ (cụ Tả Ao) thuận theo mệnh trời ủy thác chọn cho và được dựng ngay trên gò đất cao mà làng đã lập đàn tế giời. Gò đất cao này có tên chữ rất hay: gò Tụ Hội” [Người giữ đình làng, tr. 23]. Có thể nói, đình làng trở thành một “điểm hội tụ” để khai triển những mối liên hệ, đối thoại, giao tiếp, tổ chức cấu trúc tự sự của tiểu thuyết viết về nông thôn. Đình làng Nhô là nơi diễn ra tất cả các hoạt động sinh hoạt của làng, gắn với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của làng. Bất kỳ biến cố nào liên quan đến cộng đồng đều được đưa ra đình làng để nghị sự, bàn bạc, giải quyết. Đình đại diện cho ý chí tập thể, đại diện cho tinh thần của nhân dân trong làng.

Đình làng là không gian thiêng, là không gian cộng đồng rộng lớn nhất trong tổ chức không gian làng xã. Chẳng thế, từ xa xưa, người dân quê đã ví “to như cái cột đình”, “tội tày đình”. Đình tập trung ý chí, sức mạnh, tinh thần của cộng đồng, nên hoạt động diễn ra ở đình là hoạt động quyết định đến những vấn đề trọng đại, liên quan đến vận mệnh của làng. Tổ chức truyện kể trong những “âm vang” của biểu tượng đình làng mở mở ra cho các tiểu thuyết gia những hướng tư duy về địa lý học, phong thủy, những quan niệm về thế đất, hướng đất, sự hưng vong, suy thịnh của làng. Người dân nông thôn với tín ngưỡng đa thần, phiếm thần cùng với đời sống tâm linh trọng âm luôn xem đình làng là biểu tượng của thần quyền và vương quyền. Bởi thế, không ai dám đập phá, tư hữu những gì liên quan đến đình làng. Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới đã đề cập đến một trong những nỗi đau của nông thôn Việt Nam là những sai lầm trong cái cách ruộng đất, những chủ quan, duy ý chí trong xây dựng nông thôn ở miền Bắc. Trong đó, việc đập phá, dỡ bỏ đình làng là một trong những ký ức không thể quên của nông thôn. Đình làng Phượng trong tiểu thuyết Người giữ đình làng là một minh chứng tiêu biểu cho mạch tự sự này của tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới. Cuộc đấu tranh gìn giữ đình làng của ông Quý, ý định dỡ bỏ đình làng của lực lượng “tiến bộ” trong Ủy ban và Đảng ủy, mâu thuẫn giữ bí thư đảng ủy Lý với cha mình là ông Lệ trong việc giữ hay phá đình làng... cho thấy một trong những câu chuyện trọng đại nhất của nông thôn Việt Nam trong và sau cải cách ruộng đất. Cùng với việc xóa bỏ các hủ tục, tàn dư của chế độ phong kiến, nhiều giá trị cốt thiết của đời sống vật chất, tinh thần nông thôn đã bị đe dọa, bị xâm phạm. Lý do nằm ở chính sự duy ý chí, chủ quan, tả khuynh của những người thực hiện chính sách: “Thời buổi vô thần, còn ai cúng bái nữa. Để đình làm gì. Dỡ ra còn làm được vô khối việc, chứ để nó dột nát, đổ sập xuống thì chỉ còn là một đống hoang phế những ngói vỡ, gỗ mục, cho chó mèo hoang, rắn rết, cầy cáo làm tổ” [Người giữ đình làng, tr. 194]. Cấu trúc của tiểu thuyết xây dựng xoay quanh biểu tượng đình làng gắn với số phận, thân phận, diện mạo con người làng Phượng. Đình làng Phượng không bị dỡ bỏ bởi có những người am hiểu và trân trọng giá trị của đình làng như ông Quý, những người trọng tình nghĩa như vợ chồng ông Lệ, ông Hoàng... Con người nông thôn vốn nặng tình nghĩa, sợ thánh thần, tin ở quả báo, phúc ấm hậu vận... thế nên, cuộc đời các nhân vật trong Người giữ đình làng đã tuân theo luật nhân quả, báo ứng từ thái độ của họ đối với con người, đối với các giá trị thiêng liêng của làng.

Cùng với biểu tượng đình làng, trong các tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới còn có thể thấy một hệ thống biểu tượng khác như: nhà thờ họ, cây đa, cây quéo, cây gạo, bến nước, ruộng đất, người trưởng tộc, người già... Tổ chức truyện kể theo hệ thống biểu tượng này giúp tái hiện chiều sâu của đời sống, văn hóa nông thôn. Làng Đông có cây Quéo cao nhất, có nhà thờ họ Nguyễn lớn nhất (Bến không chồng), làng Bái Hạ có cây Gạo thiêng, nhà thờ họ Bùi làng Đông Phúc, cụ Huệ trưởng họ Bùi, cây bưởi ra hoa bốn mùa (Thần thánh và bươm bướm), nhà thờ họ Trần làng Nhô, cụ Tín trông coi nhà thờ ho Trần (Kẻ ám sát cánh đồng)... đều là những biểu tượng cho phép các cấu trúc tự sự vận hành, kiến tạo không gian văn hóa nông thôn. Xoay quanh các huyền thoại này là lịch sử, văn hóa, con người nông thôn. Chính ở nơi các biểu tượng tỏa sáng các lớp ý nghĩa, giá trị của mình, những câu chuyện, ký ức của làng được kể đồng thời còn ngầm ẩn những diễn biến của tương lai:

“Khoảng một giờ sáng Khả chìm vào giấc ngủ, hắn mơ thấy hắn bé như một con chuột chù và hôi rinh rích. Trước hắn là bậc thềm tam cấp cao ngất, phía bên trên những bậc tam cấp mây đen ngùn ngụt tạo thành một dải bóng tối.

“Mi đi đâu”

Một câu hỏi từ bóng tối bí ẩn vọng xuống.

“Tôi lên trên kia”, Khả nói.

“Bẩn thỉu và hôi hám như mi mà cũng dám đòi lên đấy ư?”

“Ông là ai mà cấm tôi”

“Ta là người”

“Tôi cũng là người”

“Nói láo. Đồ chuột bọ, rắn rết”

“Cho tôi lên”

“Bân thỉu như mi không được quyền đặt chân lên bậc tam cấp này”

Tiếng người từ trên kia vừa nói xong thì bậc tam cấp liền cao lên, cao mãi.

“Ngươi là ai mà cấm ta”. Khả hét lên.

“Ta là người”

Mây chợt thưa đi, và thấp thoáng sau bóng mây là ông cụ Tín. Sau ông cụ là nhà thờ họ Trần” (Kẻ ám sát cánh đồng - tr. 122 - 123)

Khả cảm thấy sợ, cảm thấy hắn bị trừng phạt, bị vạch mặt khi đứng trước nhà thờ họ. Sức mạnh của siêu nhiên, của các thế lực vô hình, của các giá trị mà biểu tượng gợi dẫn làm cho con người nhận thức được tính hiện hữu tức thì của nó trong liên hệ với lịch sử, với những ký ức tập thể làm nên thân phận, diện mạo của con người nông thôn.

Sử dụng hệ thống biểu tượng như là một phương thức tổ chức tự sự, như một ngôn ngữ, các tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới đã tạo nên khí hậu, trường văn hóa, thẩm mỹ riêng cho mình. Sự xuất hiện đậm đặc các biểu tượng trong không gian truyện kể làm cho thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết viết về nông thôn mang được dấu ấn phong cách riêng trong sự nở rộ của các đề tài tiểu thuyết sau đổi mới. Tính đồng hiện của các ý nghĩa mà biểu tượng gợi lên chính là cơ sở cho những phương thức tổ chức trần thuật, tổ chức ngôn ngữ. Tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết viết về nông thôn, có thể nói, được kiến tạo dựa trên các ý nghĩa của hệ thống biểu tượng làng quê. Đó là một đặc sắc nghệ thuật của mảng tác phẩm này.

 

Hệ thống ngôn ngữ nông thôn như là các ký hiệu văn hóa

Theo các nhà nghiên cứu ký hiệu học, “Ký hiệu là một sự vật, do sự tồn tại tự nhiên hoặc do con người sáng tạo ra theo ước lệ, có tác dụng chỉ ra một hiện thực ở bên ngoài nó và được tập thể xã hội thừa nhận”3. Cuộc sống của chúng ta được vây bọc bởi muôn vàn ký hiệu. Theo F. Saussure, kí hiệu có tính hai mặt bao gồm “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt”4. Giữa “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt” cũng theo F. Saussure là có tính võ đoán, nghĩa là chúng không có mối liên hệ tất yếu, bắt buộc. Nó có tính quy ước. Đẩy lý luận ký hiệu của F. Saussure đi xa hơn, một mặt R. Barthes cho rằng: “mọi ký hiệu học đều có tiền đề là mối tương quan giữa hai vế, cái biểu đạt và cái được biểu đạt”5, mặt khác, ông đã đẩy mối tương quan này vào một tương quan khác, đúng hơn là một cấp độ khác trập trùng hơn. Cái được biểu đạt trong ký hiệu ngay lập tức lại bị chuyển hóa thành một cái biểu đạt khác. Như thế, các ký hiệu luôn vẫy gọi những cái được biểu đạt mới, nhất là khi nó trở thành các huyền thoại6. Ngôn ngữ là một ký hiệu. Chính vì thế, nó biểu đạt những quy ước của cộng đồng ngôn ngữ đó đồng thời không ngừng tạo ra các cái được biểu đạt, cái biểu đạt khác khi vẫy gọi những lý hội từ cộng đồng tiếp nhận, đối thoại. Điều này xem ra có ý nghĩa trọng đại cho chúng ta khi khảo sát hệ thống ngôn ngữ nông thôn như là những ký hiệu mỹ học trong tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ đổi mới.

Trước hết, có thể thấy, tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới đã tận dụng triệt để lối nói của người dân quê trong việc tổ chức hệ thống ngôn ngữ, đối thoại của tác phẩm. Lối nói bao hàm trong đó cách xưng hô, cách gọi, cách sử dụng đại từ nhân xưng, tên gọi, các trợ từ ngữ khí, hô ngữ trong cấu trúc câu, lối đưa đẩy, ví von, thái độ “xưng tôn hô khiêm” trong truyền thống giao tiếp thôn quê... Không khó để tìm ra trong các tiểu thuyết viết về nông thôn những cái tên/ địa danh như: Xóm Giếng Chùa, làng Đông, Làng Bái Hạ, làng Đông Phúc, Tây Lợi, làng Nhô, Lão Xung, Lão Bong, Lão Khổ, ông Tổng Lỡi, ông Thống Bứt, ông Tổng Thuần, ông Lý con ông Lệ, thằng Giác con ông Cảnh, cô Ló, cô Lở, thằng Lẹp con ông Chép, bà Mến mẹ Lẹp, Quềnh, Quàng, Kỳ, Quặc, Mưa, Ất, Hơn, Xinh, chị Nhân, chị Nhường, chị Cả Thuần, chị Là, chị Cam, bà Hai Phúc, bà Đất, ông Cử, ông Tú Canh, ông Giáo Quý, ông Tuất, Trịnh Bá Thủ, Trịnh Bá Hàm, Vũ Đình Đại, ông Điền... Tên đất, tên người đã tạo nên không gian nghệ thuật của tiểu thuyết viết về nông thôn. Trong ký ức cộng đồng, những địa danh, tên người, những cách đặt tên, gọi tên như thế đã hằn sâu vào tiềm thức, gọi lên một vùng thổ nhưỡng khó nghèo, gian nan, ân tình, thật thà và chất phác, đầy âu lo những cũng luôn hi vọng. Tên người, tên đất chẳng phải cầu kỳ gì cả, cứ tự nhiên gắn với cuộc sống lao động lam lũ, khó nghèo, chân chất của họ. Khai thác hệ thống ký hiệu này, các tiểu thuyết viết về nông thôn đã đánh trúng một trong những kho tàng của ký ức đồng quê. Các địa danh và tên người này tựa như sản phẩm sinh ra từ “vô thức tập thể” (G. Jung) gắn với truyền thống đạo lý, tín ngưỡng, niềm tin của người dân nông thôn. Như cách mà F. Saussure đã gợi lên, trường văn hóa, trường liên tưởng của nông thôn được gây dựng chính từ việc nối kết các tên gọi này với đồng đất, bờ bãi, những câu chuyện, sự tích, những mối liên hệ hữu hình và vô hình trong đời sống nông thôn. Cái tên của Lẹp: “Hắn sinh ra được mẹ đặt tên là Lẹp, tên một giống cả ăn nổi trên mặt nước sông Châu…” [Dòng sông Mía, tr. 8]. Đời thằng Lẹp rồi chẳng khác gì những con cá lẹp trên sông Châu. Trong tiểu thuyết Chuyện làng Cuội, gia đình ông Hiếu được mô tả như sau: “Ông Hiếu là con trai đời chồng trước của bà cụ Đất (người ta cũng có thể gọi là bà cụ Đất). Bà Đất là con ông cụ đồ Mục em trai cụ đồ Ngoạn. Cụ đồ Mục dạy chữ nho nhưng không gặp thời nên chỉ còn xác nhà bố mẹ để lại. Người nghèo thành kẻ yếm thế, cụ ít giao du, chỉ quẩn quanh trong nhà dạy con trai học chữ nho, dạy con gái học chữ quốc ngữ. Hai đứa con đầu đặt tên là Từ và Mỡ. Người ta bảo đấy là thời kỳ cụ sống cầm hơi bằng củ Từ, củ Mỡ. Hai loại ấy đều là dây leo quanh vườn lại thích hợp với người nhàn rỗi và không đủ sức theo việc đồng áng. Hai loại củ cũng dễ ăn. Luộc hay xào… đều được. Đến đứa thứ ba, con gái thì bà đặt là Đất. Bà mẹ khốn khổ với lần có mang này lại dở chứng, toàn cậy đất vách và ghè đầu rau bếp ra ăn nên nhất quyết giành lấy quyền đặt tên cho con từ khi chưa đẻ” [Chuyện làng Cuội, tr. 12]. Bà Đất đã sống cuộc đời lành hiền như đất, như chính tên gọi của bà.

Cùng với cách gọi tên đất, tên người, các tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới còn sử dụng khẩu ngữ, từ ngữ địa phương, các cách nói hồn nhiên, mộc mạc, thẳng thắn, bộc trực của người dân nông thôn. Hình thức ngôn ngữ này có vai tro to lớn trong việc tạo nên quyển văn hóa nông thôn cho tiểu thuyết:

“Tối hôm qua làng mình ối đứa có nhét bông vào lỗ tai cũng không ngủ được, ối thằng có quyền có sắc mà đếch dám ra miệng.

- Ôi dào, cái anh Dó anh ý say rượu chứ gì! Ai người ta chấp.

- Có chấp cũng đếch làm gì được vì anh ý chửi đúng lại hay.

- Hay chứ, đúng chứ bác. Cháu nghe sướng tai ra phết vì anh ý chửi toàn những tên tuổi những thằng đểu ở làng mình…” (Ma làng, tr. 43)

Trong cách nói thẳng thắn, bộc trực của người dân thôn quê có xen lẫn những tiếng tục, những cách nói thông tục là sản phẩm tự nhiên của giao tiếp, đối thoại trong đời sống sinh hoạt nông thôn. Sự xuất hiện của ngôn ngữ thông tục trong tiểu thuyết viết về nông thông sau đổi mới có thể xem là một trong những biểu hiện của sự dịch chuyển những sắc thái ngôn ngữ thể loại. Ngôn ngữ thông tục là sản phẩm của đời sống thế tục. Chính vì thế, khi đi vào tiểu thuyết, ngôn ngữ đó đã dịch chuyển toàn bộ hơi thở đời sống dân dã, phồn tạp, bề bộn của nó vào cấu trúc đối thoại.

Ngôn ngữ của đời sống đi vào tiểu thuyết như một phương cách để rút ngắn, xóa bỏ ‘khoảng cách sử thi”, tăng cường tính thế sự đời tư. Tổ chức truyện kể trên những hệ thống ngôn ngữ này giúp cho tính đa thanh, phức điệu được phát huy. Trong tư cách là những ký hiệu thẩm mỹ, ngôn ngữ, lối nói thông tục, dân dã của người nông thôn biểu hiện thế giới tinh thần, tư duy, cách nghĩ cũng như cách ứng xử hành động của họ. Một ví dụ như việc văng tục trong lời nói của người nông dân, đó là phản ứng tức thì, có tính phản xạ trước những tình huống bị kích thích quá mức, đặc biệt là những tình huống phủ định quyết liệt hay chống đối, mỉa mai, chửi rủa, mắng nhiếc... Cái dung tục của đời sống đã thay thế hay đúng hơn đã du nhập một cách tự nhiên, đan xen vào ngôn ngữ thanh cao, trong sáng để làm tăng thêm tính đời thực trong nghệ thuật trần thuật. Và, nếu không nhầm thì, trong các tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới, những tác phẩm sống được, neo được trong ký ức của người đọc là những tác phẩm đã khai thác thành công hệ thống ngôn ngữ giao tiếp đặc thù này của người nông dân. Nghĩa là tiểu thuyết phải là đời sống, ở gần đời sống như chính đời sống. Khoảng các sử thi một thời đã làm cho ngôn ngữ tiểu thuyết chưa phải là ngôn ngữ của cuộc sống thật sự. Cái lam lũ, bề bộn, cái phồn tạp đan xem giữa thanh cao, trong sáng và thô tục, bề trái và bề phải... mới là chất sống của đời, của con người lao động.

Khi khai thác một hệ thống ngôn ngữ như là một hệ thống ký hiệu mỹ học, nghĩa là các nhà tiểu thuyết phải chú ý đến khả năng biểu nghĩa của các kí hiệu đó. Cái biểu đạt là cái ngọn của ý tứ (như M. Bakhtin nói), là cái bên trên che dấu những hàm nghĩa, những biểu đạt ở tầng sâu của tâm thức, của văn hóa, thiết chế làng xã. Một trong những ký hiệu rất tiêu biểu chính là các thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ trong đời sống con người nông thôn. Trong các tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới, có thể thấy, thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ trở thành một hình thức diễn đạt khá phổ biến. Trong tiểu thuyết Thời xa vắng, Lê Lựu đã sử dụng rất thành công hình thức ngôn ngữ này: “Cái nơi ăn trắng mặc trơn ấy con gái đẹp đã thành câu ngạn ngữ: Trai tổng Thái, gái tổng Ninh. Cái tổng Bái Ninh mà trung tâm là làng Bái Ninh, có chợ Bái sầm uất hơn cả phố huyện, con gái trăm người như một, trắng, thon thả và ăn nói dịu dàng như người trên tỉnh” [Thời xa vắng, tr. 54]. Có khi, Lê Lựu không sử dụng nguyên văn thành ngữ, tục ngữ mà dùng đại ý với hướng gợi về ký ức của thành ngữ, tục ngữ đó: “Mang tiếng là ông đồ nho, mấy đời nay chưa hề để ai chê cười nhà mình có chuyện ăn ở trên dưới như “họ nhà tôm” [Thời xa vắng, tr. 20]. Một tiểu thuyết khác cũng khá thành công với chất liệu dân gian này là Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường: Ai may được ngọc Giếng Chùa/ Rủi ai núi Bụt thả bùa ma trêu; Con hơn cha là nhà có phúc; Muốn ăn thì lăn vào bếp; Hôn nhân, điền thổ, vạn cố chi thù; Con dại cái mang; Đầu xuôi đuôi lọt; Đâm bị thóc, chọc bị gạo; Sinh có nhà, tử có mồ/ sống hiền thác lành; Rau nào sâu ấy; Cưa đứt đục suốt; Lấy độc trị độc; Miếng ăn giữa làng hơn sàng xó bếp;Ném đá dấu tay... Những thành ngữ này tự bản thân nó đã cho thấy tính hàm súc trong việc biểu nghĩa. Khi sử dụng thành ngữ, tục ngữ và các câu hát dân gian, tác giả tiểu thuyết đã dựng nên cả một vùng khí hậu nông thôn, vừa thâm thúy sâu sắc, vừa hóm hỉnh sâu cay. Có thể nói, khai thác các thành ngữ, tục ngữ, lối nói dân dã của người dân quê chính là khai thác kho tàng minh triết dân gian – “minh triết Việt”.

Trong lý luận của R. Barthes, ký hiệu biểu nghĩa được xem như là những diễn ngôn. Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới là sự hiện diện của những diễn ngôn đối thoại một cách mật thiết với nhau. Đối thoại liên văn hóa là một phối cảnh đấy tính chất đổi mới của tiểu thuyết viết về nông thôn. Với tư cách là những diễn ngôn, các hệ thống biểu tượng, các dấu hiệu biểu trưng, các ký hiệu... của đời sống văn hóa nông thôn đã đi vào tiểu thuyết như một lẽ tự nhiên, làm nên không gian nghệ thuật của tiểu thuyết, từng bước rút ngắn, xóa bỏ các khoảng cách trần thuật trong tiểu thuyết giai đoạn trước. Đó là một nét đặc sắc riêng biệt của tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới. Những giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết viết về mảng đề tài này có lẽ cần phải có thêm thời gian, có thêm những khảo cứu liên quan như: dân tộc học, địa lý nhân văn, nhân học văn hóa... Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tạm nêu lên một số kết quả nghiên cứu bước đầu. Những vẫy gọi của tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới, như M. Heidegger đã nói, vẫn ở phía trước, trên những cuộc hành trình.

Nguyễn Thị Mai Hương

---------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, H, 2002, tr. xix.

2. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, sđd, tr. xxiii.

3. Hoàng Trinh, Tuyển tập văn học, Nxb Hội Nhà văn, H, 1998, tr. 449

4. Hoàng Trinh, sđd, tr. 499.

5. R. Barthes, Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu dịch, Nxb Tri thức, H, 2008, tr. 295.

6. R. Barthes, sđd, tr. 290 - 298.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác