Từ một cách viết lịch sử phê bình văn học Việt Nam (*)

Có thể khẳng định, lý thuyết chứ không phải lịch sử, mới là mục đích chính của Đỗ Lai Thúy trong công trình Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy. Một lý thuyết (về phê bình) được xây dựng dựa trên chất liệu là phê bình văn học, mà phê bình văn học lại là “con vật lưỡng thê”, nên lý thuyết ấy cũng đồng thời là lý thuyết (về) văn chương.

Từ một cách viết lịch sử phê bình văn học Việt Nam (*) - ảnh 1 


1. Khi viết về lý thuyết và thực tiễn văn chương, Atoine Compagnon đúc rút: “Lý thuyết tương phản với thực hành trong nghiên cứu văn chương, nghĩa là phê bình và lịch sử văn chương, và lý thuyết phân tích sự thực hành ấy, miêu tả chúng, làm rõ các tiền giả định của chúng, tóm lại là phê phán chúng (phê phán, tức là chia tách, là phân biệt). Vậy lý thuyết, đại để trước hết là phê bình sự phê bình (critique de la critique) hoặc siêu phê bình (métacritique) (cũng như người ta đối lập với một ngôn từ cái siêu ngôn từ nói về ngôn từ ấy, đem đối lập ngôn ngữ với cái ngữ pháp miêu tả hoạt động của ngôn ngữ ấy). Đó là một ý thức phê bình (một sự phê bình hệ tư tưởng văn chương), một sự phản tỉnh văn chương (một nếp phê phán, một sự tự ý thức hoặc tự tham chiếu): mọi nét mà quả thực người ta thường gắn với tính hiện đại kể từ Baudelaire và đặc biệt là từ Mallarmé” (Bản mệnh của lý thuyết, văn chương và cảm nghĩ thông thường, Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 2006, tr.24). Trong cuốn sách mới đây nhất của mình - Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy (tư tưởng phê bình Việt Nam, một cái nhìn lịch sử), Nxb Văn họcNhã Nam, Hà Nội, 2011 - Đỗ Lai Thúy đã làm một công trình có tính chất lý thuyết như vậy: viết lịch sử phê bình văn học Việt Nam như là một sự phê bình hệ tư tưởng văn chương, hay đúng hơn, viết lịch sử phê bình chỉ từ/qua/bằng tư tưởng phê bình, bộc lộ ở những lý thuyết văn chươngphương pháp phê bình mà nhà phê bình sử dụng. Ở đây có mấy vấn đề nảy sinh, theo cách nói vẫn mượn của Compagnon, trong cảm nghĩ thông thường, Đỗ Lai Thúy đã làm lý thuyết, làm phê bình hay là làm lịch sử phê bình văn học Việt Nam, để theo đó, bạn đọc phải lựa chọn cho mình cách đọc từ nền tảng nào (trong ba tiền đề phê bình, lịch sử, lý thuyết ở trên) trong việc tiếp cận tác phẩm. Bởi những hiểu biết thông thường, một mặt, phân loại loại hình diễn ngôn của nhà nghiên cứu, là phê bình văn học (lấy văn bản làm trọng, qua trải nghiệm của sự đọc nhằm định giá nó), là lịch sử văn học (lấy văn cảnh làm trọng, qua những liên kết sử tính nhằm cắt nghĩa nó) hay lý thuyết văn học (tư duy trên cả văn bản và văn cảnh, nhằm cung cấp cơ sở cho những nhận định cũng như cách thức thao tác để có thể đi đến những nhận định ấy), và ở mặt kia, quy chiếu tri thức nền cho độc giả, tránh tình trạng ông chẳng bà chuộc, sự lạc lối hay những phán đoán không xuất phát từ giả thuyết của nhà nghiên cứu. Nhất là trong trường hợp này, giả thuyết ấy, ở Đỗ Lai Thúy, lại được xây dựng (một cách có chủ ý) từ những diễn ngôn thông thường, sáo mòn nhất về văn học và khoa học văn học: nhà văn - văn bản - người đọc, phê bình - lịch sử - lý thuyết, tư tưởng, phương pháp,… trong việc giải phẫu cơ thể phê bình văn học Việt Nam. Như vậy thì, có thể đọc Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy như thế nào? Có thể xuất phát từ quan niệm và thực tiễn nghiên cứu của tác giả? Và nữa, tư tưởng và thao tác ấy, chủ yếu bộc lộ qua mô hình và hệ pháp nghiên cứu, như chính cách gọi của tác giả, có khả dĩ và khả năng vẫy gọi những suy tưởng trong đời sống phê bình văn học hiện nay?

2. Không phải ngẫu nhiên mà trong lời ngỏ, Đỗ Lai Thúy đã phải rào đón: “Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy không phải là một cuốn lịch sử phê bình văn học Việt Nam… Ở đây, tôi chỉ đưa ra một cái nhìn tư tưởng phê bình, thứ có khi là cốt lõi của những ngôn từ tranh luận ào ạt trên mặt báo, nhưng thường hơn, lặng lẽ ẩn mình trong lý thuyết văn chương và, đặc biệt, phương pháp phê bình… Như vậy, cùng lắm, cuốn sách này cũng chỉ có thể là một thứ lịch sử tư tưởng phê bình. Có điều, những tư tưởng chung ấy đã trải qua nước lửa của những trải nghiệm cá nhân và nghề nghiệp, nên đã trở thành riêng, nhất là trong tâm niệm người viết” (tr.7). Dẫu vậy, chỉ đặt một cái nhìn lịch sử về tư tưởng phê bình hay đúc kết từ nghiệm sinh cá nhân, công trình vẫn có yếu tố sử tính, dù cái làm nên diện mạo của nó lại chủ yếu xuất phát từ những suy tư cá nhân bằng việc mô hình hóa lịch sử ấy, tức mang tính lý thuyết, trong khi, cái nhan đề của công trình lại là “phê bình văn học”. Có chăng, đây là một mâu thuẫn, cái khiến Đỗ Lai Thúy phải “rào đón”, hay gợi mâu thuẫn chỉ là cái cớ để Đỗ Lai Thúy “trình bày” cái nhìn, quan niệm của mình từ (và về) phê bình văn học Việt Nam, tức là tư tưởng phê bình của Đỗ Lai Thúy, và vì vậy, là một cách (tạo) lập (lý) thuyết?

Hãy thử bắt đầu tìm hiểu cách lập thuyết bằng cách lập ngôn của Đỗ Lai Thúy. Về phê bình văn học, ngay từ rất sớm, trong chuyên luận đầu tay của mình, Con mắt thơ (1992), Đỗ Lai Thúy đã treo ở bìa bốn quan niệm: “Có thể nói, phê bình đã thỏa mãn tôi ở cả hai con người: trí tuệ và tình cảm. Con vật lưỡng thê ấy luôn chới với ở đường biên tranh chấp của khoa học và nghệ thuật”. Vậy là, phê bình là “con vật lưỡng thê”! Điều này được Đỗ Lai Thúy giải thích rõ hơn, lưỡng thê tức là “nhị phân”, vừa là nghệ thuật vừa là khoa học. Là khoa học trước hết ở chỗ nhà phê bình phải có trực giác nghệ thuật, và khi đã tìm biết được cái đẹp rồi, thì phải có phương pháp khoa học để trình bày kết quả thám mã ấy. Và ngay ở sự trình bày này, công trình phê bình cũng không thể trong suốt mà phải mờ đục, tức phải có tính nghệ thuật. Phê bình vì vậy, cũng là sáng tạo. Theo đó, nhà phê bình văn học “có nghề” thì phải đáp ứng được những yêu cầu ấy. Ở chỗ này, Đỗ Lai Thúy lại treo thêm một quan niệm nữa: “Một nhà phê bình nhất thiết phải có hiểu biết lý thuyết. Biết, nhưng không phải để thồ chữ, mà để kết hợp với kinh nghiệm sống và kinh nghiệm thẩm mỹ nhằm kiến tạo những mô hình nghiên cứu”. Như vậy là, lý thuyết là khâu đầu tiên của quá trình hành nghề, nó là công cụ để nhà phê bình thao tác. Nhưng khi nhà phê bình kiến tạo được mô hình nghiên cứu cho mình, thì lý thuyết lại trở thành kết quả, trong cái cách thức mà chính mô hình nghiên cứu đó trở thành lý thuyết. Tất nhiên, khi và chỉ khi cái mô hình nghiên cứu kia có tính tư tưởng, thể hiện sâu sắc và cá biệt quan niệm, cái nhìn nghệ thuật của nhà phê bình. Thực tiễn phê bình của Đỗ Lai Thúy là sự truy cầu mục đích này. Nó ít nhiều có thể hiện trong từng tiểu luận riêng lẻ (ở Từ cái nhìn văn hóa (1999), Chân trời có người bay (2003) và cả Bút pháp của ham muốn (2009), dù đây là tập tuyển phê bình phân tâm học), nhưng đặc biệt có ý tưởng là trong các chuyên luận, từ Con mắt thơ tới Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (1999), Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa (2005), và mới nhất là cuốn sách mà chúng ta đang nói tới, Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy.

Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy, cái ý tưởng của Đỗ Lai Thúy lại tiếp tục được tuyên ngôn. “Nếu hệ thống văn học gồm ba yếu tố tác giả, tác phẩm, người đọc, thì tác phẩm bao giờ cũng là yếu tố trung tâm, ga đến của tác giả và ga đi của người đọc. Bởi vậy, phê bình phải lấy tác phẩm làm trọng tâm nghiên cứu. Kể cả khi xét một tác giả, một trào lưu, thậm chí một thời đại văn chương cũng phải lấy tác phẩm làm xuất phát điểm. Nhưng quan niệm về tác phẩm đâu phải nhất thành bất biến mà thay đổi theo thời gian” (tr.8). Và theo quan sát của Đỗ Lai Thúy, thì đến nay lịch sử văn học đã chứng kiến ba quan niệm: 1/ tác phẩm được hình dung như một công cụ; 2/ tác phẩm là một thực thể tự trị, tức thực chất chỉ là văn bản; 3/ tác phẩm là văn bản + sự đọc, tức ngoài nghĩa chủ ý còn có nghĩa kiến tạo, người đọc trở thành đồng sáng tạo với tác giả. Lịch sử phê bình văn học (đúng hơn là lịch sử tư tưởng phê bình), được Đỗ Lai Thúy xây dựng bằng mô hình nghiên cứu gồm ba lối tiếp cận tương ứng (tiền văn bản, văn bản và hậu văn bản) mà mỗi lối tiếp cận đều kéo theo những phương pháp tương thích với nó, cụ thể: 1/ tiếp cận tác phẩm từ tác giả (phê bình tiểu sử học, phê bình văn hóa lịch sử,…); 2/ tiếp cận tác phẩm từ văn bản (phê bình phong cách học, phê bình thi pháp học, phê bình cấu trúc - ký hiệu học,…); 3/ tiếp cận tác phẩm từ người đọc (phê bình theo lý thuyết tiếp nhận, phê bình hậu/giải cấu trúc, phê bình thông diễn học,…). Tính chất lịch sử của nó, cũng là biểu hiện của tiến/ diễn trình lý thuyết (tức tư tưởng) văn học, từ khi ra đời của phê bình văn học, tạo thành ba thời kỳ: 1/ tiền hiện đại; 2/ hiện đại; 3/ hậu hiện đại. Trong đó, Đỗ Lai Thúy lưu ý thêm, bước tiến từ (1/) sang (2/) và từ (2/) sang (3/) là những sự thay đổi hệ hình, tạo nên “các cuộc cách mạng” trong phê bình văn học. Hai lần thay đổi hệ hình ấy (từ tác giả sang tác phẩm và từ tác phẩm sang độc giả), với Đỗ Lai Thúy, “không chỉ đơn thuần là sự thay đổi đối tượng nghiên cứu, mà là thay đổi cả quan niệm triết học về tác giả, tác phẩm và người đọc, thay đổi cái nhìn thế giới, lý thuyết và phương pháp tiếp cận tác phẩm. Sự thay đổi này của hệ thống văn học gắn liền với hệ thống văn hóa và qua nó là toàn bộ đời sống xã hội”. Nói sự thay đổi hệ hình có tính cách mạng, theo cách nói của Thomas Kuhn, là vì vậy.

3. Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy đã được trình bày trung thành với mô hình nghiên cứu đó. Ở phần thứ nhất của cuốn sách, câu hỏi có tính bản thể luận: phê bình văn học là gì?, đã được đẩy sang bình diện nhận thức luận lịch sử: khi nào thì có phê bình văn học?, tức là các điều kiện làm nảy sinh và thay đổi phê bình và các hệ hình phê bình. Cách chuyển câu hỏi từ what sang when không phải là một cách lảng tránh, mà là một cách “trình bày” có ý đồ. Chẳng hạn, nó chỉ ra được, sự ra đời của phê bình hiện đại gắn liền với tầng lớp trí thức độc lập, trong các sinh hoạt trí thức đảm bảo được tư tưởng dân chủý thức cá nhân. Điều này rất quan trọng đối với cách thức kiến tạo mô hình nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy, bởi nó trình cho người ta thấy “hoàn cảnh”, “điều kiện” làm nên sự phê bình và sự thay đổi các hệ hình phê bình, mà có thay đổi, có biến chuyển thì sẽ có đời sống lịch sử. Nhận thức lịch sử ở đây, do vậy, đi vào “cốt lõi” của vấn đề: cái quan niệm, “tư tưởng phê bình” thể hiện trong/ và qua lý thuyết văn học, phương pháp phê bình.

Lịch sử phê bình văn học Việt Nam, được triển khai ở phần hai và phần ba của cuốn sách hình thành từ điểm nhìn này, thế nhìn này: lịch sử phê bình từ các lý thuyết văn chương và nhà phê bình từ các phương pháp phê bình. Đỗ Lai Thúy gọi đó là nhìn nghiêng từ phương pháp, mà theo tôi, cũng có thể gọi là nhìn “riêng” từ phương pháp. Tức là trong các đặc điểm của phê bình văn học, nhà nghiên cứu chỉ chọn ra một đặc điểm, tìm hiểu biểu hiện của nó trong quá trình lịch sử, để viết nên (một) công trình lịch sử (của mình), như cách người ta viết lịch sử văn học từ hoàn cảnh lịch sử, phong cách văn học, hay chẳng hạn, giới và phái tính… Điều này luôn là một hạn chế đối với mục đích trình bày lịch sử phê bình như là những gì đã xảy ra, nhưng lại ích dụng với việc trình bày lịch sử phê bình như là cái tôi nhận biết, tức là, nói cách khác, quan niệm cá nhân về phê bình và văn học. Cái quan niệm này, khi được xây dựng thành hệ thống, thành mô hình, tức có tính tư tưởng và có giá trị thao tác, thì trở thành cái nhìn về thế giới, nghĩa là lại mang tham vọng về lý thuyết.

4. Tham vọng về lý thuyết, thực ra, là một tham vọng rất đời thường, chính đáng, giống như tham vọng sáng tạo tác phẩm có tư tưởng ở các nhà văn. Song rất kỳ cục, ở Việt Nam, lý thuyết luôn là một vùng đất thánh, một lãnh địa cao vời mà không phải “thân phận nhỏ bé” nào cũng có thể xía vô canh tác. Dẫu vẫn biết, để canh tác được trên đó, ngoài sức khỏe và sự cần cù, người ta phải có hiểu biết kỹ thuật, trong khi, chỉ cần nhắc đến kỹ trị, thì con người tiểu nông Việt Nam đã dễ nảy sinh tâm lý e dè, mặc cảm. Người ta quen với việc “nghiên cứu và ứng dụng” hơn, thích “bứng trồng” hơn, thích “mô phỏng” hơn, cho dù đó là mô phỏng một phần hay mô phỏng sự… mô phỏng. Chính trong bối cảnh đó, những suy tưởng có tham vọng lý thuyết là cần thiết, tất nhiên không phải để ganh đua (với phương Tây), mà là trong bối cảnh hậu thực dân, khẳng định tiếng nói của bản địa, của cái khác, bổ khuyết phương diện “nghiên cứu” trên đường “học tập”. Tiếp cận hậu thực dân từ dịch thuật, Susan Bassnett, chuyên gia về văn học so sánh và dịch thuật hậu thực dân, nhận định về điều này: “Trong một thế giới hậu thực dân, khái niệm dịch (translation) chuyên chở những hàm ý rộng hơn. Nói ngắn gọn, nếu một thuộc địa là một bản “sao” của một cộng đồng gốc ở một nơi nào đó, một “bản dịch” của cái gốc đó, thì khi vùng thuộc địa tái khẳng định bản sắc của mình và hướng đến độc lập, nó tất yếu sẽ xem xét lại mối quan hệ giữa những văn bản nó đã sản sinh với cái gốc là những cái có thể đã ảnh hưởng tới những văn bản đó. Theo đó, một quan điểm hậu thực dân về dịch thuật sẽ chất vấn toàn bộ cái quan điểm về nguyên tính (originality)” (Lê Nguyên Long và Phạm Quốc Lộc dịch, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12/2009, Hà Nội, tr.44). Nói điều này để thấy, để có được những nỗ lực về lý thuyết, ngoài ý thức cá nhân, vẫn cần có sự hậu thuẫn của hoàn cảnh. Ở Việt Nam, phải bắt đầu từ Đổi mới, hội nhập rồi toàn cầu hóa, những trường hợp như Phan Ngọc và Cao Xuân Hạo là rất hiếm hoi, cũng còn do đời sống của họ có nhiều khác biệt so với không gian trí thức trong nước. Không phải ngẫu nhiên mà Đỗ Lai Thúy thú nhận, biểu hiện về một mô hình nghiên cứu đã có trong Con mắt thơHồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, nhưng phải đến sau này, quan niệm phê bình từ hệ thống văn hóa mới được tác giả thấu triệt. Và phải đến Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy, thì mô hình nghiên cứu mới được tuyên ngôn trước sự “trình bày”.

5. Đến lúc này, có thể khẳng định, lý thuyết chứ không phải lịch sử, mới là mục đích chính của Đỗ Lai Thúy trong công trình Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy. Một lý thuyết (về phê bình) được xây dựng dựa trên chất liệu là phê bình văn học, mà phê bình văn học lại là “con vật lưỡng thê”, nên lý thuyết ấy cũng đồng thời là lý thuyết (về) văn chương. Nói về điều này, vẫn trong Đôi lời thưa trước, Đỗ Lai Thúy viết: “Cuốn sách này tuy là phê bình sự phê bình, cũng tác là một thứ lý thuyết văn học từ dưới lên, nhưng tôi không phải là một người chuyên làm lý luận văn học, nên không phải phát ngôn bài bản nhà trường một cách chính thức và chính thống” (tr.10), tức từ trên xuống. Thực ra, đây là một uyển ngữ, Đỗ Lai Thúy không hướng đến sự quy phạm, “trong suốt”, không phải bởi nhà phê bình xuất thân ngoài môi trường chính thống, mà lựa chọn, lại mượn lối nói của Compagnon, văn chương và cảm nghĩ thông thường, mới là mục đích. Nó làm cho tác phẩm phê bình trở nên “mờ đục”, giàu tính nghệ thuật. Chỉ có điều, chính ở chỗ này, Đỗ Lai Thúy đã chọn cho mình một con đường khó. Cái khó thứ nhất, ấy là phải trình bày lý thuyết trong chính đời sống sinh động của nó, với tất cả những tranh luận học thuật (và ngoài học thuật) sôi nổi của nó, thậm chí, những bài bác, hiềm khích, xúc xiểm. Cái khó thứ hai, là phải trình bày lý thuyết bằng diễn ngôn thông thường về những khái niệm đã quen thuộc đến sờn mòn, nhưng cuối cùng vẫn phải mang đến những cái nhìn mới, những khám phá và diễn giải mới, điều mà ngay cả diễn ngôn khoa học, diễn ngôn chuyên ngành cũng không dễ dàng gì đạt được. Chính điều này làm cho công trình, ở chỗ nào cũng thấy như “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, cũng như vừa thiếu vừa thừa,… nhưng tổng thể cả công trình thì lại có nét mới, đúng hơn, quen thuộc mà vẫn mới mẻ. Đó là lý do để khi chỉ đọc một phần của công trình, người ta có thể dễ dàng bài bác, bắt bẻ. Nhất là khi sự đọc ấy, lại không xuất phát từ những “thỏa ước” công trình là diễn ngôn lý thuyết, phê bình hay lịch sử văn học như đã nói ở trước.

Tuy vậy, nếu có ít nhiều, hạn chế của mô hình nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy lại không xuất phát từ những điều ngoại tại như thế mà xuất phát từ chính bản thân nó. Điều mà Đỗ Lai Thúy đã ý thức được một cách rõ ràng, ở khía cạnh chung, không có lý thuyết và phương pháp nào đó duy nhất đúng, tuyệt đối hoàn hảo, và ở khía cạnh cụ thể, “sự trình bày theo mô hình này hẳn nhiên không tránh khỏi đôi lúc phải giản lược hóa hoặc gây cho người đọc cảm giác bị áp đặt” (tr.9). Tất nhiên, những “khiếm diện” này, sẽ được giải tỏa khi bạn đọc lật đến trang cuối cùng của cuốn sách, khi nhận biết được giả thuyết khoa học mà Đỗ Lai Thúy muốn đưa ra. Hóa ra, khoa học văn học, với Đỗ Lai Thúy, đó không chỉ là “một phương thức tồn tại, một cách để mình được trở thành mình” trong đời sống thường nhật, mà quan trọng hơn, trong khía cạnh quan niệm, xét đến cùng, khoa học văn học là đưa ra các giả thuyết và thao tác với các giả thuyết ấy. Sự hình thành của các lý thuyết cũng vậy, chỉ khi đã đi hết cái giả thuyết mà lý thuyết cũ đưa ra, nhận thức thấu triệt và nảy sinh ý thức phản tỉnh, thì lý thuyết mới mới được ra đời. Đóng góp của Đỗ Lai Thúy trong khoa học văn học, vì vậy, trước hết ở các cách nêu ra giả thuyết, và cố nhiên, theo sau đó, với kết quả đạt được, vẫy gọi sự suy tưởng, phản tỉnh, mà nói như chính cách của Đỗ Lai Thúy, trình bản thân ra như một thực thể “người đọc được/bị đọc”./.

Đoàn Ánh Dương

------------

(*) Bài đã đăng trên Văn nghệ với tiêu đề “Lý thuyết, phê bình và lịch sử”, đây là bản đầy đủ của tác giả.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác