Tự truyện: nhu cầu hay trách nhiệm?

Tự truyện, như sẽ trình bày, cần được hiểu như là “kẻ thù” của những góc khuất có tính lịch sử nào đấy, là sự phản lại những mệnh lệnh răn cấm của số đông, những bí mật, là một hành vi tự làm nổ tung đời sống riêng tư của chủ thể phát ngôn.

Lê Vân nói: “có biết bao điều xảy ra với tôi… chính bản thân tôi cũng từng chôn chặt chúng xuống tận đáy lòng và hy vọng sẽ không bao giờ phải đối mặt với nó. Nhưng càng ngày tôi càng bị đẩy đến trước một sự thật không thể lẩn tránh: có nhiều điều sẽ đến lúc nào đó mà một mình tôi không đủ sức đem nổi” (Lê Vân yêu và sống).

Ở phương Tây, hình thức tự truyện đầu tiên được biết đến là tự truyện tâm linh, có thể tìm thấy dấu vết của tự truyện qua các lời nói sám hối thú tội tôn giáo. Người kể trong tự truyện chịu trách nhiệm pháp lí về cái được kể, anh ta có thẩm quyền giới hạn chất liệu và khung khổ cho truyện kể của mình, không ai ngoài anh ta có thể mở ra những góc khuất mà lâu nay vì lí do nào đó đã bị che giấu, bị chối bỏ hoặc chưa có điều kiện nói đến, chưa được phép phân tích diễn giải, biện minh về nó, chưa được triệu tập ra trước dư luận. Nói cho đúng thì chính sự phơi bày những góc khuất đã làm cho tự truyện trở thành một văn bản có tính hiện thực, hiện thực hơn cả những bản văn tự sự về cùng một đối tượng như nó. Tự truyện, như nó giao ước và hứa hẹn, mang đến cho chúng ta, toàn bộ sự thật về cuộc đời tác giả - người kể chuyện. Lê Vân khẳng định: “có những sự thật, những uẩn khúc cần phải được nói ra. Chừng nào nó còn chưa được nói ra, chừng đó tôi còn sống trong cảm giác tội lỗi mà tôi thì không thể chịu nổi điều đó. Thế là tôi có nhu cầu phải kể hết đời mình, không giấu diếm bất cứ điều gì, ngay cả những điều mà người ta có quyền giữ im lặng, với một người nào đó”. Tự truyện không chỉ là một nhu cầu mà còn là trách nhiệm nói sự thật, nói về sự thật của nó.

Vậy, dự định tra vấn của độc giả, chẳng hạn như phải chăng nhà văn nghèo vốn sống nên mới viết tự truyện… chắc chắn là cách đặt vấn đề chệch ra khỏi chủ đề chung của chúng ta. Vấn đề của chúng ta dường như là có một cuộc cách mạng trong quan niệm viết về cái gì, và ai viết về chúng - nếu xét đến những vấn đề cấm kị, và tư cách phát ngôn; cách mạng trong cách quy chiếu - nếu đối lập tự truyện với các thể hư cấu, “cách mạng” trong lối viết - nếu coi lối truyện kể lấy “tôi” làm chất liệu đã thay đổi lối tự sự về “cái chung” trước đó, tóm lại là cuộc cách mạng thay đổi trọng âm, chủ âm. Jean Jacques Roussea thú nhận viết: “tôi tạo dựng một công việc mạo hiểm chưa bao giờ có mẫu để theo và sự thực hành nó sẽ không có người mô phỏng”. Kẻ viết tự truyện không phải là không có gì để viết mà nhận thấy lịch sử của chính mình là đáng được kể lại, đáng được giải thích, nó đặt trọng âm lên cuộc đời mình. Tự truyện ở hình thức ban sơ của nó là một sự giải thoát, một sự thanh tẩy tâm hồn, một cách cân bằng tâm lí. Trên phương diện ấy, cần xét tự truyện dưới góc độ phân tâm học hơn là dưới góc độ nhận thức luận. Kẻ viết tự truyện trước hết phải là kẻ có nhu cầu nói sự thật, tạo dựng sự thật nào đó, hoặc ít ra là nó xuất hiện như kẻ có nhu cầu bức thiết ấy, bất kể diện trường sống mà nó muốn phô diễn rộng hẹp thế nào. Sự quan tâm đầu tiên của người kể là “thời gian kí ức”, thời gian biên niên, thời gian tiểu sử chứ không phải “thời gian hiện tại”. Chủ thể tự truyện là người có kí ức sống động, có một lịch sử mang tính cá thể hóa cao độ. Nó muốn tái tạo lại “văn bản quá khứ” trong tính toàn vẹn của nó, nó muốn giới hạn và giải thích quá khứ của nó bằng lí lịch của mình. Không ai hiểu về nó hơn chính nó. Không ai có thể thay nó mang chở kí ức của nó. Không phải ai cũng có nhu cầu tự thuật, tự thú.

Chủ thể của tự truyện có nhu cầu tự sự về lịch sử của chính mình, thuật toàn bộ sự thật của các biến cố, các quan hệ, cùng tâm tư của nó - nghĩa là nó chủ động thu hẹp diện trường quan sát miêu thuật, thu hẹp đến mức nó cảm thấy bản thân mình được đồng nhất với văn bản mà nó đang xây dựng, đang tái tạo. Qua cái kể, chủ thể tự truyện đề nghị một thái độ sống, một kinh nghiệm sống nhất định đối với người cùng thời và những ai sau này dự vào cảnh tượng về cuộc đời của nó, nghĩa là ở đấy người viết luôn luôn có nhu cầu giao tiếp, bộc lộ sự nghiệm sinh của nó với chúng ta, “quyến rũ” chúng ta. Rousseau tuyên bố trong một hành vi tự truyện mẫu mực của mình như sau: “tôi muốn chỉ ra cho đồng bào tôi một con người trong toàn bộ sự thật bản chất của nó và con người ấy là tôi” (Tự bạch). Đối tượng phô diễn của tự truyện, vì thế, nên hiểu là một mã hiện thực, và đồng thời là một mã tâm lí, hơn nữa: một mã giao tiếp. Cố tính lờ đi mã tâm lí, mã hiện thực đó của văn bản, để cho rằng chính sự thiếu vốn sống là nguồn gốc trực tiếp dẫn đến sự ra đời của tự truyện, thậm chí làm xuất hiện trào lưu viết tự truyện của nhiều người viết hôm nay, dễ thấy là một cách đặt vấn đề vội vã, phiến diện; nếu không muốn nói là một sự mỉa mai, hạ giá thể loại này trong tương quan với các thể loại khác. Thực ra, chủ thể tự truyện ngoài bộc lộ hiểu biết về mình, còn phát hiện về người khác, đọc người khác, cái khác qua lịch sử của mình, cuộc đời mình. Đó là một chủ thể mang ý nghĩa kép, một chủ thể được quy ước như là người tạo ra sự thật, người mang đến cho chúng ta những sự thật, bao gồm cả sự thật xung quanh nó. Nó vừa là một cái tôi chủ thể đang tự sự về mình, suy tư về mình vừa là cái tôi được tạo ra để qua đó một phạm vi cuộc sống rộng hơn đời sống của bản thân nó, bao trùm lên nó, quy định sự hoạt động của nó được thể hiện và phô diễn ra - như một trường hợp tiêu biểu nhất, chứa nhiều bí mật nhất, mà trước đó chúng ta chưa thấy, ít thấy. Nói cách khác, chủ thể tự truyện, một mặt được đồng nhất với chủ thể tiểu sử, chủ thể sáng tạo, mặt khác nó là sản phẩm của sự sáng tạo, một chủ thể phát ngôn, sinh ra cùng với phát ngôn, chỉ tồn tại trong phát ngôn của chính nó mà thôi. Theo nghĩa thứ nhất, cái được chủ thể sáng tạo thuật lại luôn luôn quy chiếu vào một hiện thực nào đó ở bên ngoài văn bản, một sự thật mà chúng ta có thể kiểm chứng về mặt lí thuyết, tức có thể được biết về mặt đúng - sai. Theo nghĩa thứ hai, cái mà chủ thể phát ngôn kể ra, phô diễn ra trong văn bản là cái do nó tạo tác, cái hiện thực hư cấu, quy chiếu vào chính nó, vào các văn bản, hiện thực ở đó là một ảo ảnh. Chủ thể tự truyện như vậy vừa chịu trách nhiệm về điều mình phát ngôn, vừa thoát khỏi trách nhiệm đó. Chúng tôi nói đó là con người hai lời, hai giọng, một chủ thể có tính nước đôi và hai mang. Đấy cũng là những lối thoát, những chỗ còn dư, độ mở của tự truyện, tạo thành điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của các tự truyện âm bản, tự truyện mới, giả tự truyện sau này. Tự truyện, theo nghĩa là một sản phẩm sáng tạo nghệ thuật, không hoàn toàn là một tập hợp các kí hiệu khép kín với những nghĩa đen, những sự thật cố định, nó đúng ra là cái biểu đạt, một trò chơi. Đọc tự truyện không phải chỉ đi tìm cái ý nghĩa cố định, những sự thật đóng băng mà là tham gia trò chơi, đi đến chỗ quan niệm được, tưởng tượng được các sự thật mà tác giả trải nghiệm miêu thuật, nghĩa là cùng tác giả sáng tạo ra sự thật hoặc công nhân sự thật. Tuy nhiên đọc tự truyện cũng cần cảnh giác cao độ, cần tỉnh tảo trước các tuyên bố. Tự truyện chứa nhiều mối nguy hiểm, ở đó có những bẫy sự thật, “người kể có thể chuyển thành người hư cấu” (Bellemin- Noel). Khi Roland Barths công bố tự truyện Roland Barthes par Roland Barthes (1975), người ta thấy rằng, tác giả tự truyện có thể tuyên bố “tất cả những điều này phải được coi là phát ngôn của một nhân vật tiểu thuyết”.

Trong thực tiễn hoạt động của ngôn ngữ, không phải văn bản nào cũng có nhu cầu có tác giả, như văn bản quảng cáo, văn bản hư cấu. Chúng tôi quan niệm văn bản hư cấu là cái văn bản không có nhu cầu có tác giả, cho nên việc trưng ra tác giả hiện thực của nó ở đâu đó không mấy quan trọng bằng việc chỉ ra chủ thể phát ngôn trong văn bản. Chủ thể phát ngôn trong văn bản hư cấu là kẻ sở hữu đích thực văn bản ấy, chính nó tạo ra câu chuyện, tạo ra sự thật, tác giả hiện thực chỉ là người bảo lãnh tư cách phát ngôn của kẻ phát ngôn kia. Ví dụ văn bản Chí phèo. Nam Cao chỉ có vai trò pháp lí đối với văn này nếu nhìn từ góc độ quyền tác giả. Nam Cao đứng bên ngoài văn bản, ông ta chỉ có vai trò đảm bảo tư cách phát ngôn cho người kể chuyện ngôi thứ ba trong văn bản đó. Không thể đồng nhất Nam Cao với người kể chuyện. Không thể quy cho Nam Cao trách nhiệm về sự thật được kể trong văn bản, bởi trách nhiệm đó thuộc về kẻ phát ngôn trong văn bản, phụ thuộc vào một thế giới khác, luật chơi khác. Nói theo cách của Foucault, Nam Cao tạo ra một không gian, trong đó ông ta biến mất, nhường cho người khác tự chơi trò chơi tự sự của mình. Văn bản tự truyện lại có nhiều điểm khác, nó có nhu cầu có tác giả hiện thực, tác giả hiện thực của nó cũng có nhu cầu độc quyền sở hữu một văn bản xác định. Văn bản tự truyện đánh dấu sự tồn tại, hoạt động của người sáng tạo ra nó. Quan hệ giữa văn bản tự truyện và người tạo ra nó, lúc đó là quan hệ ràng buộc, phụ thuộc, theo kiểu phải có cái này mới có cái kia. Tức là văn bản tự truyện đó chỉ thuộc về người đó, chỉ do người đó tạo nên chứ không thể thuộc về ai khác, do ai khác tạo ra. Nếu hiểu văn bản là một trò chơi, một hoạt động trò chơi, thì người tạo ra văn bản tự truyện là chính người đã chơi trò chơi tự truyện đó, chính anh ta đặt ra các quy tắc phát ngôn, rồi thực thi sự phát ngôn đó. Ở văn bản tự truyện, chủ thể sáng tạo có một địa vị tối cao, tên của tác giả hoạt động khắp không gian của văn bản tự truyện; trong khi ở văn bản hư cấu, địa vị của tác giả hầu như bị lãng quên, tên của tác giả không có ý nghĩa chỉ định ở phạm vi nội tại của văn bản. Một bên (tự truyện) vấn đề ai nói trở nên quan trọng; một bên(hư cấu) người nào nói cũng không quan trọng, cái quan trọng là nó tạo ra một người nói nào (nhân vật kể chuyện ở ngôi kể thứ mấy,…), đã để người đó chơi trò chơi do nó đặt ra ra sao (điểm nhìn, các thủ pháp…), tức là một đằng tác giả tự chơi còn đằng kia tác giả để nhân vật khác chơi.

Đọc văn bản tự truyện, câu hỏi đầu tiên của ta là ai đã kể về cái gì. Chúng ta đọc tự truyện như là hiện thực. Philippe Lejeune coi tự truyện là một hành vi xã hội, ở đó cái “tôi” gửi tới bạn đọc “không phải con người của hư cấu mà là một cá nhân hiện thực, kí tên bằng tên của nó và hứa nói lên - ít hoặc nhiều - sự thật”. Đọc văn bản hư cấu, câu hỏi đầu tiên của ta là cái gì được kể bởi ai. Chúng ta đọc hư cấu như là sáng tạo. Văn bản tự truyện là một vật sở hữu, nó chỉ tồn tại và có giá trị với điều kiện có tác giả cụ thể, xác định, người mà nếu không có văn bản tự truyện ấy ta cũng có thể biết được ít nhiều lí lịch, vị trí xã hội của anh ta. Tác giả tự truyện là người cung cấp thông tin, đảm bảo độ tin cậy của nguồn tin. Văn bản hư cấu là một hành động, nó không biết đến tác giả đã sinh ra nó, nó không cần tên tác giả, đọc nó ít khi chúng ta đi kiểm chứng tính đúng sai của các phát ngôn, ngoại trừ cách đọc ngây thơ liên tục đối chiếu văn bản với hiện thực. Tác giả của văn bản hư cấu chỉ được triệu tập một khi cần xác định quyền tác giả đối với văn bản đó, anh ta thực ra chỉ là người giả vờ bảo lãnh thông tin cho một ai đó. Đối với văn bản hư cấu, tác giả hầu như chỉ hoạt động bên ngoài cái văn bản do nó tạo ra, xóa bỏ văn bản chỉ là xóa một hình thức diễn ngôn của tác giả; đối với văn bản tự truyện, tác giả được sinh ra, hoạt động trong văn bản do nó tạo lập như là hình thức tồn tại duy nhất của nó, xóa bỏ văn bản cũng là xóa bỏ cả chủ thể của diễn ngôn. Nhìn từ cấu trúc nội tại thì ở tự truyện, tác giả là một khái niệm; còn ở hư cấu, tác giả lại là một hiện thực, điều này có vẻ mâu thuẫn với những nhận định trên đây, nhưng thực ra chúng ta đang nói về một bình diện khác - bình diện vị trí của tác giả trong phát ngôn.

Mai Vũ

(Văn nghệ trẻ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác