Vài cách diễn giải về diễn ngôn thơ trong "Thơ đến từ đâu"

Câu hỏi “Thơ đến từ đâu” trước hết chất vấn chủ thể sáng tạo, nó tra vấn những điều kiện hợp thức hoá một diễn ngôn thi ca, cả môi trường quy định một kiểu hoạt động ngôn từ nhất định (được tồn tại và vận hành chức năng của chúng ra sao). Câu hỏi đó hướng đến sự tái lập một loại hình diễn ngôn nào đó, cũng tiền giả định một câu trả lời có kinh nghiệm của người nói về lao động sáng tạo và về việc công khai hoá các ý đồ sáng tạo đó qua các cách thức truyền thông khác nhau, nó đã chứa sẵn một hiện thực, tạo ra một hiện thực nếm trải.

Tôi nghĩ cho dù chúng ta có cố gắng bao nhiêu đi nữa cũng không thể giải đáp thoả đáng cho câu hỏi Thơ đến từ đâu. Đó là một câu hỏi đặt ra cho từng trường hợp, từng giai đoạn, từng khung cảnh. Ở mỗi nhà thơ, mỗi môi trường… thơ có cách riêng để đến, đi qua và lưu lại. Thơ là một diễn ngôn. Diễn ngôn đó được tạo lập theo sự định nghĩa của nhà thơ, sự quy ước của cộng đồng, của một nền văn hóa, sự đặt định của một thể chế chính trị xã hội.

Nhà thơ có khi chỉ dùng lại các khuôn lời đã được quy phạm hóa, chính thống hóa, có khi anh ta bị biến thành một kẻ môi giới cho loại lời nói có quyền lực nào đó.  Nhà thơ nào cũng sống trong một cộng đồng xã hội nhất định. Cộng đồng xã hội đó có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận một phát ngôn nào đó thuộc về một kiểu diễn ngôn thơ, có thể quy định “những điều không được nói ra” và “những cách để nói” về chúng, có thể quy định “không chỉ những gì phải được nói ra để được nghe mà cả những gì phải được nghe để có thể nói” (1), có thể trao thẩm quyền được nói cho một chủ thể duy nhất (2), có thể tạo ra uy quyền cho một số loại phát ngôn. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, đôi khi nhà thơ sẵn sàng đứng ở ngoại biên của cấu trúc quyền lực, chọn lựa đi lệch khỏi những chuẩn mực. Đôi khi họ công khai chống lại diễn ngôn hệ tư tưởng thống trị, cố gắng làm xói mòn ý đồ biện minh hợp pháp của nó, bộc lộ rõ ý thức đối lập với những khuôn mẫu suy nghĩ đương thời. Họ có thể chống lại một loại văn bản có sức mạnh “nuốt chửng” những ý nghĩ và lời nói cá nhân.

Thơ đến từ đâu của Nguyễn Đức Tùng đem lại những ví dụ cụ thể, sinh động cho những trường hợp đã nêu. Dưới đây chúng tôi điểm lại một vài quan niệm.

 

Nhà thơ Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Thơ đến từ sự tự khai, tự thú….

Nguyễn Thị Hoàng Bắc cho rằng thơ có thể bật ra lúc nhà thơ sống với chính tâm hồn mình, cả trong khổ đau và hạnh phúc. Thơ ra đời lúc tâm hồn chúng ta thực sự lắng lại hồi tưởng, chiêm nghiệm. Thơ gắn với những cảm nghiệm riêng tư, và trước hết là một sự tự thú của người viết. Thơ là một bản nhạc, mà tiết tấu của thơ chủ yếu là tái tạo lại nhịp điệu tâm hồn, cái giọng riêng của chủ thể sáng tạo.

Đọc Nguyễn Thị Hoàng Bắc, chúng ta thấy một thực tế rằng - cho dù chị có “những phút im lặng” để cảm xúc cá nhân thăng hoa nhưng những phát ngôn của chị vẫn luôn bị “lọc” bởi môi trường sống cụ thể, diễn ngôn thơ lưu giữ kí ức tập thể, kí ức văn hóa. Diễn ngôn thơ không có tính chất thuần túy nghệ thuật, nó là một loại lời nói về hiện thực, nó có thể hấp thụ ánh sáng của triết học, của chính trị. Diễn ngôn thơ là một diễn ngôn có nhiều tiếng nói, tiếng nói của ý thức hệ với một quyền lực nhất định, tiếng nói của cá nhân với một trình độ nhận thức nhất định. Nó vừa là sản phẩm ý thức, quan niệm của cá nhân, vừa là sản phẩm vô thức, quy ước của một cộng đồng. Là sản phẩm của cá nhân, nó có thể phơi bày một hiện thực trần trụi. Là sản phẩm của môi trường, nó có thể ngụy tạo một tri thức.

Nguyễn Thị Hoàng Bắc quan niệm: nếu tách khuynh hướng chính trị và triết học ra khỏi một văn bản có thể sẽ có một văn bản méo mó, ngược lại cũng có thể đọc chưa đầy đủ. Sự viết, theo nghĩa Nguyễn Thị Hoàng Bắc nêu, được xem là một cách đọc hiện thực, tạo nghĩa cho hiện thực. Sự đọc, theo đó, cũng thành một cách diễn giải hiện thực, sáng tạo ra hiện thực, thậm chí còn tạo hình cho cái tôi của nhà thơ. Đọc và viết đều là sáng tạo, là phát hiện ra những cái khả nhiên. Nhà thơ “đọc” lại tác phẩm của mình cũng chỉ là đưa ra một khả năng khác. Xin lấy ví dụ. Nguyễn Thị Hoàng Bắc đọc lại bài thơ đầu tiên của mình công bố trên báo Điện tín cho Nguyễn Đức Tùng nghe. Chị nói về sự kiểm duyệt của miền Nam và cắt nghĩa nội dung “bài thơ" (3). Cách đọc và lí giải của Nguyễn Thị Hoàng Bắc cho độc giả thấy, thêm một điều, là thơ đến, ít nhất, từ hai con đường. Con đường “tập thể”: văn bản thơ có thể bị tư tưởng thống trị hiệu chỉnh lại, bị nhào nặn lại, bị xuyên tạc. Con đường cá nhân: văn bản thơ là lời tự khai, tự thú, là một cách nói, cách nghĩ của cái tôi về hiện thực và cách ứng xử. Ở con đường thứ nhất, văn bản thơ cần được hợp thức hóa, để đến với người đọc được nguyên vẹn. Ở con đường thứ hai, thơ cần có tri âm, tri kỉ, để có thể có sự chia sẻ, cảm thông. Nguyễn Thị Hoàng Bắc nhận ra cái thực tiễn phức tạp của diễn ngôn rằng: một bài thơ giữ cho mình đọc thì số phận âm thầm, một bài thơ được công bố sẽ có một diện mạo khác.

Nguyễn Đức Tùng trong khi trò chuyện với Nguyễn Thị Hoàng Bắc còn nhắc lại vấn đề Cái chết của tác giả của R. Barthes. Song, rất tiếc, anh và cả Nguyễn Thị Hoàng Bắc, đều không chỉ ra được lô gíc quyền lực và sự thống trị của nó trước các diễn ngôn. Theo R. Barthes hệ tư tưởng thống trị, do đoạt được phương tiện thông tin đại chúng (4), đã áp đặt ngôn ngữ - lối nghĩ của mình cho các cá nhân, hay hệ tư tưởng thống trị không để cho các cá nhân có được phương thức phù hợp để tổ chức lấy kinh nghiệm sống của bản thân mình bằng cách tước mất ngôn ngữ cần thiết của cá nhân đó. Nói cách khác, R. Barthes lúc này, đã nhìn thấy ngôn ngữ bị đồng nhất với tư duy, ý thức của con người bị đánh đồng với văn bản. Chính thái độ, quan niệm này của R. Barthes đã đưa đến các quan niệm về cái chết của chủ thể mà qua đó ngôn ngữ lên tiếng, cái chết của tác giả và cái chết của độc giả trước cái liên văn bản lớn của truyền thống văn hoá.

Nhắc đến hai con đường nêu trên đây, chúng tôi thấy Nguyễn Thị Hoàng Bắc có phần thiên về con đường thứ hai. Chị khẳng định: “dù thế nào thơ cũng là tâm tình, tâm sự, là triết lí, quan điểm, suy nghĩ của nhà thơ…”. Tôi chú ý đến quan niệmthơ đến từ những suy tư về thân phận con người nói chung, về thân phận của người phụ nữ nói riêng. Thơ đến từ sự phản tỉnh, thơ là một cuộc tìm lại bản ngã, cá tính. Nó là một cuộc đối thoại giữa các ý thức (Ngọn cỏ). Nhà thơ “sẽ còn làm thơ vì cái thiếu, cái khắc khoải, cái chưa có, chưa tìm ra, và chưa đạt được của mình. Mãi mãi”.

 

Nhà thơ Hoàng Cầm: Thơ đến từ những vấn đề lớn của dân tộc

Hoàng Cầm nhấn mạnh trước hết ở thơ một căn tính dân tộc. “Thơ là vấn đề lớn của dân tộc”. Bởi vì nó biểu đạt tiếng nói dân tộc, tâm hồn dân tộc, số phận dân tộc, lịch sử riêng, tâm tính riêng của dân tộc. Thơ trở thành cầu nối giữa nhà thơ và độc giả, giữa người viết này và người viết kia, tạo ra sự gắn bó giữa những người cùng dân tộc, nói cùng một thứ tiếng song còn ở cách xa nhau về không gian. “Nhiệm vụ của nhà thơ là nói lên được tiếng nói riêng biệt của dân tộc mình trong cộng đồng nhân loại”. Thơ đến từ ý thức dân tộc. Đọc Hoàng Cầm có thể cảm nhận được những vấn đề dân tộc tính, văn hóa dân tộc, con người nói chung. Đọc ông mà chỉ dừng lại ở tình cảm luyến ái thôi chắc chắn sẽ bỏ qua rất nhiều vẻ đẹp bất ngờ khác.

Hoàng Cầm cũng nói đến tính chất cá nhân của diễn ngôn thơ: thơ đến từ cuộc sống cá nhân, sinh ra trong hoạn nạn, khổ cực của đời sống, đời viết. Nó có một cái nôi riêng. Nhà thơ nào cũng có một cái nôi thơ. Hoàng Cầm ươm thơ từ cái nôi cội nguồn Kinh Bắc.

Đối với Hoàng Cầm, thơ còn đến từ nhu cầu ngâm, diễn, ngoài nhu cầu đọc thông thường. Thơ đến từ nhạc, nhạc lòng. Ông nói “nhạc của thơ là cái sườn của toàn bài”. Thơ đến từ cách cấu trúc, cấu trúc ngôn từ. Thơ “làm lệch các cấu trúc văn phạm thông thường”, nhà thơ “chú tâm về cấu trúc và âm nhạc”.

Có thế nói, quan niệm của Hoàng Cầm về thơ khá mềm mại, linh hoạt. Theo Hoàng Cầm, thơ không chỉ nảy sinh từ nhu cầu trữ tình mà còn được sắp đặt lại trong nhu cầu tự sự. Đọc thơ là đọc một trạng thái cảm xúc, đọc một câu chuyện. “Thơ là tiếng nói của tâm hồn”. Quan niệm này đôi lúc còn được Hoàng Cầm đẩy đến lĩnh vực của cái vô thức. Ông nói hầu hết thơ đều tự nhiên bật ra, và “gần như là vô thức”, bản chất sáng tạo là vô thức. Nhưng để được thế thì nhà thơ lại phải sống thực sự với chữ nghĩa, phải có một cuộc sống đầy đủ lãng mạn, sâu sắc và phong phú. “Thơ trước hết là sự rung động”. “Rung động tức là sự thật”. Thơ đến từ sự thật, từ sự rung động của người làm thơ. Người viết cần “phải để cho thơ bật ra từ trong huyết quản của mình, từ trong chính cuộc sống và suy nghĩ mỗi ngày. Nó bật ra chứ không phải anh nghĩ ra nó”. Có dấu hiệu cho thấy Hoàng Cầm vượt qua sự đối lập giữa chủ nghĩa duy cảm và chủ nghĩa duy  lí. Ông nhìn thấy sự hòa quện khó tách bạch giữa tình cảm và lí trí trong thơ.

Đọc Hoàng Cầm, tôi chú ý đến quan niệm: thơ đến từ sự cách tân. Hoàng Cầm đã từng cùng Lê Đạt, Trần Dần, Văn Cao… nhận “sứ mạng” đổi mới cách nghĩ, cách nhìn hiện thực, đổi mới nghệ thuật thơ. Họ cùng nhau “đả phá lối thơ lãng mạn than mây khóc gió, đả phá cả những bài thơ nói như trong sách chính trị, giáo điều và máy móc đã xuất hiện khá nhiều trên báo chí" (5), đả phá lối thơ “sùng bái cá nhân, thần thánh hóa lãnh tụ” (6), cùng nhau phê bình những mặt yếu kém của tập thơ Việt Bắc, mà thực ra là phê bình một lối viết, nặng tính chất tuyên truyền, dựng tượng. Ở Hoàng Cầm cách tân không phải là khẩu hiểu suông, cách tân là một lẽ tồn tại, là một nguyên tắc sáng tạo. Ông khẳng định “bất cứ gia đình, bạn bè hay thế lực, chế độ nào buộc mình không làm thơ thì mình cũng sẽ không thay đổi. Hoạn nạn hay khổ đau nào cũng sẽ không làm mình thay đổi”. Nói vậy, có nghĩa là Hoàng Cầm có ý thức về những “răn cấm” của hệ tư tưởng, của hoàn cảnh sáng tác, muốn thoát khỏi sự quy chế hóa, muốn tạo ra một giá trị riêng. Hoàng Cầm quả quyết rằng mình “không có ý định cách tân chỉ để cách tân”. Nghĩa là sự cách tân của ông không dừng lại ở bình diện hình thức, không bị biến thành một trò chơi, mà là sự đổi mới trong cốt tủy. Đổi mới nhịp nhạc, ngôn từ. Đổi mới nội dung: “tâm hồn mình tự do đến đâu thì mình viết tự do đến đó”. Đổi mới đi liền với quy luật tình cảm tự nhiên.

Đổi mới ở Hoàng Cầm là một cách tạo ra “cái hiện thực khách quan”, là sự sáng tạo thơ. “Các câu thơ của tôi nếu không mới thì tôi thường bỏ đi”. Đổi mới, theo nghĩa này, cũng có thể xem là một câu trả lời cụ thể cho câu hỏi thơ đến từ đâu. Hoàng Cầm bảo “tôi tạo ra quê hương đất nước tôi”, và cho rằng mỗi nhà thơ đều: “Có cái hiện thực khách quan ngoài ý muốn của mình, và cũng có cái khách quan do mình tạo ra… Cái hiện thực khách quan thứ nhất do xã hội và lịch sử tạo ra, đầy những bất trắc và bất công, mình đồng ý với nó hay phản kháng lại nó, cũng không dễ một ngày hai ngày mà thay đổi được… Hiện thực thứ hai lúc nào mình cũng tạo ra được, vì do mình chọn lấy từ hiện thực thứ nhất. Ví dụ như gia đình, bạn bè, người yêu, chỗ ở, nơi làm việc, học hành, vui chơi. Cái khách quan thứ hai này nó nuôi dưỡng hồn thơ của mình hay nó hủy diệt hồn thơ ấy đi.”. Hoàng Cầm coi diễn ngôn thơ tạo ra “hiện thực thứ hai”, đến lượt mình “hiện thực” ấy tạo ra chủ thể tính, tạo ra những tri thức, tạo ra những tư tưởng tình cảm. Đọc thơ Hoàng Cầm không thể chỉ quy chiếu về “hiện thực thứ nhất”. Bởi vì, trong sự sáng tạo của Hoàng Cầm, văn bản thơ không chỉ dừng lại ở chức năng thông tin. Diễn ngôn thơ có giá trị  thẩm mỹ tự tại.

 

Nam Dao: thơ đến từ sự đồng cảm… qua ba chiều kích

Dịch thơ là một sự sáng tạo, đồng sáng tạo. Nam Dao bộc bạch: “nếu một văn bản không khiến tâm hồn ta cảm thấy có gì xôn xao, náo động tự trong sâu xa thì đừng bỏ công dịch văn bản ấy làm gì”. Dịch thơ cũng là một cách đọc văn bản, một cách tạo những sắc thái ý nghĩa mới cho văn bản gốc, một cách truyền tình cảm của người dịch thơ cho ngôn ngữ thơ.

Đối với Nam Dao, thơ đến từ sự đồng cảm, từ “đáy ao vô thức” và “trực giác”, từ những ngả khác nhau của tâm tình, cảm nhận. Điều cần nhất ở là thơ “phải thật”. Thơ đến từ sự thật, “phần hồn” của kẻ làm thơ. “Thơ đến với người đọc qua ba chiều kích, là con người sinh vật đầy nhục cảm, con người thành phẩm của văn hóa – lịch sử, và con người – nhà thơ. Chiều kích cuối cùng vừa nói là chiều kích cá biệt của một con người có điều gì muốn mang ra chia sẻ với đồng loại. Chia sẻ được, hắn khẳng định cá thể của mình như một thành tố của cái chung…. thành một dấu vết của văn hóa”. Thơ đến từ quá trình tạo ra các kí hiệu văn hóa, thẩm mỹ, đến từ ham muốn vô thức, từ sự sáng tạo cái đẹp của người viết.

Nam Dao định nghĩa: thơ nằm ở lằn mức mỏng manh giữa ngôn từ và sự im lặng triền miên của cõi vô ngôn, thơ là sự kết tinh giữa ngôn ngữ và cảm xúc, là lời đánh thức cái đẹp, cái tốt, cái thật. Như thế, Nam Dao đã nhìn nhận thơ nảy sinh từ nhiều nguồn khác nhau, và chúng ta không thể tìm ra câu trả lời phổ quát về nguồn gốc, xuất xứ của thơ.

 

Nhà thơ Lê Đạt: thơ đến chủ yếu từ đòi hỏi nội tại

Đối với Lê Đạt “sáng tạo văn học bao giờ cũng do đòi hỏi nội tại. Những lí do khác chỉ là phụ”. Sự đòi hỏi nội tại trong quan niệm của Lê Đạt loại trừ những cái không thật, cái giả vờ, nghĩa là chỉ chấp nhận sự thôi thúc tự nhiên, chân thật, chấp nhận cả sự thể nghiệm, tìm tòi. Sự thể nghiệm có thể tạo ra văn bản thơ. Thơ có thể đến từ ý thức “sinh sự” của người viết. Lê Đạt thích “sinh sự”, chủ trương ủng hộ những thể nghiệm mới của thế hệ trẻ. Coi đó là lẽ tồn tại của thơ, cũng là nguồn gốc của thơ.

 

Trần Nghi Hoàng: thơ đến từ cõi riêng của người thơ

Sự ra đời của thơ gắn với từng hoàn cảnh cụ thể. Song không phải vì thế mà nó không có mối liên hệ gì với truyền thống. Trường hợp Trần Nghi Hoàng viết Mở cửa tử sinh chẳng hạn, tác giả cho rằng lúc đó có sự thúc đẩy của trường ca Đẻ đất đẻ nước, nhưng cơ bản là do ông rơi vào tình thế cô đơn cùng cực. Chúng ta gặp ở đây một nguồn thơ khác. Thơ nảy sinh trong sự cô đơn, trong những suy tư về phận người, về cuộc sống, thời gian, thời đại và trong sự tưởng tượng chứ không phải trong “sự kết bầy, chia sẻ”. Thơ sinh ra từ cuộc đời cá nhân, trong chính sự nghiệm sinh của nhà thơ. Thơ sinh ra  từ tri thức của nhà thơ và trong sự sáng tạo đích thực chứ không phải làm mới, sự làm mới có thể không tạo ra thơ. Đối với Trần Nghi Hoàng, thơ còn đến từ độc giả, theo nghĩa chính độc giả là người công nhận đó là thơ hay không phải thơ.

 

Nhà thơ Inrasara: Thơ đến từ… chữ

Trong cuộc trò chuyện với Nguyễn Đức Tùng, bề ngoài Inrasara bộc lộ quan niệm thiên về “thơ ngôn ngữ”. Ông nói: “Tôi bắt đầu một bài thơ qua gợi hứng từ chữ. Tôi thấy một chữ hay, nắm lấy nó, tìm tứ và hình ảnh rồi khi bắt được nhịp thì bài thơ trào ra”. Chữ là yếu tố đầu tiên của thơ, là tiền đề, chất liệu của sự sáng tạo thơ. Sáng tạo thơ khởi từ sự tìm tòi, phát hiện ra những chữ có giá trị mỹ học. Đó là một cuộc sáng tạo chữ, tạo ra ý nghĩa tu từ cho chữ. Đối với Inrasara, mỗi văn bản thơ có ít nhất 4 yếu tố quan trọng: chữ, tứ, hình ảnh và nhịp. Inrasara nói: bài thơ Những dấu chân ơn nghĩa của tôi được gợi hứng từ chữ “dấu chân”, “dấu vết”, tôi nhớ đến câu “sống mà không để lại dấu vết” của Phạm Công Thiện. Thực ra, “chữ” trong cách nói của Inrasara là một hệ thống ý nghĩa, cái nhìn, tư tưởng bao quát. Chữ đó là một kí hiệu trạng thái cảm xúc, chứa đựng tứ thơ, mở ra ý cảnh, tạo nên tính chỉnh thể cho bài thơ. Chữ đó giả định sự ra đời của cái mới, biểu hiện một cái cảm thụ có tính cá nhân về sự vật, hiện tượng, có vai trò quyết định trong việc làm cho hệ thống kí hiệu của bài thơ khác với các kí hiệu khác, nó có thể gây áp lực đối với toàn bộ cấu trúc văn bản, quy định cấu trúc nhịp điệu của các phát ngôn thơ, chứ không đơn giản như là cái xác, hình thức hoặc chất liệu. Chữ là bằng chứng của tìm tòi, sáng tạo, là toàn bộ sự sáng tạo, nó có chức năng mỹ học, sản sinh ra các hình thức văn học, chứ không phải là ngôn ngữ tự nhiên. Trong 4 yếu tố kể trên, Inrasara đặt lên hàng đầu yếu tố nhịp và giọng của phát ngôn, coi chúng là những bình diện biểu hiện thi tính, tạo ra thi tính. Người thơ muốn gây được một hiệu quả cảm xúc, nhận thức nào đó qua những chữ mới, lời nói mới. “Sự tìm tứ” ở trường hợp này, nói cho đúng, tôi nghĩ - phải là cấu tứ..  

 

Đỗ Kh.: thơ đến từ thái độ sáng tạo nghiêm túc…

Cũng như Trần Nghi Hoàng, Đỗ Kh. quan tâm đến vai trò của người đọc.  Độc giả biến “tác phẩm ảo” của nhà thơ thành “tác phẩm thực” có đời sống riêng. Độc giả tạo nên tính chất “gương soi” cho văn bản. Đỗ Kh. cho rằng thơ nảy sinh từ sự thành thật của người viết, từ thái độ sáng tạo nghiêm túc của họ: “tôi nghĩ yếu tố đầu tiên là một cảm xúc, có thành thật thì mới chia sẻ được, hay là đáng để chia sẻ với người đọc”. Quan niệm, cách nhìn của Đỗ Kh. rõ ràng không mới. Đỗ Kh. tự biến mình thành một phần của ý thức sáng tạo truyền thống. Tiêu chuẩn “sự thành thật” trong cảm xúc thơ ca được nhắc lại ở hết người viết này đến người viết khác. Nó là một đòi hỏi, song cũng là một cách nói. Ở đâu cũng thế, sự sáng tạo văn bản của người viết có nhiều điểm khác với những điều mà họ phát biểu, hứa hẹn. Lời thơ cũng là một loại lời nói giả vờ.

 

Ngô Tự Lập: thơ đến từ cảm giác lạ lùng, mới mẻ

Ngô Tự Lập có tham vọng đưa sáng tạo văn chương “trở lại với quan niệm cũ: văn - sử - triết bất phân”. Ông gọi đó là một “nghĩa hẹp” về văn chương, trong khi đúng ra cần phải ghi chú là “nghĩa rộng”. Ngô Tự Lập “am hiểu” cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội. Ông nhận ra văn chương như là quá trình dụng điển, sau đó thực hành phương pháp “dụng điển” một cách xuất sắc. Chẳng hạn, trong khi trò chuyện với Nguyễn Đức Tùng, Ngô Tự Lập nói rằng: “ngay cả khi tác giả tuyên bố không quan tâm đến tư tưởng thì chính sự cự tuyệt tư tưởng đã là một tư tưởng rồi”. Chính ở phát ngôn này chúng ta gặp lại cách nói quen thuộc của Khrapchenko. Ngô Tự Lập đã mượn lại cách nói, tư tưởng của Khrapchenko.

Ngô Tự Lập nói về sự bắt đầu của một bài thơ như sau: “thoạt tiên một cảm giác lạ lùng nào đó xuất hiện, một cảm giác khó diễn tả, nhưng phải mới mẻ, ít nhất là với tôi. Thế rồi, tôi cố tìm trong kí ức một hình ảnh, một giai điệu, một cốt truyện, một màu sắc, hay bất cứ thứ gì tương ứng với nó”. Có thể lúc này Ngô Tự Lập muốn chứng tỏ sáng tạo là một sự tự mâu thuẫn. Sự sáng tạo bắt đầu bằng cảm giác mơ hồ của người viết. Có điều, cảm giác ấy lại không được đẩy đến tận cùng, bước đi của thơ chưa phải là cuộc phiêu lưu của cảm giác mà là một hoạt động làm sáng tỏ cảm giác đang có, một cuộc đi tìm những hình thức cụ thể cho cảm giác hoặc chỉ là sự đánh tráo cảm giác mới xuất hiện ấy bằng một cái gì đã có trong kí ức, “tương ứng với nó”.

 

Nguyễn Thế Hoàng Linh: thơ đến từ một câu đột nhiên

Định nghĩa “thơ là những sản phẩm/ hành động mang tính thơ” của Nguyễn Thế Hoàng Linh, cho thấy một sự cắt nghĩa vòng quanh, nhầm lẫn nên thơ. Cho dù thơ và tính thơ luôn đi kèm với nhau, có quan hệ thứ bậc với nhau, nhưng chúng không đồng nhất với nhau. Tính chất khác với thể loại. Khái niệm tính thơ có ngoại diên và cả nội hàm rộng hơn khái niệm thơ. Truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết… có thể cũng có tính thơ. Có nhiều biểu hiện của tính thơ, nó tỏa ra từ phong cảnh, tâm hồn, nhạc điệu…. Một văn bản được gọi là thơ thì đương nhiên phải có thi tính. Định nghĩa trên phải chăng cũng là “chuyện của thiên tài”?

Thơ của Nguyễn Thế Hoàng Linh đến từ đâu? “Bắt đầu từ một câu đột nhiên xảy đến khi đang không hoặc có ý định làm thơ”. Như thế thơ nảy sinh tự nhiên theo tâm trạng, cảm hứng, suy nghĩ của người viết. Nó ra đời từ lúc nhà thơ phát hiện ra tính thơ đang hiển hiện ở đâu đó. “Thơ là tính thơ”, theo cách nói của Nguyễn Thế Hoàng Linh. Nhưng tính thơ là một khái niệm mở, một cảm niệm đậm tính chủ quan, nhiều khi mông lung.

 

Thận Nhiên: thơ đến từ nỗi ám ảnh thôi thúc nào đó

Thơ, theo Thận Nhiên gắn với mọi chuyển động của đời sống. Mọi thứ như hình ảnh, sự kiện, mùi vị, từ ngữ… đều có thể gợi cảm hứng, trở thành đề tài để làm thơ. Sáng tạo thơ thường bắt đầu từ “một nỗi ám ảnh thôi thúc nào đó”. Điều này đúng trong nhiều trường hợp. Sáng tạo là một trạng thái riêng tư của cá nhân, là một nhu cầu giải tỏa tâm lí, nhu cầu tự thuật những điều mà người viết đã trải qua, hoặc xúc động mạnh mẽ, dằn vặt kéo dài. Nhà thơ viết để thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, để được chia sẻ cảm thông. Câu hỏi thơ đến từ đâu đặt ra ở đây là câu hỏi về tâm lí sáng tạo, về khía cạnh tâm lí trong sáng tạo nghệ thuật.(…)


Thơ đến từ đâu là câu hỏi về quá trình sáng tạo, về nguồn gốc của thơ, chức năng của thơ, biên giới của thơ. Thơ đến từ đâu đặt ra vấn đề về sự lựa chọn “mảnh đất” công bố văn bản thơ, đồng thời cũng là điều kiện hợp thức hóa diễn ngôn thơ. Câu hỏi Thơ đến từ đâu trước hết chất vấn từng chủ thể sáng tạo, mỗi nhà thơ ở mỗi trường hợp sáng tạo cụ thể có một câu trả lời riêng; nó cũng chất vất từng độc giả, thơ đến từ nhiều tình thế, quan niệm, cách ứng xử của họ. Thứ nữa, nó còn đặt ra những điều kiện hợp thức hoá một diễn ngôn thi ca, mà thực tế mỗi cộng đồng xã hội lại áp đặt một hệ thống quy ước nhất định cho nó. Câu hỏi của Nguyễn Đức Tùng tiền giả định một câu trả lời có kinh nghiệm của người nói về lao động sáng tạo và về việc công khai hoá các ý đồ sáng tạo đó qua các cách thức truyền thông khác nhau. Cũng chính câu hỏi đó lại đặt ra cho mọi người, cho mọi giai đoạn, hoàn cảnh văn hóa, xã hội. Thực tế thì nó không chỉ hướng về quá khứ nguồn gốc mà còn đang đặt ra cho hiện tại, tương lai.

 Cuốn sách Thơ đến từ đâu của Nguyễn Đức Tùng có ý nghĩa quan trọng ở chỗ đã đem lại cho chúng ta một diễn ngôn tập thể có nhiều bè. Đúng hơn, nó đem đến diễn ngôn của các vai, các chủ thể. Sự đối thoại giữa các diễn ngôn trong Thơ đến từ đâu một mặt cho ta thấy cái dự đồ của người hỏi đã quy định chiến lược giao tiếp chung của các đối ngôn, mặt khác cho thấy những vấn đề phức tạp mà sáng tạo văn học phải đối mặt, phải điều chỉnh lại.

Hà Thanh Vân

----------------

(1) Xem thêm: Lyotard. Hoàn cảnh hậu hiện đại. Nxb. Tri thức, 2008
(2) Ở các diễn ngôn hành chính quan phương Cáo, chiếu, dụ, hịch, mệnh… chỉ vua mới được phát ngôn. Chẳng hạn chính danh lời của Bình Ngô đại cáo thuộc về vua Lê Thái Tổ, ở đây Nguyễn Trãi chỉ đóng vai, chỉ giả định đứng ở vị trí của Lê Lợi để phát ngôn, Nguyễn Trãi thác lời Lê Lợi, ông phát ngôn cho kẻ khác, hiệu lực xã hội của phát ngôn không do Nguyễn Trãi quyết định, hiệu lực thực tiễn của văn bản do vị trí xã hội của người chính danh phát ngôn đem lại, thậm chí có thể nói đến sự bị “tước quyền tác giả” phát ngôn của Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi chủ ngữ phát ngôn bị thủ tiêu, chỉ có Nguyễn Trãi thác lời người đứng đầu triều đình.

(3) ”Nói về ba má nhưng lại là một bài thơ triết lí và chính trị”

(4) Ở thời cổ đại Thượng đế tạo ra niềm tin, trong thời cận đại con người thay thế vị trí của Thượng đế

(5) Hoàng Cầm. Văn xuôi. Nxb. Văn học, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, H, 1999.

(6) Hoàng Cầm, “Con người Trần Dần”, Nhân Văn số 1, Hà Nội, ngày 20 - 9 -1956.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác