Vài nét về lý luận, phê bình văn học Việt Nam 1975-2000

Trong bài này, chúng tôi xin tập trung đề cập tới các tác giả lý luận, phê bình, nghiên cứu chuyên nghiệp đang làm việc tại các viện nghiên cứu, các trường đại học và cơ sở đào tạo, hội Nhà văn Việt Nam, các cơ quan ngôn luận, xuất bản về văn học - nghệ thuật ở trong nước, các nhà sáng tác quan tâm bản thảo các vấn đề của lý luận phê bình văn học nghệ thuật… Các công trình đã công bố hoặc xuất bản của họ thuộc các mảng tác phẩm: chuyên luận, tiểu luận phê bình; giáo trình lý luận văn học; dịch thuật, biên soạn.

Ngày 30/4/1975, Sài Gòn được giải phóng, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Việt Nam bước vào một trang lịch sử mới: độc lập, thống nhất toàn vẹn, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, việc duy trì cơ chế bao cấp trong hoàn cảnh thời bình cùng với những khó khăn do khách quan mang lại đã khiến đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng, trì trệ trên nhiều mặt của hoạt động xã hội. Với chủ trương và đường lối đổi mới kiên quyết và kịp thời do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra (tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tháng 12/1986), Việt Nam từng bước hồi sinh trên dặm đường tái thiết đất nước. Tư duy mới, khoa học và biện chứng trước thực tiễn sinh động của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá - nghệ thuật cùng sự nỗ lực, tâm huyết của toàn dân, toàn Đảng đã giúp Việt Nam vượt thoát khỏi bế tắc, khủng hoảng mà vững bước vào chặng đường phát triển mới ổn định, dân chủ - bình đẳng, dân giàu, nước mạnh.

Tổng thể giai đoạn 1975-2000, có thể chia làm 2 chặng:

- 1975-1985: 10 năm hậu chiến vận động chuyển mình;

- 1986-2000: 15 năm đổi mới và phát triển.

Đặc điểm nổi bật của giai đoạn 1/4 cuối thế kỷ XX này là sự vận động, hình thành và phát triển của tư duy mới trong lãnh đạo, quản lý sáng tạo, thẩm định văn học - nghệ thuật; chuyển hoá đội ngũ và bổ sung lực lượng mới của lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học theo định hướng đa dạng, hoà nhập, hiện đại hoá.

Có thể thấy sự hiện diện và tiếp nối của các lớp tác giả hoạt động trên lĩnh vực này theo các thế hệ:

a. Đi trước, tiên khu, có quá trình đóng góp từ trước Cách mạng tháng Tám, kinh qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

b. Khẳng định mạnh mẽ từ sau 1975 về phong cách, bút lực;

c. Lớp trẻ, đông đảo, xuất hiện gắn bó với công cuộc đổi mới đương đại.

Nếu xét theo các khu vực thì đội ngũ lý luận, phê bình văn học bao gồm:

- Các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các nhà quản lý, sáng tác văn nghệ.

- Các nhà lý luận phê bình chuyên nghiệp công tác ở các Viện nghiên cứu về văn học, văn hoá; khoa Ngữ - Văn các trường đại học và cơ sở giáo dục - đào tạo; các cơ quan báo chí - xuất bản ở trung ương và địa phương.

- Những cây bút tiến bộ đã hoạt động trên văn đàn công khai miền Nam trước 1975, nay vẫn tiếp tục viết ít nhiều.

- Các tác giả Việt Nam ở nước ngoài có quan tâm đến lý luận, phê bình văn học trong nước.

 

Các vấn đề lý luận, phê bình đặt ra qua các chuyên luận, tập tiểu luận - phê bình

Đòi hỏi trước tiên là quán triệt đúng đắn các quan điểm cơ bản của mỹ học Mác - Lênin và đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các học giả như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Hoàng Trinh, Thành Duy, Phong Lê, Hà Minh Đức, Phan Trọng Thưởng (Viện Văn học), Phan Cự Đệ (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội), Phương Lựu, Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử (Đại học Sư phạm Hà Nội), Nguyễn Văn Hạnh (Viện Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh), Lê Xuân Vũ (Tạp chí Cộng sản) qua các bài viết, các công trình cá nhân hoặc công trình tập thể do mình làm chủ biên hay đồng tác giả, đã chú trọng trình bày các nguyên lý mỹ học cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, của tư tưởng văn nghệ Hồ Chí Minh xung quanh các mối quan hệ: Đời sống xã hội - Nhà văn - Tác phẩm văn học - Công chúng; khẳng định sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ trong phần thành công của nó, đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo mỹ học Mác - Lênin vào hoàn cảnh của nước ta, là một trong những động lực tạo đà cho những thành tựu của nền văn nghệ nước nhà, khiến nó đảm trách được vai trò tiên phong của các nền văn nghệ chống đế quốc trong thời hiện đại của lịch sử thế giới. Nghiên cứu các văn kiện của Đảng mở đầu là Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943, đến các Nghị quyết của Đại hội Đảng, của Ban Chấp hành Trung ương qua các thời kỳ gần đây, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương V (1998) cùng các ý kiến phát biểu của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ, các công trình do các tác giả nói trên đã cho thấy Đảng ta đã có sự đổi mới trong tư duy lãnh đạo và quản lý văn nghệ: coi trọng vai trò của văn học trong đời sống xã hội, giúp vào việc làm phong phú đời sống tinh thần của con người, hình thành nhân cách con người văn minh - hiện đại; văn hoá - văn nghệ là động lực phát triển xã hội hướng xã hội và con người vào mục đích cao cả của chân - thiện - mỹ. Thừa nhận đặc thù của tư duy nghệ thuật trong sáng tạo và thưởng thức, Đảng chủ trương đảm bảo tự do sáng tác, phát huy cá tính sáng tạo và bản lĩnh, phong cách riêng của văn nghệ sĩ, quyền chủ động lựa chọn phương pháp sáng tác thích hợp với sở đắc và sở trường của từng người. Tóm lại, đảm bảo các điều kiện khách quan giúp văn nghệ sĩ phát huy năng động chủ quan, tâm huyết sáng tạo những tác phẩm tốt, hay, lành mạnh, thoả mãn nhu cầu và nâng cao trình độ thưởng thức của quần chúng, từ đó mà vươn lên những tác phẩm đỉnh cao, chứa đựng tài năng vô song của nghệ sĩ.

Phát huy những tư tưởng mỹ học mác - xít đúng đắn, sự quang minh chính đại của đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh với những luận điểm xuyên tạc bản chất cao đẹp của mỹ học Mác - Lênin, các học giả cũng cho thấy sự vận động của văn học và lý luận văn học thế giới nói chung theo các chiều kích đi sâu khám phá ngôn ngữ và thủ pháp đặc thù của các thể loại, loại hình nghệ thuật và sự đóng góp của các cá tính sáng tạo nổi trội vào kho tàng nghệ thuật tiêu biểu của nhân loại; vai trò đầy sáng tạo của người đọc khi thưởng thức văn bản tác phẩm, làm phát lộ ý nghĩa tiềm ẩn trong cấu trúc ngôn ngữ độc đáo chứa đựng nhận thức, cái nhìn và sự lý giải của nhà văn về những vấn đề đặt ra trong sự tồn tại của thế giới, sự mưu sinh của từng cá thể con người. Ngoài các chuyên luận, là hàng trăm tập tiểu luận - phê bình in riêng, trong đó mỗi tác giả tuyển chọn ở góc độ chuyên ngành những bài viết luận bản các vấn đề văn học ở góc độ lý luận hay phê bình tác giả, tác phẩm - phần lớn đã đăng tải trên báo chí đương thời, nay tập hợp lại theo chủ đề nhất định.

Nhìn vào các chuyên luận nói trên cùng các tập tiểu luận - phê bình in riêng của các cây bút lý luận khối viện và nhà trường, cơ quan báo chí - xuất bản, Hội Nhà văn Việt Nam, đặc biệt là các tuyển tập của các nhà lý luận phê bình được Giải thưởng Hồ Chí Minh (Hoàng Trinh, Vũ Khiêu, Vũ Ngọc Phan, Đinh Gia Khánh) hoặc Giải thưởng Nhà nước (Lê Trí Viễn, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Phan Ngọc, Lê Ngọc Trà) người đọc dễ nhận thấy họ đã không ngừng mở rộng các góc độ quan sát và vận dụng các phương pháp lý luận, không chỉ bám sát các vấn đề lý luận cơ bản đã tồn tại mà còn soi chiếu nó với sự phát triển của thực tiễn văn học đương đại để khẳng định những điều còn khả dĩ, thay thế, bổ sung và phát triển những gì đã tỏ ra bất cập hay còn hạn hẹp, bó buộc. Đồng thời, họ cũng không bỏ sót nghiên cứu những bước phát triển mới, những tìm tòi có triển vọng của tư duy lý luận hiện đại, đã và đang mở ra những chiều kích nhìn nhận với những hệ hình quy chiếu mới ở các cấp độ khác nhau, nhằm đa dạng hoá các cách tiếp cận theo những mối liên hệ nhiều mặt (chủ thể sáng tác - các thuộc tính của đối tượng, khách thể - cơ cấu bên trong của văn bản tác phẩm với các ngôn ngữ khác nhau theo đặc trưng của thể loại, thể tài - đời sống của tác phẩm trong sự tiếp nhận của công chúng với các thị hiếu nghệ thuật khác biệt - các kiểu sáng tác với các mô hình tác phẩm phong phú, thể hiện sự đa dạng của tư duy nghệ thuật, tôn trọng sự tìm tòi độc đáo các phương tiện biểu hiện của các phong cách nghệ thuật nhiều dạng vẻ). Có thể thấy, vừa cố gắng khắc phục những vấp váp, hạn hẹp, chưa hoàn bị của tư duy lý luận thời đã qua, các công trình cố gắng khởi động và bắt nhịp vào quá trình hiện đại hoá tư duy lý luận đã mở ra từ khi công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản phát động được mọi tầng lớp xã hội hưởng ứng, đặng sớm hoà nhập ngay vào sự vận động của tư duy lý luận trên toàn cầu.

*

Lĩnh vực phê bình văn học - tức sự vận dụng lý luận để bình giá tác gia, tác phẩm cụ thể xuất hiện trong quá khứ và trong hiện tại, từ lâu đã được cả giới văn học quan tâm. Thoạt đầu, các nhà phê bình của viện, trường và các cơ quan báo chí, xuất bản, sốt sắng viết bài phê bình khen chê kịp thời các tác phẩm mới xuất hiện gây chú ý của dư luận hoặc về một chặng đường sáng tác, một sự nghiệp văn chương - phần nhiều là sử dụng phương pháp phê bình xã hội học, thiên về đánh giá tác phẩm theo các tiêu chí về nội dung tư tưởng đúng hay không đúng, về nội dung hiện thực phản ánh đời sống trung thực hay không, nhân vật so với nguyên mẫu có giống hoặc tương đồng không, ngôn ngữ văn học yêu cầu dễ hiểu, giản dị, bố cục rõ ràng v.v... Về sau, từ sau 1975, theo sự phân công mới có sự cộng tác, phối hợp chặt chẽ với Hội Nhà văn Việt Nam, các nhà phê bình của khối này đã chuyển sang lối phê bình - nghiên cứu, nếu có thể gọi như vậy. Nghĩa là không phê bình tác phẩm tràn lan mà có chọn lọc, nhằm vào những tác phẩm tiêu biểu cho những khuynh hướng sáng tác cần khuyến khích, định hướng phát triển; những tác phẩm đặt ra các khía cạnh lý luận cần trao đổi, cần hướng dẫn sự đánh giá, khen chê cho thoả đáng; hoặc những tác phẩm bộc lộ một vài thiếu sót, lệch lạc nghiêm trọng cần chấn chỉnh... Phê bình giờ đây, như tên một tập sách của Hoàng Trinh xuất bản năm 1980, là cố gắng bảo đảm sao cho đạt các yêu cầu cả về khoa học cũng như về nghệ thuật. Tránh đi theo lối mòn của lối phê bình tư biện, chủ quan, áp đặt khiên cưỡng, chỉ chăm chăm đối chiếu xem các mặt của đời sống hiện thực tồn tại đã được phản ánh "chân thực" như thế nào hoặc chỉ căn cứ vào lời giãi bày của nhà văn về tác phẩm của họ và công việc sáng tác mà tin theo rồi bình giải v.v... Lúc này, phê bình tỏ ra khách quan hơn, bám sát vào văn bản tác phẩm, chọn nhiều góc độ về phương pháp, lý luận để xem xét, không chỉ dựa vào phương pháp phê bình xã hội học, mà còn vận dụng sự ưu việt của các phương pháp khác: ký hiệu học và lý thuyết thông tin, thi pháp học, tự sự học, văn học so sánh, lý thuyết tiếp nhận, văn bản học, loại hình học, phân tâm học, tứ ự học, chủ nghĩa cấu trúc v.v... Từ đây với nhiều phương pháp phê bình khác nhau, không độc tôn một phương pháp nào, các bài viết tập trung khám phá các lớp ý nghĩa tiềm ẩn trong chỉnh thể cấu trúc tác phẩm; tìm tòi sự độc đáo của tác giả trong tư duy và cảm hứng nghệ thuật, sử dụng các phương tiện biểu hiện để hình thành bản lĩnh nghệ thuật với phong cách riêng; phẩm bình vị trí và giá trị của tác phẩm trong sự tiếp nhận của độc giả theo thời gian...

Bước vào thời kỳ đổi mới, trong không khí dân chủ, đề cao đối thoại, tranh luận học thuật một cách bình đẳng, phê bình từ bỏ tham vọng làm "ngự sử" trên văn đàn theo kiểu tự cho mình quyền đứng bên trên mà cao giọng phán bảo, tự đắc rằng mình đã nắm chân lý trong tay và luôn luôn đúng. Không, một cách khiêm nhường và phải lẽ, phê bình đã tìm lại chỗ đứng đích thực của mình với tư cách là người bạn tốt, chân thành, đứng ở vị trí trung gian giữa người đọc và tác giả; giữa người đọc, tác giả và tác phẩm, với kỳ vọng có thể đồng hành với họ trên cùng lộ trình khám phá chân giá trị và các lớp ý nghĩa tiềm ẩn không dễ nhận ra trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm. Và bản thân bài phê bình trong khi chú trọng hàng đầu đến nội dung của những vấn đề đề cập phải là những điều đáng nói về tác gia, tác phẩm được phê bình, chúng cần có hàm lượng thông tin mới mẻ so với những người khác. Đồng thời cũng không được xem nhẹ chất văn của sự biểu đạt sao cho hay, lôi cuốn, thuyết phục được tác giả và bạn đọc bằng một giọng điệu riêng của một phong cách không trộn lẫn với người khác. Tóm lại, cầm bút viết phê bình cũng là một cách viết văn - văn phê bình, theo đó nhà phê bình cũng là một kiểu nhà văn - nhà văn phê bình. Họ phấn đấu trở thành những chuyên gia trong lĩnh vực của mình, những "người thợ khéo không trao đồ đạc vụng về cho kẻ khác", như lời nhắc nhủ ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những người cầm bút ở Viện Văn học (Tạp chí Văn học số 2/1964, tr. 105).

Nhìn vào các cuốn sách tập hợp các bài phê bình, tiểu luận đã được viết ra trong một thời gian nhất định, nay được in, thấy hiện lên khá rõ phong cách phê bình của các cây bút khối viện và nhà trường, báo chí xuất bản, Hội Nhà văn Việt Nam. Thuộc thế hệ lớp trước và đàn anh, có sự uyên bác, sang trọng mà dí dỏm của Đặng Thai Mai, Đỗ Đức Hiểu, Lê Trí Viễn; tinh tế, lịch lãm và hóm hỉnh của Hoài Thanh, Nguyễn Đăng Mạnh; chân chất, dung dị của Trần Văn Bính; súc tích, hàn lâm của Hoàng Trinh, Trần Đình Sử; bộc trực, phóng khoáng của Hoàng Trung Thông, Phan Ngọc; rạch ròi, ham tranh luận của Vũ Đức Phúc, Phương Lựu; khúc chiết, lão thực của Nam Mộc, Nguyễn Xuân Nam. Và tiếp đó là Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh dân giã và tài hoa; Nguyễn Đình Chú, Phong Lê sôi nổi, mạnh mẽ; Hà Minh Đức, Thành Duy mực thước; Lê Xuân Vũ, Nguyễn Phúc chỉn chu; Huệ Chi kì khu cẩn trọng "thôi sao"...

Các thế hệ sau tuổi không còn trẻ nhưng chưa phải đã già, đã ngày một gây được cảm tình và sự chú ý của người đọc bởi sự nhạy cảm, xông xáo luận bàn những tác phẩm mới, chuyển động mới manh nha hình thành những khuynh hướng mới, trong sự cởi mở, ít bị ràng buộc bởi thành kiến và thiên kiến. Đó là Vũ Tuấn Anh, Phan Trọng Thưởng, Trương Đăng Dung, Nguyễn Ngọc Thiện, Bích Thu, Mai Hương, Tôn Phương Lan, Lưu Khánh Thơ, Hà Công Tài, Nguyễn Đăng Điệp (Viện Văn học), Lê Ngọc Trà, Trần Đăng Suyền, Lã Nguyên, Nguyễn Văn Long, Chu Văn Sơn, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Bá Thành, Trần Nho Thìn, Phạm Quang Long, Bùi Việt Thắng, Mã Giang Lân (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội), Trần Văn Giá, Mai Quốc Liên, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Quang Trung, Hồng Diệu, Lê Thành Nghị, Ngô Vĩnh Bình, Nguyễn Văn Lưu...

 

Lý luận văn học qua các giáo trình lý luận văn học bậc đại học

Lý luận văn học là một bộ môn của khoa học xã hội và nhân văn, xây dựng hệ thống quan điểm và tư duy lý thuyết khái quát, tạo tiền đề cơ sở cho sự thức nhận các quy luật bản chất về cội nguồn và sự phát triển của văn học nghệ thuật; đặc trưng của tư duy nghệ thuật trong sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm; tính phổ quát và đặc thù về loại hình tác phẩm; sự nảy nở và tồn vong của các mô thức (kiểu), khuynh hướng, trường phái sáng tác theo lộ trình diễn tiến văn hoá, văn minh nhân loại.

Trong bối cảnh đất nước thống nhất, sự giao lưu quốc tế đã thuận lợi và được mở rộng, công việc tổ chức biên soạn bộ giáo trình lý luận văn học mới để giảng dạy ở khoa văn các trường đại học trên cả nước được triển khai ngay sau tháng 4/1975, bởi một nhóm chuyên gia của Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm Vinh và Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh gồm Nguyễn Lương Ngọc (chủ biên), Phương Lựu, Hà Minh Đức, Bùi Ngọc Trác, Lê Đình Kỵ, Lê Bá Hán. Nhưng phải đợi đến năm 1980 tập 1 mới ra mắt độc giả và đến năm 1985 bộ sách được in trọn bộ với 3 tập. Những tác giả của giáo trình rút kinh nghiệm từ mấy cuốn giáo trình lý luận văn học trước đây mà họ có tham gia viết, tuy vẫn duy trì bộ khung 4 phần như trước, nhưng đã kết cấu tách thành 3 tập với tổng số hơn 1.300 trang khổ thường, nhiều nhất so với các bộ giáo trình trước đó. Và sau này cũng chưa có bộ giáo trình nào vượt trội được về độ dày như vậy.

Tận dụng điều kiện mới cho phép, giáo trình đã cố gắng bám sát thực tiễn phát triển của văn học trên phạm vi cả nước thống nhất, chọn lọc trình bày những thành tựu nghiên cứu lý luận mới mẻ, không chỉ trong các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa mà còn ở cả những quốc gia tiên tiến Âu - Mỹ khác. Giáo trình có phần bổ sung mới khi đề cập đến chủ thể sáng tác, các phương pháp sáng tác của chủ nghĩa hiện đại, phương pháp luận nghiên cứu và giảng dạy về tác phẩm văn học, về đường lối văn nghệ của Đảng ta.

Giáo trình lần này đã cho thấy cách tiếp cận cởi mở đối với các thành tựu lý luận và trường phái sáng tác hiện đại có ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời đã cố gắng bắt kịp yêu cầu sát sao cần nắm chắc các nguyên tắc thuộc phương pháp luận trong giảng dạy và nghiên cứu văn học. Và lần đầu tiên, giáo trình trình bày đại cương về đường lối văn nghệ của Đảng mác-xít, khẳng định vai trò của đường lối đó đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn nghệ cách mạng, dân tộc, hiện đại theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong mấy chục năm qua. Ở góc độ lý luận, theo giáo trình, đường lối ấy là sự quán triệt và vận dụng sáng tạo các nguyên lý của mỹ học và lý luận văn học Mácxít - Lêninnít vào thực tiễn văn nghệ ở một quốc gia đa dân tộc, liên tiếp phải tiến hành chiến tranh cách mạng để bảo vệ nền đoàn kết dân tộc và vững bước trên con đường của chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại của nền văn nghệ này, là những dữ liệu thực tế đòi hỏi được lý giải, làm sáng tỏ trên phương diện lý luận. Từ đó, đặt ra yêu cầu cấp bách về hoàn chỉnh và phát triển đường lối văn nghệ của Đảng lãnh đạo. Lý luận văn nghệ thấm sâu trong đường lối đúng đắn và sáng tạo, sẽ phát huy tốt vai trò tổ chức, định hướng khai mở tiền đồ phát triển mới rộng rãi, phong phú, lành mạnh của văn nghệ Việt Nam khi bước vào kỷ nguyên mới của vận hội đất nước.

Tuy giáo trình nói trên biên soạn công phu, hàm lượng kiến thức lớn và khá mới mẻ, nhưng rốt lại, nó vẫn chỉ kịp được sử dụng chung trong giảng dạy và học tập tại khoa văn các trường Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp trên cả nước vẻn vẹn với một thời gian không dài là 5 năm. Bởi vì từ nay, bước vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX, theo chủ trương cải cách sư phạm của Bộ Giáo dục, các trường đại học cần chủ động tổ chức biên soạn các giáo trình dùng trong phạm vi của trường mình, để có được tính khoa học phù hợp với nghiệp vụ đặc thù. Do vậy, sẽ không thể tiến hành biên soạn chỉ một giáo trình để sử dụng chung ở các trường đại học khác nhau về mục tiêu đào tạo như trước đây nữa.

Và thế là, hai trung tâm đại học lớn là Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội lại khẩn trương bắt tay biên soạn các giáo trình lý luận văn học để sử dụng riêng cho cơ sở đào tạo của mình. Cũng như những giai đoạn trước, trường Đại học Sư phạm Hà Nội lại giữ vai trò của người đi tiên phong. Trong ba năm ráo riết làm việc, từ năm 1986 đến năm 1988, bộ giáo trình Lý luận văn học dày dặn do tập thể các nhà giáo thuộc bộ môn Lý luận văn học của khối các trường Đại học Sư phạm (Hà Nội I, Hà Nội II, thành phố Hồ Chí Minh) biên soạn đã ra mắt. Giáo trình được in làm 3 tập, do GS. TSKH. Phương Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, La Khác Hoà, Nguyễn Xuân Nam, Thành Thế Thái Bình, Lê Ngọc Trà (biên soạn) nhà xuất bản Giáo dục in và phát hành. Giáo trình có một bước đột phá quan trọng, đó là sau 1/4 thế kỷ, giờ đây nó đã không trình bày kiến thức lý luận văn học theo mô hình khung gồm 4 phần "cổ điển" như trước đó nữa. Lần này, sách gồm 4 phần, song theo một hệ thống và tinh thần khác trước, được in gọn vào 3 tập. Sách bước đầu quán triệt tinh thần đổi mới tư duy lý luận văn học trong bối cảnh chung của sự nghiệp đổi mới vừa được Đảng Cộng sản khai mở. Cuốn sách trong khi cố gắng quán triệt toàn diện và chính xác hơn ý kiến của các tác gia kinh điển của mỹ học Mác - Lênin và chú trọng tiếp tục hấp thu những thành tựu mới mẻ của lý luận văn học Xô Viết, đã kết hợp sử dụng thích đáng những kiến thức hiện đại thuộc các chuyên ngành gần gũi với lý luận văn học như: mỹ học, thi pháp học, phương pháp luận nghiên cứu văn học, tâm lý học văn học, xã hội học văn học... để rồi kết tinh và cải tiến nội dung trình bày những vấn đề, khái niệm, phạm trù vốn có, quen thuộc.

Có thể nói, bộ giáo trình lý luận văn học này là một nỗ lực đổi mới tư duy lý luận văn học ở ta, ít nhiều đáp ứng kịp thời nhu cầu của người học, người đọc và xã hội. Sách được sử dụng trong khoảng thời gian dài trên dưới 15 năm cho đến cuối thế kỷ XX, vắt sang đầu thế kỷ XXI. Sách được tái bản vào các năm 1997 và 2002, trong đó lần tái bản thứ hai được in vào một tập khổ lớn dày hơn 700 trang.

Song song với trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhưng có chậm hơn một chút, tổ bộ môn Lý luận văn học trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), do GS. Hà Minh Đức làm chủ biên, đã cho ra mắt cuốn giáo trình Lý luận văn học mới. Một tập thể cán bộ giảng dạy của bộ môn đã được huy động vào việc viết các phần của sách. Xuất hiện vào những năm đầu của công cuộc đổi mới, quán triệt tinh thần cải cách giáo dục theo định hướng dân tộc và hiện đại, so với bộ giáo trình đầu tiên của trường này được biên soạn trước đó 30 năm, giáo trình mới  được trình bày gọn vào một quyển sách chỉ hơn 300 trang khổ vừa. Vẫn kết cấu cũ gồm 4 phần như trước đây, song nội dung cụ thể và logic tư duy, kiến văn đã có nhiều điểm mới khác trước nhiều. Sức trẻ trong tư duy lý luận đã tìm đến những góc độ tiếp cận mới mẻ do mạnh dạn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành kết hợp với liên ngành, xem xét thấu đáo và toàn diện quá trình văn học trong mối tương tác giữa các thành tố chỉnh thể: hiện thực đời sống - tài năng sáng tạo - chất lượng tác phẩm - hiệu quả tiếp nhận.

Giáo trình đã có thêm các chương mới về nhà văn và quá trình sáng tác và thi pháp học. Tác phẩm văn học là nơi hội tụ các vấn đề lý luận thiết cốt của sáng tạo và tiếp nhận văn học. Nó cần được quan sát như một cấu trúc chỉnh thể mà các thành tố nội dung và hình thức xuyên thấm vào nhau, nương tựa vào nhau mà tồn tại, phát huy giá trị thẩm mỹ. Không thể xem nhẹ phương diện hình thức, cũng như biệt lập hoặc thổi phồng vai trò của nó, song đúng là ở một tác phẩm văn học đích thực, hình thức là cái nhờ vào đó nội dung tác phẩm được biểu hiện và nhận biết; bản thân hình thức tác phẩm cũng có ý nghĩa và nội dung tự tại.

Vậy là, trong tình hình các quan điểm lý luận đang vận động phát triển, giáo trình lý luận văn học trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã cố gắng nâng hệ thống kiến thức lên bình diện cao hơn trước, đảm bảo sự bền vững và tính năng động của lý luận trong sự tham chiếu vào thực tiễn sáng tạo của nhà văn và quá trình tiếp nhận của công chúng. Cũng như sách của các đồng nghiệp bên Đại học Sư phạm Hà Nội, cuốn giáo trình Lý luận văn học của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội hiện vẫn đang được sử dụng, tính đến đầu thế kỷ XXI, sách đã được nhà xuất bản Giáo dục tái bản đến lần thứ 9.

 

Khai thác tinh hoa lý luận văn học dân tộc và phương Đông, mở rộng tiếp nhận thành tựu mới của lý luận, phê bình văn học phương Tây

Cuối cùng là các văn bản tư liệu về lý luận - phê bình văn học với tư cách là cơ sở, là đối tượng của nghiên cứu về lý thuyết văn chương, khoa học phê bình văn chương. Đối với những công trình, bài viết chứa đựng những giá trị của tư duy lý luận văn học hiện diện qua các thời đại từ cổ đến kim, do các học giả trong nước hoặc ngoài nước công bố dưới các hình thức văn tự khác nhau, giới lý luận - phê bình ngay từ đầu đã chú ý sưu tầm, biên soạn, biên dịch và xuất bản chúng, trở thành những tư liệu tham khảo bổ ích góp vào việc mở rộng kiến văn về chuyên ngành cho giới nghiên cứu cả nước. Công việc đòi hỏi công phu, tỷ mỷ với thái độ trân trọng vốn quý của người đi trước để lại, cần mẫn phủi bụi, “lau chùi cho ngọc quý càng thêm sáng”, “đãi cát tìm vàng” này được duy trì, giới thiệu trên mục Sưu tầm - Tư liệu của Tạp chí Văn học, Tạp chí Văn nghệ, Văn học nước ngoài, tác phẩm mới, Nhà văn. Đáng mừng là một phần nhỏ trong số này đã được tập hợp in thành sách, mở rộng diện phục vụ bạn đọc trong cả nước lẫn ngoài nước. Những công trình là kết quả từ công việc sưu tầm, biên soạn, biên dịch, có thể kể đến là: Đảng ta bàn về văn nghệ (1977, Hoàng Trinh chủ trì tuyển soạn), Từ trong di sản (1981, Nguyễn Minh Tấn chủ biên), Người xưa bàn về văn chương (1993, Đỗ Văn Hỷ biên dịch), Tuyển tập Phê bình, Lý luận văn học Việt Nam 1900 - 1945 (5 tập, 1997, do Nguyễn Ngọc Thiện chủ trì sưu tầm, biên soạn), Tạp chí Tri Tân 1941 - 1945, Phê bình văn học (1998, do Trịnh Bá Đĩnh và Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm tuyển soạn), Văn chương và hành động (in lần đầu năm 1936, của Hoài Thanh - Lê Tràng Kiều - Lưu Trọng Lư, bị chính quyền thực dân tịch thu, mãi đến năm 1999 được tái bản do Nguyễn Ngọc Thiện sưu tầm, khảo luận), Tuỳ viên thi thoại của Viên Mai, Nguyễn Đức Vân dịch từ năm 1972, in thành sách năm 1999, Mỹ học (của W. Heghen, Nhữ Thành dịch, in ronéo năm 1973, đến năm 2000 in thành sách gồm 2 tập).

Ngoài ra có thể bổ sung thêm các cuốn chuyên khảo kết hợp vừa sưu tầm hoặc tuyển dịch, vừa đồng thời nghiên cứu bước đầu nhằm hỗ trợ cho bạn đọc hiểu thêm về vụ việc, diện mạo một trường phái, một tác gia với các tác phẩm cụ thể. Đó là: Phê bình văn học Pháp thế kỷ XX (1995, Lộc Phương Thuỷ biên dịch, khảo cứu), Alain Rôbbe Grillet và sự đổi mới tiểu thuyết (1995, Lê Phong Tuyết tuyển dịch, giới thiệu). Và các bản dịch tác phẩm lý luận nước ngoài công phu, kèm với tiểu luận nghiên cứu về công trình đó, có giá trị tham khảo bổ sung, do Trương Đăng Dung (dịch từ tiếng Hungari), Nguyễn Trung Đức (dịch từ tiếng Tây Ban Nha), Huỳnh Vân, Nguyễn Tri Nguyên, Phạm Thị Hoài (dịch từ tiếng Đức), Phạm Tú Châu và Trần Minh Sơn (dịch từ tiếng Trung Quốc), Phạm Xuân Nguyên (dịch từ tiếng Anh và tiếng Nga); Lê Sơn, Phạm Vĩnh Cư, Lê Ngọc Tân, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Lã Nguyên, Trần Đình Sử, Trịnh Bá Đĩnh (dịch từ tiếng Nga) thực hiện, đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Văn học, Nhà văn, Văn học nước ngoài v.v... Với tinh thần “lấy xưa phục vụ nay”, “lấy ngoài phục vụ trong”, “hoà nhập cùng khu vực và thế giới”, việc sưu tầm, biên dịch, giới thiệu các thành tựu, các giá trị mới của tư duy lý luận - phê bình trong và ngoài nước nói trên không nhằm để phục cổ hoặc sùng ngoại, mà là tiếp thu có chọn lọc, gạn đục khơi trong hoặc cung cấp những phản đề, phản biện hoặc khẳng định, gợi ý tiếp tục đào sâu, tìm tòi làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận của những vấn đề tương đồng, tương thích mà hiện nay chúng ta đang phải đối diện giải quyết. Về mặt lịch sử lý luận, qua các công trình này, người đọc cũng có thể hình dung rõ nét lộ trình của một mảng tư duy lý luận trong nước cũng như của nhân loại đã nảy sinh từ thực tiễn sáng tác qua trường kỳ lịch sử như thế nào.

Việc hoàn chỉnh các dữ liệu gốc - tức các loại tư liệu ghi nhận sự hiện diện của tư duy lý luận - phê bình văn học ở trong nước cũng như ở nước ngoài mà chúng ta đã kế thừa và tiếp thu một cách có chọn lọc cùng vấn đề quan thiết là nắm vững tư tưởng lý luận nền tảng sẽ tích hợp thành những căn cứ khoa học chắc chắn, hỗ trợ các nhà lý luận - phê bình trong nước vận dụng, soi sáng và giải quyết những vấn đề cụ thể của công cuộc xây dựng, phát triển nền văn nghệ trong thời kỳ mới.

Cần ghi nhận đóng góp của một đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận - phê bình trong một giai đoạn văn học 25 năm cuối thế kỷ XX với hàng trăm công trình cá nhân, tập thể xuất hiện và kế tục nhau qua các thế hệ: các nhà lý luận phê bình đàn anh đã có thành tựu từ trước Cách mạng tháng Tám 1945; những người khởi nghiệp, năng lực phát lộ và đạt đỉnh cao sung mãn trong những năm 60, 70 của thế kỷ XX và lớp cán bộ bây giờ là nòng cốt cầm bút từ sau ngày thống nhất đất nước cùng lớp cán bộ trẻ xuất hiện trong cao trào của công cuộc đổi mới đất nước trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX.

Sang thiên niên kỷ mới, một thế hệ nghiên cứu lý luận - phê bình thứ tư đã được bổ sung. Họ còn rất trẻ, tuy mới bước vào nghề, nhưng với sự năng động và tiềm năng đáng quý của sức trẻ, sẽ rút ngắn khoảng cách giữa thế hệ mình với các bậc đàn anh đi trước, đủ sức gánh vác các công việc đòi hỏi chất lượng ngày càng cao hơn của lý luận - phê bình văn học hôm nay.

Những người làm công tác lý luận - phê bình nước ta rút kinh nghiệm hoạt động trong hơn 1/4 thế kỷ qua, nhận thức rõ các yêu cầu xây dựng và đấu tranh về quan điểm lý luận trong một thế giới còn phân cực mạnh mẽ, sẽ tiếp tục tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận căn cốt qua tổng kết thực tiễn một thế kỷ của lịch sử văn học Việt Nam hiện đại và lịch sử văn học Việt Nam trong trường kỳ 10 thế kỷ, thực hiện tốt sự gắn bó lý luận với thực tiễn sáng tác hơn nữa, nhằm tích cực thúc đẩy vào phong trào thi đua sáng tác văn học - nghệ thuật, sao cho xuất hiện ngày một nhiều những tác phẩm đỉnh cao, đáp ứng đòi hỏi của chiến lược xây dựng nền văn hoá văn nghệ Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, hướng về đông đảo nhân dân mà phục vụ và mở rộng giao lưu, hội nhập văn hoá, văn minh với bạn bè khu vực và quốc tế.

PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác