Vấn đề người đọc - Tiếp nhận trong lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam từ đầu TK XX (1)

(Toquoc)- Cùng với việc xác định định nghĩa tiểu thuyết với những khả năng và đặc trưng loại biệt về thể loại, phân loại tiểu thuyết dưới nhiều góc độ, đi sâu vào những phương diện thuộc nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết - tức những mối quan hệ giữa tiểu thuyết và hiện thực đời sống, tiểu thuyết và tác giả; cấu trúc bên trong của tiểu thuyết - thì một phương diện khác của lý luận về tiểu thuyết cũng được xem xét đến. Ấy là những vấn đề xung quanh việc tiếp nhận tiểu thuyết - thuộc quan hệ giữa tiểu thuyết và người đọc.

Trong giai đoạn đầu của lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam, người đọc đã được quan tâm đề cập, nhưng được xem như là đối tượng tiếp nhận thụ động văn bản tác phẩm do tác giả sáng tạo và đưa tới. Đọc tiểu thuyết là tìm đến sự giải trí, tiêu khiển, bồi dưỡng và nâng cao những tình cảm đạo đức hướng thiện, lành mạnh trong khuôn khổ đạo lý truyền thống của dân tộc.

Sang thế kỷ XX, trong hai thập niên đầu, quan niệm được khai mở từ Nguyễn Trọng Quản vẫn được tiếp tục duy trì và khẳng định. [1]

Tòa soạn báo Nông cổ mín đàm khi ban hành thể lệ cuộc thi tiểu thuyết năm 1906, đã lưu ý truyện viết phải căn cứ vào nhân vật, phong tục xã hội hiện thời, cho người đọc cảm thấy dường như là truyện có thật vậy, nêu cao cang thường, luân lý, nhân duyên thiện ác, cha con vợ chồng hòa hợp, ân báo ân, oán báo oán rành mạch, không hoang đường, dị đoan [2, tr. 23-24].

Trương Duy Toản, trong Lời tựa tiểu thuyết Phan Yên ngoại sử, tiết phụ gian truân (1910) quan niệm tiểu thuyết phải giúp người đọc thoát khỏi những ám ảnh mộng mị, dị đoan, hoang tưởng, phải phân mình trong lập trường chính tà, báo ứng trong khi sắp bày những truyện chí mới, tức những chuyện nhãn tiền đương thời [2, tr. 25].

Trần Thiên Trung, khi viết Hoàng Tố Oanh hàm oan (1916) cũng khẳng định truyện của ông “nói về việc trong xứ mình, dùng tiếng tầm thường cho mọi người dễ hiểu”, tuy ít nhiều “đồ thuyết”- tức như cách nói ngày nay là hư cấu, tưởng tượng- nhưng không phải là dị đoan, phóng đãng, vu khoát.

Và lần đầu tiên, Trần Thiên Trung đề cao vai trò tích cực của người đọc, không một chiều bị cuốn theo tác giả trong tác phẩm, mà cần có ý kiến độc lập, phản biện. Ông thực lòng đề nghị người đọc khi đọc tác phẩm tiểu thuyết này của ông “chỗ nào có sơ siểng xin chư quí vị khán quan dung túng” [2, tr. 26].

Phạm Quỳnh, cây bút dịch thuật, biên khảo lý luận về tiểu thuyết dành nhiều sự quan tâm đến người đọc. Ông cho rằng sự tả chân, tả thực trong văn chương phương Tây mà ta cần học tập, dùng vào việc viết tiểu thuyết ngày nay là rất đắc địa. Nếu văn chương ta ngày trước ít dùng lối tả thực, xem đó là tầm thường, mà thiên về sự “mập mờ phảng phất, phiến diện, huyền diệu” - thì ngày nay muốn hấp dẫn và làm cảm động người đọc phải “lấy sự tả chân làm cốt”. Phạm Quỳnh khen ngợi đoản thiên tiểu thuyết của Phạm Duy Tốn đã đi theo lối văn đó, các truyện của tác gia này “như một tấm ảnh phản chiếu các chân tướng như hệt”, chứ không phải viết “lối phá bút”.

Phạm Quỳnh nhận ra đặc sắc của văn chương tả thực Phạm Duy Tốn là ở chỗ tác giả không xuất hiện hoặc can thiệp. Trong khi kể lại câu chuyện, “không cần phải nghị luận xa xôi”, mà để sự thật trong truyện nói với người đọc và người đọc từ đó cũng bị cuốn theo và có sự biểu lộ tự thân. “Phàm văn chương đã tả hết các cảnh thực là tự khắc có cái sức cảm động vô cùng” - họ Phạm khẳng định từ thực tiễn sáng tác của Phạm Duy Tốn. Ông khen ngợi đoản thiên tiểu thuyết của Phạm Duy Tốn là những bài tả thực tuyệt khéo và đã tôn trọng sự tiếp nhận độc lập, chủ quan từ nơi người đọc. Tác phẩm của Phạm Duy Tốn khi trình bày “đối hai cảnh trái ngược nhau như bằng hai bức tranh trước mắt người ta” thì người ta sẽ “tự khắc xảy ra một cảm giác tức giận, cái tư tưởng thống mạ kẻ “chễm chệ” này không biết thương lúc “lấm láp” kia [2, tr. 29-30].

Chuyên luận Khảo về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh đăng trên Nam Phong 1921 là một công trình nghiên cứu công phu, minh triết. Lần đầu tiên ông làm rõ khái niệm về “người đọc”. Ngay trong định nghĩa về tiểu thuyết do ông đưa ra cũng bao hàm phạm vi cần phải quan tâm khi viết tiểu thuyết là phải “đủ làm cho người đọc có hứng thú”. Tiếp đó, khi diễn giải các phương diện kết cấu, phô diễn, phân loại tiểu thuyết ông đều không quên đứng về phía người đọc mà yêu cầu. Ví dụ:

Về kết cấu: “Truyện kết cấu ra, nghĩa là có sự sửa sang xếp đặt cho có ý nghĩa, có hứng thú hơn, nhưng dẫu không phải là việc thực mà phải khiến cho người đọc có cái cảm giác rằng những việc ấy có thể xảy ra như thế được, không có gì là hoang đường, kỳ dị, không có gì là trái ngược với lẽ thường vậy” [2, tr. 149].

Về phô diễn: “Phô diễn tức là hành văn. Văn tiểu thuyết chú trọng nhất là lối tự sự, mà cũng có tham dụng những lối tả cảnh, tả tình, vấn đáp… dù dùng lối nào cũng phải cốt lấy được tự nhiên, cho có linh động, khiến cho người đọc có cái cảm giác như trông thấy, nghe thấy người thực, việc thực vậy” [2, tr. 159].

Về phân loại: Sau khi Phạm Quỳnh chia tiểu thuyết làm ba loại lớn: ngôn tình, tả thực và truyền kỳ, ông giả định rằng loại tiểu thuyết truyền kỳ có thể thích hợp với người đọc ở ta hiện nay hơn cả, nên chăng chú trọng phát triển loại tiểu thuyết này hơn so với hai loại kia. Ông viết: “trong ba loại tiểu thuyết kể trên, có lẽ loại truyền kỳ là người mình có thể luyện tập, có thể bắt chước dễ hơn cả, một là vì loại này gần giống với các tiểu thuyết Đông phương ta hay ưa những việc kỳ quái, khác thường, hai là loại này không trọng văn chương lắm, vừa thích hợp với trình độ một lối văn còn non nớt như văn ta, thử ngoại lại còn được cái hay, cái lợi là có thể gián tiếp giúp cho sự phổ thông giáo dục. Dám khuyên các nhà làm tiểu thuyết ta nên chú ý vậy. [2, tr. 171].

Kết luận chuyên khảo về tiểu thuyết rất có giá trị nói trên, Phạm Quỳnh dành ít dòng bàn về triết lý của tiểu thuyết và ảnh hưởng của tiểu thuyết đối với người đọc, với xã hội.

Dựa vào tư tưởng triết học của nhà triết học Anh Ba-con về ý hướng của con người từ bao đời nay là không bằng lòng với thực tại luôn khát khao mơ ước, tưởng tượng về một cuộc đời đẹp đẽ, thú vị hơn, Phạm Quỳnh khẳng định một nguyên lý căn bản của tiểu thuyết mà ông gọi là triết lý sâu xa của tiểu thuyết, xét về phía người đọc. Ấy là tiểu thuyết chú trọng tạo dựng nên một cuộc sống khác để người đọc khi đọc nó, nhập vào, sống với thế giới đó, vươn tới những cái cao thượng, tốt đẹp. Tiểu thuyết giúp cho người đọc phát triển hoàn nguyên, hoàn thiện bản tính người của mình. Đọc tiểu thuyết là sống với thế giới và con người do tiểu thuyết tạo dựng, chia sẻ, đồng cảm và phán xét thế giới ấy, tự nhân lên chiều kích sống đích thực nhân bản nơi mỗi một người đọc; biến tiểu thuyết từ chỗ là “vật tự nó” thành “vật cho ta”. Mỗi người đọc tìm thấy trong tiểu thuyết ý nghĩa riêng, sâu xa, thú vị đối với mình. Văn bản tiểu thuyết phát huy nghĩa tiềm năng qua sự đọc tích cực: “Tiểu thuyết dẫu thuộc về lối tả thực đi nữa, cũng là đặt ra một truyện khác với việc thường của mọi người, khiến cho người ta trong khoảng thời gian hoặc dài hoặc ngắn cầm quyển truyện trên tay đọc, thoát ly được ra ngoài cái đời mình mà cùng với người trong truyện hoặc vui hoặc buồn, hoặc sướng hoặc khổ, hoặc đi viễn du những nơi xa đất lạ, hoặc ngồi hồi tưởng những việc cũ, việc xưa. Tiểu thuyết hay thời người đọc trong lúc đọc tưởng như không phải là mình nữa, mà tưởng là một người trong truyện vậy [2, tr. 172].

Tiểu thuyết phải đến với người đọc, được người ta tìm đọc vì thấy nó hay, thú vị, hấp dẫn. Đọc tiểu thuyết, người đọc sống một lần nữa với thế giới và nhân vật của tiểu thuyết bằng tất cả kinh nghiệm sống, tâm hồn, trí tuệ của mình. Họ nhập vào đó và thấy mình như cùng được can dự vào bởi đó cũng là cuộc sống của họ, là truyện với những vấn đề của họ, khiến họ phải quan tâm và bày tỏ thái độ.

Phạm Quỳnh vừa thấy các phương diện của tiểu thuyết hay tác động tích cực vào người đọc cá nhân: tiêu khiển giải trí, mở mang việc học, suy xét việc đời. Tuy nhiên không chỉ xét về phía một cá nhân người đọc khi đến với tiểu thuyết, Phạm Quỳnh đồng thời lưu ý đến người đọc số đông, người đọc của toàn xã hội. Ông không tán thành loại truyện dở, làm cho người ta hoàn toàn thoát ly, quay lưng với cuộc sống, băng hoại phong tục tập quán xã hội. Tiểu thuyết hay là phải gắn bó với cuộc đời, với mỗi người và với toàn xã hội “có cái trách nhiệm duy trì cho xã hội, dìu dắt cho quốc dân”. Nếu không vậy, dù văn chương có hay đến đâu, tiểu thuyết sẽ gây ảnh hưởng xấu cho đất nước và xã hội, “có tội với quốc gia, với danh giá vậy” [2, tr. 173-174].

Có thể thấy rằng với Khảo về tiểu thuyết, lần đầu tiên trong lý luận về tiểu thuyết, Phạm Quỳnh đã đề cập đến vấn đề người đọc tiểu thuyết và tác dụng xã hội của tiểu thuyết một cách sâu sắc, tường minh đến nay vẫn phát huy được giá trị.

Vào giữa những năm 30 của thế kỷ XX, trên văn đàn nước ta nổ ra cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật giữa hai phái mà ta quen gọi là “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh”. Trong quá trình tranh luận, bút chiến, đại biểu của hai phái có đề cập đến vấn đề tiểu thuyết và người đọc khi bàn về mối quan hệ giữa văn chương và đời sống xã hội, với người đương thời.

Thiếu Sơn, một cây bút được liệt vào phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”, bác bỏ quan niệm thi ca và tiểu thuyết là loại “văn chương chơi”, khẳng định những thể văn này có vị trí xứng đáng trên văn đàn và các nhà tiểu thuyết có vị trí vẻ vang của họ. Theo ông, “nhà viết tiểu thuyết chính là những người đứng giữa đời nói chuyện đời cho người đời nghe”. “Tiểu thuyết là một thể văn phổ thông hơn hết”, “được nhiều người ham đọc, đọc để mong được gặp cái tâm sự của mình, cảm động cho cái tâm sự của người, để hưởng một giấc chiêm bao êm đẹp, hay để thấy một cái hoài bão của mình có người đeo đuổi và thực hành” [3, tr. 622].

Tuy nhiên, theo ông văn chương phải “lấy nghệ thuật làm gốc”, nhà văn phải chăm chút ở “sự trau dồi cái đẹp”, từ đó truyền mỹ cảm cho người đọc các loại trong xã hội.

Hoài Thanh cũng vậy. Ông cho rằng “người ta vẫn có thể đứng về phương diện xã hội phê bình một văn phẩm cũng như người ta có thể phê bình về phương diện triết lý, tôn giáo, đạo đức… Nhưng có một điều không nên quên là các phương diện ấy đều là phương diện phụ… Điều chắc chắn là trong khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, lẽ cố nhiên phải để nghệ thuật lên trên, lẽ cố nhiên phải chú ý đến cái đẹp trước khi chú ý đến những tính cách phụ, những hình thức tạm thời của nó [3, tr. 577]. “Tùy theo sở thích của mình, nhà văn muốn lấy tài liệu ở đâu cũng được, miễn làm thế nào tạo nên cái đẹp, trao mỹ cảm cho người xem, thì thôi” [3, tr. 179].

Đề cao tác dụng giải trí làm đẹp cho đời, ví văn chương như một bông hoa giúp cho người đọc tận thưởng thức cái đẹp của hương vị, màu sắc xinh tươi của nó, “quên những nỗi nhọc nhằn mà trong chốc lát hưởng những phút say sưa”, Hoài Thanh cho như vậy đã là đủ. Hà tất cứ phải “bắt người ta nghe hoài bài học về luân lý xã hội” từ một tác phẩm văn nghệ, với mong muốn rằng “một tác phẩm văn nghệ có thể ảnh hưởng đến chính trị, tôn giáo, đạo đức” ? [3, tr. 579-580]

Ngược lại với phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”, phái “nghệ thuật vị nhân sinh” đặc biệt chú trọng đến loại người đọc là người lao động, cho rằng văn chương nói chung, tiểu thuyết nói riêng, trước hết phải hướng về những người đọc ấy- quần chúng đông đảo trong xã hội mà đương thời gọi là bình dân.

Về cuối cuộc tranh luận, phái “nghệ thuật vị nhân sinh”, qua ý kiến của Hải Triều, đã đi đến một quan niệm có sức thuyết phục. Trong bài “Đi tới chủ nghĩa tả thực trong văn chương: những khuynh hướng trong tiểu thuyết” (Tao Đàn, 1939), ông nhấn mạnh không có thứ “văn chương độc lập” chỉ thiên về nghệ thuật. Trong văn chương tiểu thuyết “không có thứ văn chương gì mà không có xu hướng”. Bởi vậy “viết một cuốn tiểu thuyết bao giờ nhà văn cũng có một chủ ý trình bày cùng độc giả một chủ nghĩa gì, một triết lý gì, hay không nữa thì cũng ghi lấy một ý nghĩ gì thoáng qua nhưng nó thiết tha, cảm động hay ngộ nghĩnh, khôi hài”.

Nhưng Hải Triều cho rằng khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm phải được trình bày một cách nghệ thuật chứ không thể bộc lộ một cách vô duyên, non nớt, ngớ ngẩn chỉ làm mất thì giờ của người đọc, làm cho họ buồn phiền vì đã phí công với những tác phẩm vô bổ ấy. Hải Triều viết: “Một tác phẩm hay (tôi dùng chữ hay trong vòng tương đối) không những vì nó đã đi đúng với cái thị hiếu đương thời của độc giả, mà còn hay ở nơi xếp cảnh, xếp tình của tác giả nhẹ nhàng, kín đáo đẹp đẽ… Tôi nghĩ một thiên tiểu thuyết hay cũng giống như cái điệu đàn đã thoát tiếng tơ, mà nhà văn sĩ biết trọng nghệ thuật chắc không bao giờ lại đi bắt chước thằng cha nhắc tuồng, vọt ra ngồi chồm ngỗm giữa sân khấu” [3, tr. 1000].

Qua bài viết xuất sắc này, Hải Triều đã đáp trả đích đáng sự ngộ nhận của phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” rằng phái các ông đã quan niệm thô thiển về văn chương, không hiểu biết về tính nghệ thuật của văn phẩm, chụp mũ người khác là trưởng giả, chỉ xem mình là biết quan tâm đến bình dân… Với Hải Triều, đã thấy rõ lập trường macxit về văn học nghệ thuật không hề có sự phân biệt đối tượng độc giả mà yêu cầu tác phẩm nghệ thuật phải đạt tới cái hay chỉnh thể cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật một cách nhuần nhuyễn, như “điệu đàn đã thoát tiếng tơ chỉ còn bung ra giữa không trung những âm điệu nhẹ nhàng, êm ái hay mãnh liệt, hùng hồn” [3, tr. 1001].

Cuối những năm 30 đầu những năm 40 của thế XX, Thạch Lam, một nhà văn trong Tự lực văn đoàn, cùng với việc viết truyện ngắn và tiểu thuyết, ông đã có những ý kiến sâu sắc về tiểu thuyết và độc giả của nó. Trước hết ông phân loại thành hai hạng người đọc tiểu thuyết: Họ đều đọc sách để giải trí, nhưng nhiều hơn là hạng tìm đến cách giải trí thông thường, để mua vui, thỏa mãn với cốt truyện ly kỳ, rắc rối, không xem trọng tư tưởng hay nghệ thuật văn chương của tác phẩm. Họ đọc tiểu thuyết mà như người ăn cơm cốt lấy no, đọc hết quyển này đến quyển khác, không phân biệt được hay dở, chỉ say mê với cốt truyện. Bởi vậy văn chương lãng mạn thoát ly, tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm, trinh thám, kiếm hiệp, du ký… được họ ưa chuộng.

Loại độc giả thứ hai, tuy ít hơn, nhưng được Thạch Lam xem trọng, bởi họ ưa suy nghĩ tìm cách giải trí lý thú bằng hoạt động trí óc trong sự đọc. Họ thờ phụng và theo dõi cái đẹp, cái hoàn toàn. Đọc sách đối với họ là cách luyện mình để cho tâm hồn phong phú dồi dào hơn lên. Họ chú trọng đến nghệ thuật miêu tả thế giới bên trong của nhân vật, tư tưởng và tâm hồn của nhân vật, chứ không phải là sự sắp đặt bố trí câu chuyện làm thành cốt truyện.

Thạch Lam xem loại độc giả thứ hai này là bạn tri kỷ của nhà văn và văn chương tiểu thuyết. Họ là thước đo trình độ của một nền văn chương, góp vào việc duy trì những tác phẩm để đời, “không phải mai một trong quên lãng” [4, tr. 41-42].

Cũng ở giai đoạn này Thạch Lam lý giải về trường hợp Tố Tâm vì sao lúc xuất hiện được hâm mộ nồng nhiệt, nhưng chỉ vài ba năm sau khi sách tái bản, người đọc không còn vồ vập như trước nữa. Theo ông, vì tiểu thuyết Tố Tâm là tiểu thuyết “chỉ có cái sôi nổi một thời mà không có gì lâu bền sâu sắc”. Nghệ thuật của tác phẩm không vững bền, chỉ dừng lại phân tích cái tâm lý hời hợt bên ngoài, một cái thái độ của tâm hồn mà thôi, không đi tới được cái sâu sắc của tâm hồn người, vật. Cho nên chỉ sau một thời gian ngắn, không ai nhắc đến tiểu thuyết này nữa.

Đối với ông tác phẩm phải đạt tới sự vững bền, ngoài cái phần cấu tạo vì thời thế còn có những cái bất diệt, đời đời trong các nhân vật. Như vậy mới có thể nói là tác phẩm có nghệ thuật chắc chắn, “trong đó nhà văn biết đi qua những phong trào nhất thời, để suy xét đến những tính tình bất diệt của loài người”. Thạch Lam khẳng định: “Viết văn về vấn đề gì thì viết, nhà văn cốt nhất phải đi sâu vào tâm hồn mình, tìm những tính tình và cảm giác thành thực: tìm thấy tâm hồn mọi người qua tâm hồn của chính mình, đi đến chỗ bất tử mà không tự biết” [4, tr. 16].

Thạch Lam nhắc nhở nhà văn ta về chỗ yếu của phần lớn nhà tiểu thuyết đương thời ở ta là đã đi nhầm đường, chưa thành thực và can đảm mình dám là mình, trong cái nhìn và giọng điệu nghệ thuật, chưa biết chú mục vào chỗ mạnh của tiểu thuyết là đi sâu vào thế giới bên trong của con người- một thế giới phi vật thể, vi mô, huyền diệu. “Họ mang trong người một cái của quí vô hạn mà cứ đi tìm những đâu đâu như người vác gói bạc trên vai mà không biết, lại ngửa tay đi ăn xin. Của quí ấy là tâm hồn của họ. Đáng lẽ đi theo những khuôn sáo sẵn, họ trở về trong lòng, suy nghĩ và phân tích những sự thay đổi của tâm hồn mình, thì hay biết bao nhiêu” [4, tr. 28-29].

Chính vì vậy, cuối cùng, Thạch Lam yêu cầu nhà văn khi viết cần biết kính trọng mình, kính trọng tác phẩm, cũng tức là kính trọng người đọc. Không được “viết ra một cách vội vàng, một cách cẩu thả, một cách khinh rẻ vô cùng”. Nếu thiếu đi đức tính kính trọng ấy sẽ “không bao giờ có công cuộc giá trị và lâu bền”.

Kể cả những độc giả như trẻ em và đàn bà cũng phải được kính trọng. Viết cho trẻ em không phải là việc dễ, viết thế nào cũng được. Muốn thành công khi viết cho trẻ em phải yêu mến câu chuyện mình viết và kính trọng độc giả ít tuổi của mình. Phải nhập vào thế giới của trẻ em, nhìn đời và xét đoán theo tâm lý của trẻ. “Viết cho trẻ đọc, trước hết là đứng thay vào chỗ của trẻ, là tự mình trẻ lại, tìm lại được cái trí tò mò tỉ mỉ, cái lý luận thẳng thắn, và nhất là cái độc lập, tự do lạ lùng của trí não trẻ con”. Khi ấy, những văn phẩm được viết ra vừa thích hợp cho trẻ em lại vừa thích hợp cho người lớn.

Viết cho đàn bà cũng vậy. Không thể xem thường và qua quýt được, phải am hiểu tâm lý phụ nữ, đọc được những ý nghĩ và những tâm sự kín đáo, uyển chuyển của những bà mẹ, bà vợ, người thiếu nữ và coi trọng lời văn nghệ thuật. Chỉ như vậy mới hy vọng tác phẩm đến được với phụ nữ , được họ đọc và sống với họ.

Sau Thạch Lam vài năm, trong chuyên luận Khảo về tiểu thuyết (đăng trên báo Trung Bắc Chủ nhật những năm 1941-1942, mãi sau 1955 mới xuất bản thành sách), nhà văn- nhà tiểu thuyết Vũ Bằng đã dành nhiều trang bàn về nghệ thuật viết tiểu thuyết. Đặc biệt ở phần cuối và chương Kết luận, ông đã đề cập đến vấn đề cái vinh và cái nhục của nhà tiểu thuyết trong quan hệ với người đọc và sự đọc.

Cái vinh của nhà tiểu thuyết chuyên nghiệp là sáng tạo ra cuốn sách tâm đắc, trong đó nói ra được những điều mình ấp ủ trong lòng, hợp với cái tạng và sở trường bút pháp của mình.Đồng thời tác phẩm đó được người đọc say sưa đón nhận ngay lúc đồng thời cũng như lâu dài về sau. Tác phẩm như vậy góp vào việc xây dựng lâu đài văn học cho đất nước.

Còn cái nhục của nhà tiểu thuyết lại là ở chỗ sau khi kỳ khu, vất vả lao tâm khổ tứ dốc lòng và hết mình cho cuốn tiểu thuyết với bao hy vọng về sự thành công, thì ngược lại bị người đọc, nhà phê bình chê bai là hỏng.

Vì thế, theo Vũ Bằng, sự thành công của tiểu thuyết không chỉ là do cố gắng của người viết- tác giả, mà còn có phần góp sức, cộng hưởng của người đọc yêu mến và ham đọc. “Tiểu thuyết sở dĩ gây nên được những ảnh hưởng to, tiểu thuyết đã tạo những bóng mây, hơi nước khả dĩ nuôi được tâm hồn đất nước, công đó không phải là toàn của những nhà tiểu thuyết đâu, nhưng còn là công của những người đọc tiểu thuyết và những người yêu tiểu thuyết nữa” [2, tr. 345].

Giữa nhà tiểu thuyết và độc giả có mối quan hệ gắn bó thân thiết, song phương, dù lúc đầu không quen biết.Viết tiểu thuyết là để cho người khác. Ngay trong khi đặt bút viết tiểu thuyết, tác giả đã phải nghĩ đến người đọc, hướng về người đọc, chọn cách thể hiện sao cho khi đọc văn bản tiểu thuyết, người đọc hiểu và thích thú với những điều nhà văn giãi bày trong sách. Vũ Bằng đưa ra một hình ảnh để so sánh về quan hệ thân thiết, gắn bó hết mình trong trao gửi giữa tác giả và người đọc như là giữa người yêu và người yêu vậy. “Một nhà tiểu thuyết đem mình phơi bày ra trong truyện; hạnh phúc của nhà tiểu thuyết là làm cho mọi người đọc trông thấy lý tưởng của mình, gửi tấm lòng mình cho độc giả và bày cho độc giả tất cả cái kết tinh trong hồn mình, nói tóm lại, nhà tiểu thuyết tin độc giả, dâng tất cả những gì cao quí nhất cho độc giả, cũng như một xử nữ dâng cái trinh tiết cho người yêu vậy” [2, tr. 346].

Đó là một yêu thương trong sạch, một sự đồng tâm, không gì có thể chia cắt, trên đời không có cái gì so sánh được với cái tình đó.

Cần có một lớp độc giả thông minh ở mỗi thời đại, mỗi quốc gia, mỗi thời đại văn chương. Người đọc, qua việc đọc và bình giá văn chương chính là góp vào việc thúc đẩy sự sáng tác ngày một phát triển hoàn thiện hơn. Và, “một nước có nhiều người có học giúp công vào trong công cuộc sáng tạo của văn nhân bằng cách định giá, bằng cách xét đoán, bằng cách tiếp đón niềm nở những tác phẩm văn chương hay” [2, tr. 347].

Nói như cách nói của lý thuyết tiếp nhận ngày nay là người đọc cũng là một lực lượng không thể thiếu được của quá trình văn học, họ tiếp nhận văn bản tác phẩm, mở ra cho các văn bản tiềm ẩn ý được biểu đạt kia một trường ý nghĩa hiện thực vừa giới hạn vừa không cùng.

“Mai sau, sức tiến triển của nó (tức tiểu thuyết- N.N.T) ví được mạnh hơn bây giờ, cũng là nhờ ở các nghệ sĩ làm việc cho nó, và một phần lớn nhờ ở độc giả thông minh và có thiện ý chịu tìm hiểu những thú vui tinh thần thiết thực, thanh lịch và cao thượng” [2, tr. 348].

*

Tóm lại, trong lý luận về tiểu thuyết nửa đầu thế kỷ XX, vấn đề người đọc đã được đề cập đến. Mặc dầu còn sơ giản, nhưng vấn đề người đọc được xem là một phương diện quan trọng không thể thiếu, góp vào sự thành công và phát triển của thể loại tiểu thuyết. Nhà văn trong và sau khi hoàn thành văn bản tiểu thuyết cần luôn nghĩ đến người đọc sẽ tiếp nhận văn bản tác phẩm của mình. Họ là người bạn đồng hành, đồng sáng tạo, tiếp nối công việc của nhà văn, vì chỉ với họ ý nghĩa tiềm năng của văn bản tiểu thuyết mới được mở ra và phát huy tận độ. Người đọc là người bạn tâm đắc, người tình tri kỷ của nhà văn viết tiểu thuyết. Tác phẩm tiểu thuyết giúp họ nâng cao sự hiểu biết về đời sống và con người, đặc biệt là thế giới tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người, nâng cao trình độ thẩm mỹ hướng về Cái Đẹp trong cuộc sống. Mặt khác người đọc qua nhận xét, đánh giá, phê bình tác phẩm tiểu thuyết sẽ thúc đẩy hoạt động sáng tác tiểu thuyết của từng nhà văn cũng như đối với việc phát triển , hoàn thiện, làm phong phú nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đọc có nhiều hạng, họ bình đẳng khi đến với sáng tác tiểu thuyết. Song ý kiến vô tư, khách quan, chân thành và hiểu biết của người đọc về lao động viết văn và đặc trưng tác phẩm văn chương tiểu thuyết luôn là nguồn khích lệ quí báu đối với nhà văn trên hành trình sáng tạo tiểu thuyết.

PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện

(Còn tiếp)

 

>>> Vấn đề người đọc - Tiếp nhận trong lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam từ nửa sau TK XX cho đến nay (2)

­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­__________________________

[1] Nhiều tác giả - Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến 1945, (Vương Trí Nhàn sưu tầm, biên soạn), Nxb. Hội Nhà văn, 2000, 448 tr.

[2] Nguyễn Đình Thi - Công việc của người viết tiểu thuyết, in lần thứ 2, Nxb. Văn học, 1969, 188 tr.

[3] Nguyễn Hiến Lê - Nghề viết văn, Nguyễn Hiến Lê xb, SG, 1956, 224 tr.

[4] Nguyễn Văn Trung - Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết, Nam Sơn xb, SG, in lần thứ 2, 1965, 232 tr.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác