Vài nhận định về thơ Nguyễn Anh Nông


(Toquoc)- Đọc thơ là kiếm tìm nghĩa lý trong sự hiện hữu của thi sĩ. Ngôn ngữ thơ cho thấy công phu “uẩn nhưỡng tâm tư”, “thôi xao từ điệu”, biểu hiện nhận thức, thái độ, tình cảm và ứng xử nghệ thuật của chủ thể trong tương quan chằng chịt với các điều kiện sống của anh ta. Nói tóm lại, ngôn ngữ thơ chính là bản thể nghệ thuật của thi sĩ. Trong ý niệm đó, đọc Nguyễn Anh Nông là đọc nghĩa lý của sự hiện hữu từ ngôn ngữ thơ.

Thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông có hình thức khá giống với haiku của Nhật. Đặc trưng của thể thơ này là thiên về biểu tứ. Bài thơ là hình hài cô đọng nhất gói trọn một tứ thơ. Sự tinh giản đến mức tối đa về chữ đặt ra yêu cầu phải có tứ thơ thật sáng, thật chụm:

Ven sườn núi

Những đóa hoa tím dại

Nở nụ đời khiêm cung

(Matsuo Basho)[1]

Đặc tính của haiku, hai câu và ba câu là nét ưu thắng về mặt tứ. Ngôn từ, thi ảnh để biểu đạt tứ phải là sản phẩm của một cơ chế “tuyển lựa” và “kết hợp” (R. Jakovson) thật minh nhiệm. Hầu như không có sự diễn giải, chỉ có niềm an nhiên giữa tịch lặng để cảm biết về sự sống lay động trong những khoảnh khắc vi diệu của thời gian. Với thể thơ rất kiệm lời này, tư duy và mỹ cảm trong tổ chức tứ thơ (cấu tứ) gần như trùng khít với bài thơ. Nghĩa là bài thơ chỉ là sự hiện hình của chất thơ trong mỹ cảm và tư duy ở dạng uyên nguyên nhất. Cần một sự im lặng để chất thơ lan tỏa. Im lặng là điểm hội tụ của ưu tư, suy nghiệm - tư tưởng. Martin Heidegger từng nói: “Hữu thể của hiện thể bao hàm trong ưu tư”[2]. Nơi ấy, tính thể của sự sống hiện lên diệu kỳ trong mỗi “sát na”.

Haiku vốn là thể thơ truyền thống của xứ sở Phù Tang. Mỹ học haiku đề cao chất sabi (cô tịch, cổ kính và u huyền), đồng thời haiku được quy ước bởi những đề tài theo mùa, theo tháng và quý ngữ. Chính sự ước lệ về thi đề, thi ảnh, kết hợp với quý ngữ và chất sabi nên haiku dù rất kiệm lời (17 chữ) nhưng uyên súc, uẩn nhưỡng. Thơ ngắn, ba câu hiện đại dù hình thức khá giống haiku Nhật nhưng do giải trừ các ước lệ, quý ngữ, sabi nên sự uẩn súc cũng theo đó mà phai nhạt, đặc biệt là chất sabi. Thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông về hình thức khá giống haiku, cũng 17 chữ, bố cục 5/7/5, có khi anh đoạn thủ, đoạn vĩ để hiện hình dưới dạng 4/7/4, 4/7/5, 5/7/4… Nhưng cảm nhận rất rõ xác thân ấy nhưng hồn vía khác. Nguyễn Anh Nông không gọi là haiku cũng là một ý thức rất rõ của anh về sáng tạo thể loại của mình. Đơn giản, đó là thơ ngắn. Thơ ngắn, hai câu, ba câu, haiku có thế mạnh thiên về biểu tứ. Tứ thơ là hạt nhân, dồn chứa năng lượng thơ của các thể thơ này. Khi thiên về biểu tứ, ý tình trong thơ cần phải thật sáng, cô đọng và tập trung (chụm). Tính chất uẩn nhưỡng, uyên súc của các thể thơ này không cho phép sự tản mát về ý tình, sự dàn trải lan man về thể điệu. Tất cả phải được “thôi xao” đến mức tinh diệu để chỉ trong một lượng vật chất rất nhỏ mà sức công phá thật lớn:

Chiếc lá nặng nề

Buông xuôi về với đất

Trong một ngày lặng gió

(Nozawa Boncho ? - 1714)

Chẳng tại gió, ấy là vô thường. Vô thường là chân hình của hóa sinh. Thấu đạt lẽ ấy sẽ tránh những vọng động khởi sinh từ vô minh, tham - sân - si. Im lặng quy theo vô thường là minh triết tối thượng của Thiền (Zen) mà chỉ những bậc thiền giả vĩ đại, nhờ công phu thiền định mới có thể chứng ngộ[3]. Thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông dứt khoát không phải là một thực thể chân truyền của dòng phái haiku Phù Tang. Thơ ngắn của Anh Nông là sự chắt lọc những kinh nghiệm sống, những đúc kết của con người đang vật lộn giữa khổ ải của đời. Tuy nhiên, trong dạng thức tối giản này, Nguyễn Anh Nông đã biết tiết chế tối đa những vọng động để lắng lấy cái phần vi diệu nhất:

Người đi theo bóng núi

Khuất chìm năm tháng xa

Sim mua tím sớm chiều

(211)

Thơ ngắn hiện hình rõ nhất tư duy thơ, mỹ cảm và năng lực kiến tạo thi ảnh, ngôn từ nghệ thuật của Nguyễn Anh Nông. Anh khá nhạy bén với bản chất của các hiện tượng, luận ngay được tính chất của sự vật, sự việc. Sự trải nghiệm đã hun đúc cho anh đôi mắt và cảm quan nhìn đời trong ý nghĩa nhân sinh phổ quát, không bị kẹt bởi hiện tượng. Đó cũng là một dạng thái của bản thể nhận thức được quy luật - cái lẽ thường của sự sống. Nhưng khác với trình độ nhậm vận của thiền giả, Nguyễn Anh Nông giải trừ chất sabi, gia tăng tính chất tếu táo, hài hước với hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu đời thường. Lối ví von, liên tưởng khá hồn hậu khởi xuất từ tâm tính con người lao động, của một kẻ đi ra từ đồng ruộng, lớn lên cùng giọt mồ hôi và bao buồn vui cay đắng mưu sinh đã trở thành một lợi thế để Nguyễn Anh Nông tung tẩy trong cách diễn đạt những cảm nghiệm của mình:

Ngỡ đời suôn sẻ mãi

Gió bay gặp tường cao, núi dựng

Loay xoay vòng trời hẹp

(5)

Không có quý ngữ, cũng chẳng có biểu tượng ước lệ, thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông là khoảnh khắc thức nhận của người đi nhiều, trải lắm, lắng đọng trong những lời giản dị, chân thành. Tri thức trong thơ Nguyễn Anh Nông gắn với làng quê, đồng bãi, dòng sông, vợ chồng, con cái, cha mẹ, bạn bè, đồng đội, tha hương, phiêu dạt, đất khách… Nguyễn Anh Nông hồn nhiên, thuần phác, cứ vục vào quê mà múc, đổ tràn những không gian Thanh lên ngày tháng tha hương của mình. Cuộc sống quê Thanh tự nó ít chất thơ. Có lẽ đó là cảm nhận của riêng tôi. Cái khó nghèo của đời, cái cỗi cằn của đất, cái nắng gió của trời… khiến người ta ít mơ mộng.

Thật khó và chưa hẳn đã trúng khi đứng từ haiku để luận về giá trị thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông. Việc làm đó, đôi khi lại tố cáo một sự bảo thủ hay sự chật hẹp của các khuôn thước giá trị. Phải thừa nhận, thơ Nguyễn Anh Nông, không chỉ ở thơ ngắn, cái thô mộc, vật liệu, nôm na có phần trội lên, nó làm khuất lấp, thậm chí che hết những hạt “bụi quý” vương trong thế giới ngổn ngang của anh. Như anh đã từng thú nhận, “Nhà mượn, người không mượn”, “Dù lồng đời chật chội/ Vẫn hót tiếng riêng mình”. Cái riêng của anh chính ở chỗ anh không cố chạy theo một thứ ánh sáng được hắt lên từ thần tượng nào. Sự đọc có lẽ phải cần mẫn như Giăng Samet, người cựu binh khốn khổ của trung đoàn thuộc địa thứ Hai mươi bảy. Đó là sự ứng xử mà hẳn Pautopxky trong vai trò một nhà văn có tuổi đã ý thức được:

“Mỗi phút, mỗi lời tình cờ được nói ra và mỗi cái nhìn vô tình ta bắt gặp, mỗi ý nghĩ sâu sắc hoặc vui đùa, mỗi rung động thầm lặng của con tim, cũng như cả đến một bông xốp của hoa dương đang bay hay lửa sao trong một vũng nước đêm - tất cả những cái đó đều là những hạt rất nhỏ của bụi vàng”[4].

Bụi quý thường không nhiều và đồng thời phải ý thức một cách nghiêm túc rằng, giữa cuộc đời đầy rác rong của chúng ta, hy vọng kiếm được một kho tàng là điều cũng hiếm như bụi quý. Đấy là còn chưa kể đến biết bao trang sức, giả kim đánh lừa con người trong ngổn ngang, lẫn lộn bao giá trị. Hiểu điều đó, người ta hẳn sẽ trân trọng những hạt bụi quý của Nguyễn Anh Nông:

Mây bay, ừ nhỉ ? mây bay!

Khát khao tôi ngửa bàn tay hứng trời

Mưa rơi

Từng giọt mưa rơi

Bàn tay tôi đậu khoảng trời xinh xinh

Ngắm nhìn giọt nước lung linh

Mà sao thấy cả bóng hình nước non

-                  Ô hay, giọt nước con con

Mà như tích tụ ngọn nguồn gió mưa

(Giọt nước)

Với thơ, cái hay và cái tiêu biểu rất khác nhau. Cũng như có nhà thơ có nghề, chắc tay và thi sĩ thiên bẩm. Nổi lên khá rõ trong thơ Nguyễn Anh Nông có lẽ là cái thô mộc, nôm na (dù rất đáng quý) chưa siêu thoát để thành thơ. Nhưng, cái hay của anh cũng có thể điểm được để không đến nỗi không dám sánh với các thi gia khác trong trường văn trận bút. Bài Giọt nước ở trên là số ít mang được cái hay của thơ Nguyễn Anh Nông. Theo tôi, gia tài đời thơ không cần nhiều, chỉ cần đôi bài neo vào tâm trí nhân gian thế là đã đủ cho một thi kiếp. Tương tự thế, có lắm nhà thơ chắc tay, viết rất có nghề, đọc thơ của họ thấy ổn lắm, nhưng để tạo nên một rung chấn trong tâm thức sự đọc thì hẳn mất khá nhiều công để đãi lọc. Thơ hay như luồng điện thế, không chờ ta phải suy luận, phải truy vấn xem nó được viết từ tâm thức nào, lý thuyết nào, Tây hay Tàu… Hay nghĩa là giá trị, tác động tự nhiên vào tâm thức, vào trực cảm của người đọc, gợi dậy từng vùng mỹ cảm, khơi dẫn những miền không gian tinh thần và trí tưởng, suy tư và cảm giác. Người ta nhắc nhiều đến hai câu cuối của bài Giọt nước âu cũng là lẽ thường, bởi nó hay. Nhưng vừa hay, vừa tiêu biểu cho Nguyễn Anh Nông theo tôi lại là hai câu trên: Khát khao tôi ngửa bàn tay hứng trờiBàn tay tôi đậu khoảng trời xinh xinh. Đó là những câu thơ làm sáng tập thơ và đáng giá cho bất kỳ nhà kim thuật nào ao ước. Cái hay trước hết chưa cần lý giải. Sự lý giải sẽ bổ sung làm đầy đặn thêm cảm giác. Cái hay đem đến khoái cảm thẩm mỹ tức thời, đôi khi rất phi logic. Sự diễn giải luôn dừng lại ở cái hay, cái có vấn đề, có nghĩa lý. Với thơ và thưởng thức thơ, cái có ý nghĩa lại là cái đôi khi nằm ngoài lý trí thuần túy. Hegel đã phân chiết một cách chi li hơn khi ông cho rằng đối tượng của thơ không phải là con người mà là những xung động của tinh thần. Ngược lại, để hình dung về sự tiêu biểu rất cần phải mô tả và lý giải. Chất ngang tàng với tâm thức ngửa tay hứng trời; ôm mộng cưới trăng vàng của gã trai quê chính là nét tiêu biểu của thơ Nguyễn Anh Nông. Thật lý thú, khi tôi hình dung hai bàn tay gầy gộc, thô sần đang bụm lại để hứng giọt nước trời, chứa ngọn nguồn gió mưa thể hiện sự tinh tế hiếm có, cái biệt lệ chỉ có thể trỗi dậy trong tận cùng tâm thức hay nói như G. Jung là trong cấu trúc tâm lý vô thức của con người. Bàn tay tôi đậu khoảng trời xinh xinh có được phẩm tính ấy, đặc biệt là ở từ “đậu”. Giọt mưa có lẽ chưa tan, còn nguyên trong “lòng tay” nâng niu. Trên vòng sáng của mình, giọt nước diệu kỳ mới lấp lánh những ngọn nguồn gió mưa và khoảng trời xinh xinh mới lẫn vào trong đáy mắt.

Bụi quý không có nhiều, những câu thơ hay và tiêu biểu cũng không phải là thứ sẵn có trong thi trình của một thi sĩ. Nguyễn Anh Nông còn có đôi câu, đôi hình ảnh khác khá ám ảnh:

Chiều đi sao em không tới

Nắng buồn nắng đọng lưng nương

(Buồn)

Câu đầu thường tình không có gì đáng nói, ai cũng có thể viết được. Nhưng câu thứ hai thì khác. Những ai đã từng ngắm sự cô độc của ngọn núi trong một chiều biên ải, trong ngày nắng tắt trên một đỉnh mù khơi mới hiểu cái buồn của hạt nắng đọng lại trong thung khe, trong nương đồi. Cứ thà đổ hết vào chiều để ngả sang đêm, đằng này, vương vấn gì, mòn mỏi nữa, hạt nắng đọng lưng nương là nỗi buồn không tắt trên ngày đời đã lụi. Chẳng phải Nguyễn Anh Nông đã từng lặng lẽ bao chiều như thế trên ải Bắc ư? Sự họa điệu của tâm trạng, xúc cảm với thiên nhiên trong một khoảnh khắc tinh tế chính là bụi quý mà ở đây Nguyễn Anh Nông đã chạm được vào.

Đến đây, có thể gạn lại đôi dòng để nói về nguyên cớ khiến những vần thơ của Nguyễn Anh Nông đậu lại trong ký ức dân gian. Đó chính là sự tu sức của hình ảnh để trở thành biểu tượng. Trong quan niệm đơn giản nhất, biểu tượng chính là hình ảnh, hình tượng giàu giá trị biểu trưng, có tính tượng trưng cao, xuất hiện với tần suất lớn, ám ảnh trong thi cảm nhà thơ. Biểu tượng khiến cho mạch thơ kín đáo, ý tình sâu sắc hơn, cho thấy bề sâu của xúc cảm, suy tưởng khởi sinh từ một nền tảng văn hóa sâu dày của chủ thể sáng tạo. Biểu tượng còn là một trong những nhân tố tạo nên tính đa nghĩa, tính mơ hồ, tính liên/xuyên văn hóa của thơ. Thơ khác vè, diễn ca cũng bởi có sự hiện diện của biểu tượng. Những câu thơ đã dẫn của Nguyễn Anh Nông và một vài câu khác, có thể nhận thấy đôi lần hình ảnh thơ đã được thi sĩ dụng công nung luyện thành biểu tượng hoặc chí ít là sự thành công trong các thủ pháp hàm ẩn. Ở bài Giọt nướcGiọt nước, khoảng trời, ngọn nguồn gió mưabàn tay. Vượt lên tính chất tương đồng của các thực thể được định danh thay thế trong ẩn dụ, đó là một hệ biểu tượng hàm nghĩa sâu xa chính ở khả năng tượng trưng. Các chỉ dấu vừa nêu có thể đem đến nhận thức về vũ trụ, về cuộc đời, con người, cũng có thể là một lát cắt qua khoảng trời, sự lắng đọng qua giọt nước, gió mưa hay sự vần vụ của vũ trụ, bàn tay chắc hẳn là con người, là nhân sinh với những khát khao đầy nhân bản. Nếu không có sự nối kết với truyền thống dân gian, rất có thể những chỉ dấu vừa nêu trong bài Giọt nước chỉ là ẩn dụ. Nhưng khi ta hiểu rằng, trong ký ức cư dân nông nghiệp, giọt nước, khoảng trời, ngọn nguồn gió mưabàn tay là những hằng số văn hóa. Ký ức của cộng đồng và cá nhân, trong lịch sử lâu dài của sự ám chỉ, ví von, hình tượng hóa những tương đồng, khiến cho ẩn dụ đã trở thành biểu tượng.

Hạo Nhiên Nghiêm Toản khi bàn về Thơ mới trong cuốn Văn học sử trích yếu (Vĩnh Bảo xuất bản, Sài Gòn, 1949) đã cho rằng hãy để “giai tác bệnh vực thi nhân”. Sự đọc dẫu có được thỏa thuận bằng suy tưởng, kiến tạo nào cũng không thể cất dựng trên những điều vô thực. Theo cách ví von của Nghiêm Toản, phải dọn đi thứ có dại che lấp cả chồi lan. Trong tình thế của thơ ca Việt Nam đương đại, đó là công việc không hề đơn giản, thậm chí là bất khả thi. Một vài chồi lan hé sáng trong vườn thơ Nguyễn Anh Nông bởi thế thật đáng quý, đáng nâng niu./.

Nguyễn Thanh Tâm

----------------------

(*) Tiêu đề của báo



[1]. Basho (1644 - 1694), người đã hoàn thiện haiku cổ điển, đưa thể thơ này trở thành Đạo trong nghĩa thâm viễn của minh triết Đông phương. Chimyo Horioka, Siewart W. Holmes, Thiền trong hội họa, Thanh Châu dịch, Nxb Tổng hợp TPHCM, 2004, tr 51.

[2]. M. Heidegger, Hữu thể và thời gian, tập 2, Trần Công Tiến dịch, Quê hương xuất bản,  S, 1973, tr 5.

[3]. Trong bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến haiku cổ điển. Basho trong tập Lối lên miền Oku đã thể hiện cảnh giới nhậm vận của mình. Oku không chỉ là một địa danh, nó còn có nghĩa là “thẳm sâu”. Vì thế, Lối lên miền Oku là những con đường nhỏ/hành trình về miền sâu thẳm – chất thơ của haiku. Trong diễn trình của haiku Nhật, sau cải cách Meiji, haiku tiền vệ với các cảm thức mới mang tinh thần canh tân cũng đã trỗi dậy và giải cấu trúc chính tiền sử loại hình của mình.

[4]. Bụi quý, Bông hồng vàng, Pauxtopxky, NXB Văn học, 1983, tr 23.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác