Vấn đề ‘ngôn ngữ’ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại

(Toquoc)- Trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, nhiều tác giả đã chú ý viết bằng thứ ‘ngôn ngữ’ thuần Việt gần gũi dễ hiểu với muôn màu sắc của đời thường, thứ ngôn ngữ tràn đầy sức sống của dân gian.

Tiểu thuyết lịch sử là thể loại văn học truyền thống lâu đời trong văn học Việt Nam. Với đặc trưng viết về đề tài lịch sử (nhân vật, sự kiện, thời kỳ hay tiến trình lịch sử), tiểu thuyết lịch sử có những quy ước riêng, đó là mối liên quan chặt chẽ với quá khứ, cái đã xảy ra, đã tồn tại trong kinh nghiệm của cộng đồng. Những tranh cãi về quan niệm thế nào là tiểu thuyết lịch sử, có thể hư cấu ra… vẫn chưa có lời kết.

Vấn đề ‘ngôn ngữ’ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - ảnh 1
(Ảnh Internet)
Chính vì vậy, ngôn ngữ là một vấn đề đáng quan tâm đối với bất kỳ tác giả nào khi cầm bút viết tiểu thuyết lịch sử. Câu hỏi đặt ra là nhà văn lựa chọn ngôn ngữ nào để trần thuật và sử dụng ngôn ngữ nào cho nhân vật lịch sử? Với một thời đại đã cách xa chúng ta hàng trăm năm thì các nhân vật sẽ nói với nhau như thế nào? Để tái dựng lại không khí lịch sử cho tác phẩm, nhà văn phải viết ra sao? Đây là thử thách đối với mỗi nhà văn bởi nó đòi hỏi sự từng trải, vốn sống, vốn văn hóa cũng như khả năng sáng tạo và hư cấu tưởng tượng của ông ta.

Lucacs cho rằng: Tiểu thuyết lịch sử kể lại những sự kiện của quá khứ và về mặt ngôn ngữ nó tạo ra mối liên hệ với hiện tại, bởi vì người kể chuyện của hôm nay nói cho người nghe của hôm nay. Chúng ta đều biết rằng, ngôn ngữ là một sinh thể có đời sống riêng phong phú và nó in đậm dấu ấn thời đại lịch sử. Đằng sau cái hồn cốt mang tính hằng thể, lớp ngôn ngữ bề mặt luôn có sự tự cải biến và làm mới mình với sự thích nghi vô cùng đa dạng trong từng thời kỳ. Ngôn ngữ của người Việt cách chúng ta hàng trăm năm chắc chắn khác xa với ngôn ngữ thời hiện đại (1). Điều đó còn có thể được kiểm nghiệm khi khảo sát ngôn ngữ trong các tiểu thuyết lịch sử đầu thế kỷ XX, với sự ảnh hưởng của lối văn biền ngẫu của tiểu thuyết chương hồi, kiểu câu chữ đẽo gọt cầu kỳ… như ở tiểu thuyết Lê triều Lý thị (Phạm Minh Kiên), Việt Nam Lê Thái Tổ (Nguyễn Chánh Sắt), Tiếng sấm đêm đông, Vua bà Triệu Ẩu (Nguyễn Tử Siêu)… Vậy nhà văn có thể đưa ngôn ngữ của hôm nay vào tiểu thuyết lịch sử như thế nào?

Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã kịch liệt phản đối sự hiện đại hóa ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử. Vũ Ngọc Phan đã nhận xét về tác phẩm Ai lên phố Cát của Lan Khai như thế này: “Trong một quyển lịch sử tiểu thuyết việc không cầu toàn đúng sự thật nhưng cử chỉ của các nhân vật cũng cần phải hợp với thời đại. Vào thời Mạc Đăng Dung mà một vị tiểu thư lại thốt ra lời này trước mặt một viên tướng: “Thế mà ta đã yêu Vũ Mật! Chính tấm lòng ta đã lừa dối ta”. Vũ Ngọc Phan cho rằng từ “yêu” là ngôn ngữ tình ái của thanh niên hiện đại, cấu trúc câu “tấm lòng ta đã lừa dối ta” là lối nói của người Âu Tây không phù hợp với thời đại của nhân vật (2). Đó là phát hiện tinh tế của Vũ Ngọc Phan. Khi chạm vào lịch sử, nhà văn sẽ gặp thách thức đối tượng tiếp nhận hiện thực lịch sử trong tác phẩm là một cộng đồng đã có hiểu biết hoặc ấn tượng nào đó. Bởi vậy cho dù chỉ mượn lịch sử làm cái cớ để viết tiểu thuyết thì nhà văn phải có những hiểu biết kỹ lưỡng về thời đại ông ta đề cập trong tác phẩm, không chỉ là nhân vật, sự kiện mà còn trang phục, ngôn ngữ, phong tục, tập quán... Sự nhầm lẫn một cách thiếu hiểu biết hoặc việc hiện đại hóa lịch sử một cách quá lộ liễu sẽ không thuyết phục được người đọc thậm chí sẽ gây phản cảm cho độc giả.

Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại đã có nhiều tác phẩm gây được sự chú ý với người đọc như Vằng vặc sao Khuê, (Hoàng Công Khanh), Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Vương triều sụp đổ (Hoàng Quốc Hải), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)… Sự ra đời của hàng loạt cuốn tiểu thuyết trên đã cho thấy quan niệm về tiểu thuyết lịch sử có những thay đổi so với giai đoạn trước. Với quan niệm rộng mở hơn, tiểu thuyết lịch sử bao hàm cả dã sử, huyền sử, thậm chí là phản lịch sử, là sự tổng hợp nhiều chủ đề, có thể chỉ xuất hiện khung cảnh lịch sử, tùy theo trí tưởng tượng nhà văn mà hư cấu nhân vật và không nhất thiết phải nhân vật đó phải đóng vai trò trung tâm trong tiến trình lịch sử. Sự nới rộng quan niệm đó dẫn đến việc tiểu thuyết lịch sử lấn sân sang nhiều địa hạt khác, nghĩa là nó dung nạp cả tiểu thuyết sử thi, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết lãng mạn… Theo quan điểm này, dù lối viết hiện đại hay truyền thống, trung thực với chính sử hay giả lịch sử, thể hiện chủ đề lịch sử qua việc tái hiện lịch sử hay tư tưởng nhân sinh nào khác, tiểu thuyết hiện diện yếu tố lịch sử không hạn chế khả năng và tự do sáng tạo của nhà văn đều được coi là tiểu thuyết lịch sử. Với quan niệm rộng mở như vậy, mỗi nhà văn khi đối diện với lịch sử đã lựa chọn cho mình một cách tiếp cận và ngôn ngữ trần thuật riêng. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác kể lại: Thú thực ban đầu tôi cũng có e ngại, băn khoăn không biết phải viết như thế nào,phục cổ, “nệ cổ” hay là cứ viết thoải mái theo lối bây giờ. Mà viết cho có vẻ xưa là viết làm sao, thế nào là xưa? Cuối cùng tôi tìm ra một chỗ dựa để viết Sông Côn mùa lũ theo cách tôi chọn: Nguyễn Du viết Truyện Kiều cách đây cũng gần 200 năm mà sao đọc Truyện Kiều không thấy xưa như văn Phạm Quỳnh (3).

Trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, nhiều tác giả đã chú ý viết bằng thứ ngôn ngữ thuần Việt gần gũi dễ hiểu với muôn màu sắc của đời thường, thứ ngôn ngữ tràn đầy sức sống của dân gian. Bộ tiểu thuyết viết về triều Trần của Hoàng Quốc Hải thể hiện thái độ công phu, nghiêm túc của nhà văn đối với lịch sử dân tộc. Viết về những người đầu tiên sáng lập nên triều Trần, tác giả đặt nhân vật vào vị thế của những người không phải xuất thân từ tầng lớp quý tộc cao sang mà từ tầng lớp lao động bình dân, dù ở ngôi vị bà hoàng ông chúa nhưng vẫn còn giữ nguyên chất dân dã trong ngôn ngữ. Ở Bão táp cung đình, nhiều đoạn đối thoại giữa Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung như là những câu chuyện rất đời thường với ngôn ngữ suồng xã: “Phu nhân ứa nước mắt: Nghĩ thương nó quá ông ạ. Bố chết mẹ đi lấy chồng, bản thân nó thì mất ngôi. Ừ thì nó nhường ngôi cho chồng. Nhưng ông cũng thừa biết, nó không nhường không được… - Hay là bà xem, kiếm trong số đó, đứa nào xinh đẹp, con nhà lương dân, chọn cho Cảnh một đứa. Đưa vào hàng phi. Để nó còn kiếm đứa con nối dõi chứ. Con Chiêu Thánh thế thì còn sinh nở gì được nữa. Nghe chồng nói phu nhân giãy nảy lên: - Giời ơi mọi việc ông đều sáng suốt sao việc này lại tối tăm đến thế….”. Quan điểm của tác giả Kiều Thanh Tùng cũng khá gần gũi với Hoàng Quốc Hải khi viết về nhân vật Trần Thị Dung vốn là cô gái Thu Ngừ xuất thân gia đình chài lưới lúc mới bước chân vào cung đình thường bị Thái hậu coi thường vì lối ăn nói quê mùa nơi thôn dã trong cuốn Sắc đẹp khuynh thành (Trần Thị).

Các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử đương đại với tinh thần tôn trọng lịch sử và ý thức khám phá lịch sử từ những chiều kích mới đã tạo ra ngôn ngữ trần thuật phù hợp bối cảnh thời đại trong quá khứ nhưng không quá cách biệt với đối tượng tiếp nhận hôm nay mà vẫn thể hiện được ý đồ nghệ thuật của mình. Bởi vậy trong nhiều tiểu thuyết, có những nhân vật nói năng theo khẩu ngữ của người thường, tước bỏ hệ thống ngôn ngữ cung kính, trang trọng, giảm thiểu số lượng từ Hán - Việt. Trong Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh lựa chọn ngôn ngữ phù hợp với thời đại, từng đối tượng, từng mối quan hệ. Đó là cách để nhà văn soi chiếu nhân vật Hồ Quý Ly từ nhiều góc độ, một kẻ loạn thần tặc tử, một nhà cải cách quyết liệt, một người cha nghiêm khắc, một người chồng hết mực yêu vợ và người ông rất đỗi thương cháu. Ở tiểu thuyết Hội thề của Nguyễn Quang Thân, nhà văn đã khá tinh tế để nhận ra những mối quan hệ của Lê Lợi với các triều thần, tướng lĩnh để xứ lý những tình huống ngôn ngữ, với người anh vợ - nhân vật công thần khai quốc Phạm Vấn khác với vị quân sư Nguyễn Trãi. Đó là tài năng của nhà viết tiểu thuyết lịch sử đương đại, không cần bê nguyên ngôn ngữ thời cổ vào tác phẩm nhưng vẫn tạo được không khí lịch sử, thuyết phục người đọc ở độ chính xác, tin cậy, giàu sức sống và gần gũi với đời sống hôm nay.

Một số tác phẩm như Hồ Quý Ly, Giàn thiêu, có những trang viết kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ lịch sử và ngôn ngữ tiểu thuyết, chẳng hạn đoạn văn tả cảnh Từ Lộ sau khi chặn đoàn xe ngựa dâng đức vua lá đơn kiện cái chết oan khiên của cha nhưng bị gạt đi “Trống lại điểm. Thanh ba não bạt lại rộn ràng. “Thánh thượng hồi cung!”. Tiếng hô của quan Tả đô cấm vệ hùng dũng thốt lên. Thớt voi trắng được quản tượng điều tới, phủ phục trước đài cao. Mảnh lụa viết bằng máu của Từ Lộ lảo đảo rơi xuống từ chín bậc cửu trùng. Từ Lộ bị lôi xềnh xệch ra khỏi đài cao, đẩy đổ gục xuống chân đám người nhốn nháo chen lấn. Trước khi ngất, Từ còn nhìn thấy lớp lớp chân voi ngựa giẫm nát lá huyết đơn.”. Có thể thấy mối quan hệ giữa ngôn ngữ lịch sử và tâm lý người đọc đương thời tưởng chừng mâu thuẫn có thể được hòa giải bằng chính tài năng nghệ thuật và sự chiếm lĩnh ngôn ngữ trần thuật của nhà văn.

Sự thành công nối bật trong sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử đương đại là đã kết hợp được những yếu tố văn hóa, lịch sử, tôn giáo, trong một hệ ngôn ngữ tiểu thuyết thống nhất và đa dạng. Có thể tìm thấy trong nhiều tiểu thuyết dấu ấn của ngôn ngữ nhà Phật, ngôn ngữ của tầng lớp Nho học. Giàn thiêu là cuốn tiểu thuyết chồng xếp nhiều lớp trầm tích: lịch sử, huyền thoại, tôn giáo… bởi vậy ngôn ngữ có cái ảo diệu, mê hoặc mang màu sắc tôn giáo, gần gũi với tín ngưỡng dân gian. Đây là đoạn trích trong chương XVII, Báo oán: Con dường đó vẫn hiện lên hun hút trong tấm gương đồng, dẫn dắt linh hồn của Thần tông tìm về kiếp trước… Năm Hội Phong thứ bảy (1098). Mùa thu. Sao Chổi hiện ra ở phía tây bắc kinh thành Thăng Long. Đuôi sao quét dài khắp bầu trời, hắt thứ ánh sáng hung đỏ trùm khắp kinh thành. Những người già chạy cả ra sân ngửa mặt lên trời khóc. Các bà mẹ dúi con trẻ xuống gầm giường cốt sao ánh sáng quái dị của sao Chổi không thể chạm vào người chúng… Lợn rúc đầu vào vào góc chuồng rú eng éc. Rắn ở đâu kéo về từng đàn phóng ràn rạt, trườn vào chật ních trong các chuồng gà”. Viết về lịch sử thời Lý, với nhân vật trung tâm là Từ Lộ (Từ Đạo Hạnh) trải qua ba kiếp trầm luân, ngôn ngữ trong Giàn thiêu mang đậm nét nhân sinh quan Phật giáo. Nhiều tác giả chú tâm tạo nên ngôn ngữ trần thuật trau chuốt, giàu hình ảnh, khả năng biểu cảm cao, đượm chất trữ tình. Gắn với cảm quan về cái đẹp tự nhiên, bằng sự am hiểu văn hóa phương Đông, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh thực sự lôi cuốn bởi những trang viết tinh tế, đầy cảm xúc về thiên nhiên cảnh vật, những thú chơi tao nhã của người xưa như cầm, kỳ, thi, họa.

Khi viết tiểu thuyết lịch sử với những biến cố lớn lao và các nhân vật đầy phức tạp, mỗi nhà văn đứng trước thử thách phải có đủ bản lĩnh và kinh nghiệm cá nhân để lý giải, phân tích tạo nên thế giới tiểu thuyết riêng và những kiến giải riêng của mình. Sự gia tăng khuynh hướng triết luận trong văn xuôi thời kỳ đổi mới đã có những thành công đáng kể ở các tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng... Sự kết hợp giữa cảm hứng chiêm nghiệm lịch sử và cảm hứng thế sự trong tiểu thuyết lịch sử đương đại đã đem lại cho các tác phẩm giai đoạn này hình thức ngôn ngữ giàu màu sắc triết luận. Tính triết luận trong Con ngựa Mãn Châu, Giàn thiêu, Hồ Quý Ly, Sông Côn mùa lũ... giúp cho nhà văn từng bước tháo gỡ những vấn đề của lịch sử, kích thích khả năng đối thoại với quá khứ. Khác với các tiểu thuyết lịch sử trước đây thường là giọng khẳng định hay phủ định, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này tăng cường hình thức tự vấn. Từ Lộ sau khi đã trở thành vị đại sư Từ Đạo Hạnh được dân chúng thành kính sùng bái lại tự hỏi lòng mình:Ta có thật lòng tin rằng có Niết bàn?” “Ta có cạn lòng để đến được tâm Không?”, “Con rắn độc phiền não nó đã thức dậy trong ta chăng?” (Giàn thiêu),Nhân từ ư? Thương dân ư? Những đức hạnh tốt đẹp đó thử hỏi trên đời này có ông vua nào hơn được cha con ông? Thế mà tại sao, tại sao nước Đại Việt này vẫn đói khát, loạn lạc, tại sao cơ đồ của tổ tiên ông vẫn ngả nghiêng….”. Ngôn ngữ giàu màu sắc triết luận ẩn vào trong những đoạn đối thoại và độc thoại nội tâm, qua đó gửi gắm được tư tưởng và quan điểm nhân sinh của nhà văn. Trong tiểu thuyết lịch sử Hưng Đạo Vương, quyển 4 của Hoài Anh có đoạn Trần Tung (Tuệ Trung thượng sĩ) trả lời Trần Hưng Đạo về mối liên quan giữa Phật và Tâm rằng: “Tâm và Phật tác động đến con người đó là cái lý vạn pháp trong tâm, mà vạn pháp là thế giới bên ngoài, hiện tượng chung quanh ta, là sự nối tiếp tự nhiên như hằng năm hoa lại nở vào tháng ba, mỗi sớm gà gáy lúc canh năm. Sống theo quy luật tự nhiên thì không cần phải ăn chay. Ăn cỏ hay ăn thịt các loại khác nhau của sinh vật, điều đó cũng là tự nhiên như mùa xuân đến thì cây cỏ mọc. Như vậy sao gọi là tội hay phúc trong việc ăn cỏ hay ăn thịt được”. Tính triết lý được thể hiện rất rõ trong tác phẩm đã mở ra những tầng sâu chữ nghĩa.

Các nhà văn cũng đã tận dụng triệt để ngôn ngữ cô đọng súc tích, cung cấp nhiều thông tin của phương pháp viết sử truyền thống. Trong các bộ sử ký, nhà viết sử thường thâu tóm những nét cơ bản trong tiểu sử, cuộc đời tính cách, sự kiện nổi bật một cách ngắn gọn, ghi chép sự việc, ngày giờ cụ thể. Trong Hồ Quý Ly, Giàn thiêu, đã có sự kết hợp hài hòa ngôn ngữ cô đọng súc tích, bám sát sự kiện của lịch sử với ngôn ngữ tiểu thuyết giàu sắc thái. Chẳng hạn “Đinh mùi. Tháng Chạp. Ngày Ất dậu. Giờ dần” (Giàn thiêu). “Năm Mậu thìn (1388) Trần Ngung được vua cha Nghệ Hoàng lập lên làm vua, tức vua Trần Thuận Tôn. Lúc đó Thuận Tôn mới mười ba tuổi. Ông dáng người cao, gày, khôi ngô tuấn tú. Trí thông minh hơn người, tuy còn ít tuổi nhưng đã làu thông kinh sử.” (Hồ Quý Ly) Các nhân vật trong Hồ Quý Ly như Thuận Tôn, Trần Khát Chân, Nguyễn Cẩn… đều có những niên biểu cụ thể về tiểu sử, cuộc đời, tính cách vóc dáng, diện mạo tư chất, gắn với thế giới tâm tư tình cảm riêng, độc đáo của từng nhân vật. Cách viết đó tạo cho người đọc độ tin cậy cần thiết, sự nắm bắt một cách khái lược về nhân vật, sự kiện và thời đại, đó cũng là sự gặp gỡ với tinh thần của người đọc thời hiện đại.

Tìm hiểu những đổi mới trong ngôn ngữ trần thuật của tiểu thuyết lịch sử đương đại, có thể thấy sự gặp gỡ giữa Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Nữ hoàng của Sơn Táp khi hai cuốn tiểu thuyết này cùng có sự xuất hiện của nhân vật lịch sử xưng “tôi” để kể chuyện. Trong tiểu thuyết Nữ hoàng, xuất bản năm 2003 tại Pháp, (bản dịch tiếng Việt năm 2007), Sơn Táp để cho nhân vật Võ Tắc Thiên trần thuật ở ngôi thứ nhất với dòng suy tưởng và tâm trạng sâu khuất từ lúc nằm trong bụng mẹ tới lúc giữ vị trí tột đỉnh vinh quang của một đế chế lớn nhất thiên hạ. Còn ở Hồ Quý Ly có sự đan xen ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất, nhà văn dành nhiều trang để cho nhân vật Hồ Nguyên Trừng xưng “tôi” kể chuyện. Với cách tiếp cận nhân vật từ thế giới nội quan, hai tác phẩm này đã tạo được một cái nhìn độc đáo về lịch sử. Nếu đặt trong hệ thống các tiểu thuyết lịch sử trước đó rõ ràng cách thức trần thuật này là sự đột phá khi cùng đưa nhân vật thoát ra khỏi cái khung lịch sử đã khép kín để đối thoại với hiện tại, các nhân vật lịch sử khác đều được kéo gần lại, họ là những người cùng thời với “người kể chuyện”.

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử có thể không đúng hoàn toàn với lịch sử ngày xưa nhưng phù hợp với định hướng tư tưởng của tác giả, phù hợp với định hướng tư tưởng của tác giả với mức độ “sai lệch tất yếu”. Hêghen nói đến sự sai lệch tất yếu trong nghệ thuật rằng thực chất bên trong cái mô tả vẫn là nó nhưng việc xây dựng hiện tượng phải có sự thay đổi cần thiết đối với cách diễn đạt và nhân vật. Như vậy ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử có thể chấp nhận độ chính xác tương đối bởi nó hướng tới đối tượng tiếp nhận là người đọc của thời hiện đại. Cách được nhiều nhà văn lựa chọn và đã thành công là sử dụng ngôn ngữ đời thường, giản dị như trong ca dao nhưng vẫn tạo được không khí lịch sử và không mất đi cái hồn cốt của tiếng Việt. Sự kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ lịch sử cổ kính và ngôn ngữ mang nhãn quan thế sự đã đem lại cho tiểu thuyết lịch sử đương đại thứ ngôn ngữ tiểu thuyết sinh động, hấp dẫn tạo nên thành công của thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam kể từ sau đổi mới.

Đỗ Hải Ninh


----------------

(1) Chỉ cần so sánh ngôn ngữ trong khoảng vài chục năm gần đây cũng thấy sự khác biệt rõ rệt trong vốn từ vựng và cách diễn đạt. Trên thực tế, hàng năm các cuốn Từ điển tiếng Việt đều có bổ sung những từ mới hoặc nghĩa mới phái sinh.

Xin trích ý kiến của tác giả Kiều Thanh Tùng về việc sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử. Tác giả cho rằng , thời Lý nhà các quan đều gọi là “phủ”, nhà quan tể tướng to hơn, thường hội họp đông người nên gọi là “chính phủ”. Ngày nay chữ “chính phủ” đã mang ý nghĩa khác. Từ “bác sĩ” thời Lý dùng để chỉ những nhà Nho uyên bác, nay lại dùng để chỉ các thày thuốc. Rất nhiều từ ngữ khác cũng đã biến đổi như thế. Giả sử có tư liệu để xác định được chính xác ngôn ngữ của ngày xưa thì cũng không nên đưa tất cả vào tiểu thuyết hay phim ngày nay vì sẽ gây hiểu lầm. Ngày nay nếu chúng ta làm bộ phim trong đó nhân vật nào đó gọi Chu Văn An rằng “Thưa bác sĩ…” thì hẳn nhiều người xem sẽ tưởng ông Chu Văn An là thầy thuốc! Vua Lý Thánh Tông thì không tự xưng là “trẫm” mà xưng là “vạn thặng”… Theo tác giả, không nên quá câu nệ về sự chính xác của xưng hô, câu chữ ngày xưa vì sẽ gây mệt mỏi cho người xem ngày nay.

(2) Vũ Ngọc Phan. Nhà văn hiện đại. Nxb Khoa học xã hội, H, 1989

(3) Nguyễn Mộng Giác. Nam Dao. Trao đổi về tiểu thuyết lịch sử. Tạp chí Văn học (California - Mỹ), số 197 - 2002

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác