Tư liệu văn học


Ngay từ những ngày đầu thành lập, Hội Nhà văn Việt Nam đã chú trọng đến công tác giới thiệu, tiếp thu những thành quả lý luận và kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn thế giới. Một trong những hoạt động thể hiện chủ trương đó là sự kiện - ngày 20 tháng 4 năm 1957, Ban Văn học đối ngoại của Hội Nhà văn ra thông báo/tài liệu số 8 gửi tới các hội viên. Dưới đây chúng tôi giới thiệu lại “Tài liệu số 8”, và trích đăng một bài dịch trong tài liệu số 11, 14 (tháng 7 & 12/1957).

 

 

HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Ban Văn học đối ngoại

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tài liệu số 8

---0---

 

Tháng 4/1957

 

 

Kính gửi: Anh chị em văn nghệ sĩ

Ban đối ngoại thuộc Hội Nhà văn Việt Nam bắt đầu từ tháng 4/1957 xin gửi các đồng chí nhà văn mỗi tháng một tài liệu về sáng tác hay lý luận văn học nước ngoài để các đồng chí nghiên cứu.

Các tài liệu này có mục đích lấy các kinh nghiệm văn học nước ngoài góp phần thúc đẩy phong trào sáng tác của các anh chị em nhà văn ta.

Để tiếp tục công việc của Ban Văn nghệ đối ngoại thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam cũ, chúng tôi xin ghi tài liệu gửi lần này là số 8

Vì chưa có đủ cán bộ để dịch các tài liệu nước ngoài ra tiếng Việt, nên chúng tôi thường gởi nhiều tài liệu nước ngoài bằng tiếng Pháp. Mong các bạn hiểu cho.

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 1957

Hội Nhà văn Việt Nam

Ban Văn học đối ngoại


*


Sáng tạo và phân tích

Nếu người ta có thể đưa lên phim và ghi lên đĩa, nội dung một cuốn tiểu thuyết, thì chúng ta có thể nhìn lên màn ảnh thấy được khuôn mặt, vóc dáng, cử chỉ, điệu bộ của các nhân vật, nghe máy hát, ta thấy lời họ nói. Nhưng ta vẫn thấy thiếu một cái gì: ta thấy thiếu cái mà tác giả đọc thấy trong tâm hồn các nhân vật của mình và nói lên.

Vậy phim ảnh và đĩa hát chỉ cho ta thấy hành vi của các nhân vật. Cái mà cả hai không thể hiện được là phân tích tâm hồn nhân vật.

Ở bài này, chúng tôi nói về việc thể hiện hành vi (comportisme) và phân tích (analyse). Nhưng danh từ (comportisme) thể hiện hành vi ít dùng quá, nên chúng tôi thay nó bằng danh từ sáng tạo (création) là danh từ quen thuộc hơn - mặc dầu, phân tích giúp cho sáng tạo, hai danh từ sáng tạo và phân tích không hoàn toàn đối lập nhau. Ngoài ra, cũng xin độc giả hiểu danh từ sáng tạo ở đây theo nghĩa hẹp của nó: là thể hiện nhân vật và hành vi của họ, nghĩa là toàn bộ những lối thể hiện cụ thể nhân vật có thể thực hiện được.

Trong tác phẩm của bất cứ nhà văn xuôi có tài nào, sáng tạophân tích cũng đan xen với nhau, trong một tỉ lệ nào đó. Chẳng hạn trong cuốn tiểu thuyết Adolphe, chủ yếu là phân tích, nhưng cũng có một phần sáng tạo tối thiểu cần thiết. Trái lại, trong những truyện ngắn của Maupassant, là tác phẩm chủ yếu sáng tạo, cũng có phần phân tích tối thiểu cần thiết. Trong các tiểu thuyết của Tolstoi, thể hiện cuộc sống một cách phức tạp, hai yếu tố sáng tạo và phân tích xen nhau trong một tỉ lệ thường (chữ tỉ lệ thường còn cần phải định nghĩa lại, nhưng trước hết, hãy nói rõ là tỉ lệ ấy thay đổi theo đối tượng).

Cũng có những tác phẩm có thể dùng làm những vở thí nghiệm, được sáng tác ra đặc biệt nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề văn học, trong những tác phẩm đó các yếu tố rời rạc như trong những cuộc thí nghiệm ở phòng thí nghiệm. Thí dụ về một tác phẩm loại này là cuốn tiểu thuyết mới đây của Mauriac: Sa mạc tình yêu. Trong tác phẩm về loại này, loại thể hiện cuộc xung đột giữa nhiều nhân vật, đáng lẽ phần sáng tạo phải dồi dào. Trong cuốn tiểu thuyết ấy, có ba nhân vật chính. Người đọc thấy những nhân vật ấy mờ mờ. Nhà văn nói khá nhiều về các nhân vật nên có thể xếp được chúng vào loại người nào, nhưng tác giả không sáng tạo ra chúng, không cho chúng có cá tính: những nhân vật ấy không “sống”. Một nhân vật điển hình thứ yếu, là mụ vợ viên thầy thuốc, sống hơn nhiều. Nhưng phần phân tích tâm hồn của tác phẩm thì thực tế nhị xiết bao!”. Cái lối tháo gỡ, từng cái một, những bánh xe của tâm hồn các nhân vật, của tâm hồn hay nói đúng hơn là của mấy lối cảm nghĩ của nhân vật thực khéo léo biết bao. Nhưng những tâm trạng ấy không có một chỗ tựa khá rõ rệt: mà bị gán cho những người nào đó, ngẫu nhiên họ trải qua những tâm trạng ấy. Cuốn tiểu thuyết này là một tập những nhận xét sâu sắc về tâm hồn con người thì đúng hơn. Nhân vật của nó “cạnh tranh yếu với hộ tịch” (có nghĩa là không rõ nét, kém sinh động - AH)

Một trường hợp cực đoan.

Hồi xuất bản tác phẩm Hai khổ não: cái chết và tình yêu của J.Rostand là một tập văn gồm những suy nghĩ về tình yêu, về mối lo sợ chết, có một nhà phê bình Pháp đã nhận xét là phần nói về tình yêu của tác phẩm này là một cuốn tiểu thuyết viết dưới hình thức những câu châm ngôn. Trước khi đọc lời nhà phê bình Pháp kể trên, tôi cũng đã có cảm giác như vậy… Riêng cá nhân tôi, tôi có cảm tưởng tập châm ngôn ấy là một cuốn tiểu thuyết vì từ nội dung những câu châm ngôn, từ quan hệ giữa chúng với nhau và do những rung động của chúng, toát ra một sức mạnh bi thiết về tâm lý, nó làm lộ ra một kinh nghiệm nghệ thuật độc nhất và liên tục (expérience et continue). Tôi nói thế, nghĩa là những ý nghĩ ấy hình như ghi chú gọn lại mọi giai đoạn của một cuộc thử thách tình cảm đã sống qua. Vậy đấy là đỉnh chót của loại “tiểu thuyết” phân tích, một thứ phân tích cô đọng, trình bày thành những châm ngôn, không có sáng tạo, không có ẩn ý, không có một hình thể nào để tựa - những yếu tố này hoàn toàn bị gạt bỏ.

Anatole France trước kia có một lần đã nói là thời đại chúng ta là thời đại phê bình và có thể là việc phê bình sẽ gạt hết mọi thể văn khác. Cuốn Tình yêu của J.Rostand, trong một ý nghĩa nào đó, là lối phê bình, hay phê bình chủ nghĩa thì đúng hơn, thay thế cho lối tiểu thuyết tình cảm.[…]. Trong tiểu thuyết ngày nay, người ta có thể gọi là muốn nhét gì thì nhét. Cái quyền tự đo đó có chính đáng hay không là một chuyện khác. Nhưng bước “tiến hóa" này của tiểu thuyết là một sự thực.[…]

Sáng tạo cao hơn phân tích. Nghệ thuật văn học có thể không cần có phân tích mà vẫn tồn tại, nhưng không có sáng tạo thì nó không còn nữa. Có một thể văn do bản chất, là thuần túy sáng tạo, đấy là thể kịch đã được mấy nhà sáng tạo lớn làm rạng rỡ. Cái lối tự phân tích như trong những đoạn tâm sự, độc thoại, không phải là tác giả tự phân tích, đấy chỉ là một trong nhiều lối biểu hiện nhân vật, dùng để nêu đặc tính nhân vật mà thôi.

Những nhân vật điển hình sinh động nhất thường chỉ thấy có ở những nhà văn chủ yếu sáng tạo chứ không thấy có ở những nhà văn phân tích và cái đó cũng rất tự nhiên. Marcel Proust là một trường hợp đặc biệt, cũng đặc biệt như lối phân tích của ông… Proust là một nhà văn lớn đã sáng tạo nên những vũ trụ bên trong.

Những công trình sáng tạo trứ danh nhất, những cái mà chúng ta coi như những nhân vật thực và đã khai sinh ra từ lâu (ont tranché depuis longtems leur cordon ombilical), những nhân vật tách rời xa cả tác phẩm lẫn tác giả (rất khéo đến nỗi khi ta nói Tactuyp (Tartuffe) chẳng hạn hay “một cử chỉ taptuyp" chúng ta không hề nghĩ đến vở kịch, đến tác giả của nó) là Don Quichoite, Tartuffe, Acpagông (Harpagon), Hamlet, Othello, Romeo, Juliet (tôi chỉ kể mấy tên nổi tiếng nhất) là những nhân vật mà tên đã thành danh từ để ta so sánh và có một vài tên đã đẻ ra những chữ như chủ nghĩa Đông-ky-sốt, chủ nghĩa Ham lét….

Trừ Don Quichoite ra, các nhân vật sáng tạo ấy đều là những nhân vật điển hình trên sân khấu.”

G.Ibraileanu (Tài liệu số 14, tháng 12/1957)

 

Công việc viết văn của tôi

[…] Bệnh nhác lười đôi khi khoác áo thận trọng cao thượng và cả khôn ngoan nữa. Nào không nên vội vã, nào chưa sẵn sàng, ý nghĩ chưa được chín chắn, nào giọng văn chưa thích hợp, danh từ chưa được đúng.

Có thật vậy không? Chúng ta phải tập phân biệt đâu là thật đâu là giả.[…]

“Không có cảm hứng thì không có công trình có giá trị khả dĩ trở thành bậc thầy trong nghệ thuật của mình, nhưng không có khó nhọc làm việc thì không có cảm hứng”

Đấy là cách giải quyết chân chính của vấn đề.

Viết, ngày nào cũng viết, tất cả là ở đấy.

Gogol có nói: “người viết văn không nên ngừng bút viết cũng như họa sĩ không nên ngừng bút vẽ. Ngày nào cũng phải viết. Cần phải rèn sao cho bàn tay hoàn toàn vâng theo tư tưởng"

Một nhà dương cầm nổi tiếng thế giới có nói: “Nếu tôi nghỉ đàn một ngày, chỉ có tôi mới nhận thấy điều đó, nếu tôi nghỉ hai ngày, bạn bè tôi nhận thấy, nhưng nếu tôi nghỉ một tuần, công chúng của tôi bắt đầu biết ngay"

Trong tập nhật kí của Stendhal viết năm 1804 ta thấy có đoạn viết: “Tôi cố ép mình viết vở To the good Party mặc dầu không thích viết, và ngay bữa cơm sáng cũng làm tôi thấy nặng nề, thế mà rồi tôi cũng viết được một màn kịch hay nhất tôi chưa từng viết được, là màn thứ 3 của cảnh một"

Heine cũng đã nói: “Người ta bình luận, nào đột nhiên thấy, nào cảm hứng và nhiều thứ na ná như vậy. Tôi thì tôi viết như anh thợ kim hoàn chạm trổ một dây chuyền bằng vàng, lắp những mắt dây chuyền lại với nhau"

Một trăm năm sau, Nikolai Ostrovsky cũng nói: “điều mà tôi tin chắc là cảm hứng đến với ta, chính trong lúc ta lao động viết. Nhà văn phải làm việc, lúc nào cũng vậy, lúc vui cũng như lúc bực mình bao giờ cũng phải thận trọng như bất cứ một người xây dựng đất nước nào khác trong chúng ta" […]

Tôi muốn nói rõ một chút về tình cảm thường đi liền với sáng tạo nghệ thuật, đôi khi lừa dối ta.

Những người thường hay mắc nhất là những nhà văn mới, thường không biết đến những mưu mẹo của cảm hứng, hay nói cho đúng, của cảm hứng giả tạo.Chính về cái cảm hứng giả tạo này, Stanislaiski có nói trong tác phẩm của mình : “tôi ngột ngạt đến không thể nói được và tôi tưởng nhầm những phút bị kích thích quá độ, những phút bị khích động đó là cảm hứng thật". Flaubert đã thẳng tay ngăn ngừa: “Phải coi chừng tất cả những cái gì giống như cảm hứng mà thường chỉ là thành kiến và mỗi phấn khởi giả tạo mà ta tự tạo cho chính mình chứ không phải tự nó đến với ta".

Tất cả các nhà văn, nhất là những nhà văn trẻ, […] ai cũng phải coi chừng cái cảm hứng giả tạo.

Đã biết bao lần chúng tôi đã nhận được những bức thư chán nản của những bạn đồng nghiệp trẻ. Theo thời gian, có bạn trở thành nhà thơ, có bạn có lẽ vĩnh viễn không bao giờ thành. Thường thường các bạn ấy viết: “các anh các chị đã phê bình tàn nhẫn thơ tôi. Các anh các chị đã không thích những câu thơ ấy và đã nghi ngờ tài năng của tôi. Lúc viết nó tôi đã cảm thấy nhiệt tình sôi sục trong người tôi. Tôi run lên, ngây ngất như đàn kiến bò khắp người, và ngòi bút phải khó nhọc để theo kịp ý nghĩ"

Nếu gọi đó là cảm hứng, nó chỉ là giả tạo. Đây chỉ là một thứ kích động mạnh mẽ, một thứ tràn ngập tình cảm, nó tìm một lối thoát dưới một hình thức đặc biệt: là những vần thơ.[…]

Trong một bài viết về Alfred de Musset, Puskin nói: “Viết cho hẳn hoi về những đề tài thông thường thật là khó. Khó thực. Khó quá"

Nhưng đôi khi cái khó khăn lại từ chỗ dễ quá. Người ta viết dễ dàng quá. Cái đó cũng nhiều nguy hiểm.[….]

Chúng ta đều biết rõ là không thể cứ đem nguyên văn lời nói hàng ngày đặt vào trong tác phẩm văn học. Cái đó, chúng ta ai nấy đều rõ, thế mà đôi khi chúng ta cũng quên đi. Một số câu thơ nhạt nhẽo vì đó là kết quả của lối dùng lời nói vào trong văn học một cách sai lầm. Ta không nên bao giờ quên những lời Gogol nói về Puskin và về thơ ca: “Puskin không bao giờ bắt tay vào làm thơ lại không tắm gội cho nó, ông chỉ mang vào thơ cái gì đã suy nghĩ chín chắn, không sơ xuất, không đến thẳng ngay từ đời mình; thực tế do nhà văn đem vào thơ không trần truồng, lôi thôi lếch thếch". Hiển nhiên là Gogol không phản đối việc thực tế can thiệp vào thơ. Những câu thơ của Puskin như “Tôi nhớ lại cái phút kỳ diệu" cũng thuộc về thực tế, nhưng thực tế đã được nghiền ngẫm, gột rửa cẩn thận. Trong thơ, thực tế được trình bày một cách tinh tế biết bao.

Vera Ilber (Tài liệu số 11, tháng 7/1957)

 

An Huy sưu tầm và giới thiệu

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác