Văn chương đối thoại với... tình


(Toquoc)- Bàn về văn chương nói chung và thơ ca nói riêng là chuyện cũ xưa như trái đất, đã có từ thời cổ đại. Nhà triết học Hy Lạp Aristote đã bàn khá kỹ trong “Nghệ thuật thi ca”. Sau này có hàng trăm, hàng ngàn người bàn thảo về tác phẩm này của ông và những vấn đề khác có liên quan đến thi ca, nhưng xem ra bàn theo kiểu Trần Nhuận Minh và Nguyễn Đức Tùng trong “Đối thoại văn chương(1), chưa có nhiều và dường như theo quan sát của tôi, là duy nhất.

 

Một không gian thơ xa ngái mà gần gũi

Sở dĩ nói là xa ngái vì hai người sống cách nhau nửa vòng trái đất chẳng thể nào gặp nhau thường nhật. Lại nữa, xa ngái vì hai người trò chuyện với nhau kéo dài tới 9 tháng. Còn gần gũi, vì theo tôi, thơ ca, nhất là thơ phương Đông trong đó có thơ Việt từ cổ chí kim, dù diễn giải vòng vo hay rạch ròi luận lý, theo kiểu chẻ sợi tóc làm tư là điều húy kị nhất, mà chung qui lại cũng chỉ có một chữ “tình”. Dù là ai, làm nghề gì, nếu không có cái “tình” thực thụ đến với nhau thì khó có thể lĩnh hội thấu đáo được một câu, một bài thơ của người khác, chứ chưa nói đến một đời thơ hay một giai đoạn thi ca Việt.

Có lẽ đấy chính là cơ duyên cốt yếu để hai người bạn thơ Trần Nhuận Minh và Nguyễn Đức Tùng vừa cách xa nhau về tuổi đời, sinh quán, nơi làm việc, thậm chí là cả những trải nghiệm cá nhân, một chất liệu đầu vào tối quan trọng, tạo nên hồn cốt của tác phẩm thi ca, nhưng họ vẫn có thể “đối thoại” một cách vô tư, thẳng thắn và thú vị đến thế.

Hơn 800 trang sách, nhiều câu chuyện của 9 tháng ròng với 270 ngày, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, từ Thơ ca đến Mỹ học, Triết học, từ chuyện người thơ qua chuyện văn chương đến chuyện cuộc đời... được hiện lên khá rõ, kể cả những sự “ngớ ngẩn” đáng yêu, vốn thường thấy ở các người thơ nói riêng và văn chương nghệ thuật nói chung, hai ông cũng không hề giấu diếm. Mà đã nói đến văn chương thơ phú thì có biết bao nhiêu điều, nào là nguồn cơn, xuất xứ một bài thơ, nhận định, đánh giá tác phẩm, tác giả, phương pháp, trào lưu thơ Việt đương đại... cơ man là chuyện có thể nói cả đời chẳng hết.

Kể cũng lạ, ở vào thời buổi đa phần người ta bàn đến cơm áo, gạo tiền, thăng quan tiến chức, nhà to, xe sang... lại có hai người như thể ở “ngoài hành tinh”, chẳng hề víu bận gì đến chuyện của cuộc đời, mà lại quá bận đến chuyện thơ phú đến thế. Dường như với hai ông không có thơ là không thể sống được. Nhà thơ Trần Nhuận Minh từng thổ lộ “Dù bận thế nào, thơ vẫn là cái thường trực, day dứt, trăn trở khôn nguôi, làm tôi ăn ngủ không yên(2)

 Văn chương đối thoại với... tình - ảnh 1


Một đối thoại “mở”

Chuyện nhà thơ Trần Nhuận Minh trên đường đi từ Quảng Ninh lên Hà Nội, trong đêm để sáng mai kịp họp, xe của ông đã bị một xe tải tông vào khiến ông văng xuống ruộng mà vẫn không can hệ gì, đến mức cô chủ hàng phải thốt lên rằng phúc tổ nhà em đã được “đâm vào” anh, là một sự thật khá thú vị.

Nhà thơ Trần Nhuận Minh cho biết, bài thơ “Tuệ Tĩnh” ông đã viết từ 10 năm trước đó (2001) nên có câu: “600 năm/ Mưa nắng Giang Nam không mòn được”. Vì cụ Tuệ Tĩnh mất khoảng năm 1400. Nhưng mãi đến tháng 4/2011, Trần Nhuận Minh mới gửi cho nhà thơ Nguyễn Đức Mậu cùng với bài “Thức ngủ”. Ngay sau khi bài thơ đăng trên báo Văn nghệ, nhiều người nảy ra ý tưởng định sang Trung Quốc tìm kiếm mộ Cụ đưa về Việt Nam như ở Hải Hưng trước đây người ta đã từng đưa mộ cụ Nguyễn Thiện Thuật, thủ lĩnh của phong trào nông dân trong cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thời kỳ chống Pháp. Khi ấy qua thông tin bạn bè, nhiều doanh nghiệp, doanh nhân ngỏ ý tài trợ cho việc tìm kiếm này. Chỉ tiếc là công việc chưa kịp triển khai thì cả thế giới rơi vào suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp trong nước lao đao khốn khó. Nhưng dù sao đấy cũng là một ý tưởng tốt, một nghĩa cử cao đẹp đối với tiền nhân, đại danh y Tuệ Tĩnh.

Có lẽ nhà thơ Trần Nhuận Minh là một trong số ít người tự “phẫu thuật” quá trình sáng tác của mình theo cách chia làm hai giai đoạn từ 1960-1986 và từ 1986 đến nay và ông coi năm 1986 là “cuộc Cách mạng tháng Tám thứ hai và với bản thân tôi đây là năm sinh thứ hai(3) . Ông cho rằng giai đoạn trước năm 1986 là viết để phục vụ nhiệm vụ chính trị. Nội dung hiện thực là thực tế nó cần xảy ra, còn nó có xảy ra thật như thế hay không, điều ấy không quan trọng... Đến khi thống nhất được đất nước, nhiệm vụ chính trị hoàn thành rồi, thì thơ có hoàn thành được nhiệm vụ nghệ thuật, để tồn tại đến mai sau hay không, lại là vấn đề khác... Nếu nó có “hy sinh” thì cũng hy sinh như mọi người lính trong trận mạc mà thôi. Còn giai đoạn thứ hai từ sau 1986, là “tôi viết về những cái mà mình cần phải có ở tác phẩm của mình(4). Nói về việc phân chia quá trình sáng tác thành hai giai đoạn như nhà thơ Trần Nhuận Minh chia sẻ: “Và hình như trong thế hệ cầm bút với tôi, không có ai sự phân chia đó lại rõ ràng như tôi. Và thái độ cũng quyết liệt như tôi trong việc tự làm lại mình từ đầu(5)

Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng cho rằng anh đọc các tài liệu thấy những năm 1966-1968 ở miền Bắc có thể được gọi là những năm Trần Đăng Khoa. Vì có nhiều người cho rằng những năm ấy, thơ Trần Đăng Khoa có nhiều bài đặc sắc hơn so với bây giờ. Nhà thơ Trần Nhuận Minh đã có cách nhìn nhận đánh giá riêng vừa có lý lại vừa có tình. Ông cho rằng “những năm ấy thơ Khoa được dư luận quan tâm nhiều nhất”. Và ông kết luận: “Thực ra thì “nhiều bài thơ đặc sắc như anh (Nguyễn Đức Tùng- Đ.N.Y) nói, của Khoa vẫn tiếp tục ra đời sau năm 10 tuổi(6). Đây là cách trả lời vừa đủ khôn, cũng vừa đủ khéo với tư cách một nhà thơ gạo cội, và với tư cách là anh trai của nhà thơ Trần Đăng Khoa ngõ hầu tháo gỡ bao sự hồ nghi của dư luận về thơ của Khoa sau này.

Bàn về xu hướng ngày càng nhiều người sử dụng các công nghệ và thiết bị kỹ thuật hiện đại như: máy tính, sách điện tử (ebook), mạng internet... nhưng để phân biệt sự khác nhau của chúng trong thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật, thì không phải ai cũng có thể biết. Nhà thơ Trần Nhuận Minh không hề giấu diếm sự sai lầm của mình 10 năm trước, khi ông cho rằng gõ chữ trên máy tính là mất hết cảm xúc. Nhưng trong vòng 10 năm trở lại đây, ông hoàn toàn sáng tác và làm việc trên máy vi tính. Nguồn cảm hứng sáng tạo hoàn toàn được khơi thông, tuyệt nhiên không vướng bận gì, đến mức hiện nay ông không thể viết bằng bút được nữa. Còn đọc trên giấy, ông cảm thấy hứng thú trong việc thưởng thức cái hay, cái đẹp hơn so với đọc trên mạng internet. Khi ấy tác phẩm như có nhiều tầng “sâu” hơn so với đọc trên máy tính (7). Đây có thể là cảm nhận chung của nhiều người, vì thời gian tiếp xúc với công nghệ hiện đại của các nhà thơ ở ta chưa lâu.

Rõ ràng đây là một cuộc đối thoại “mở”, không những vừa dài, vừa rộng về không gian, thời gian, mà còn dài rộng cả về khía cạnh chủ đề, đề tài. Bất luận chuyện gì liên quan đến thơ và người thơ, nền thơ hai ông đều có thể đem ra bàn thảo một cách khá thoải mái, với nhiều thông tin, tư liệu bất ngờ, thú vị, nhiều nhận định, đánh giá về tác giả, tác phẩm, giai đoạn thơ ca khá mới mẻ. Chính nhà thơ Trần Nhuận Minh đã khẳng định là không hề có chuyện gì khó khăn, vướng mắc, kể cả những chuyện riêng tư trong cuốn sách cũng không hề bị “biên tập” lại.

Thu Giang

.................

(1) Đối thoại văn chương - Trần Nhuận Minh- Nguyễn Đức Tùng, Nxb Tri thức, H, 2012
(2) Sđd, tr 12
(3), (4) Sđd, tr 17
(5) Sđd, tr 32
(6) Sđd, tr 327
(7) Sđd, tr 818-819
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác