Trịnh Thị Ngọc Trúc với bộ từ điển Hán Nôm cổ nhất

TS Hồ Bá Quỳnh

(Toquoc)- Chưa rõ năm sinh năm mất, nhưng lịch sử đã khẳng định bà là con gái của Thanh đô vương Trịnh Tráng. Mà chúa Trịnh Tráng sinh năm 1576, vậy thì bà sinh vào khoảng trước, sau năm 1600. Quê gốc bà ở làng Sóc Sơn huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá. Bà là con gái của chúa.

Lch s nước ta thi vua Lê, chúa Trnh đã viết:

“Vua ngi làm vì, chúa gi quyn chính tr”, Cho nên bà Trnh Th Ngc Trúc được sng đầy đủ, hc hành chu đáo cũng là l đương nhiên. Theo c Trn Văn Giáp thì b T đin Hán-Nôm c nht nước ta có tên gi “Ch Nam Ngc Âm gii nghĩa” là ca tác gi Trnh Th Ngc Trúc(1)

Có người nói rng thi phong kiến, con gái không được hc hành. Điu đó đúng vi phn đông dân dã ch không đúng vi tt c ph n, vì sau bà Trúc còn có n s H Xuân Hương, “bà chúa thơ Nôm, k v độc đáo đứng vào bc nht trong văn hc Vit Nam”(2). Ri bà huyn Thanh Quan (Nguyn Th Hinh), tuy ch là v mt ông quan huyn mà được vua mi vào cung dy ch cho các cung phi, công chúa, thơ bà hay đến mc các thy hc dy thơ thường ly bài “Vnh đèo Ngang” ca bà làm mu cho hc sinh. Nước ta thi phong kiến còn rt nhiu nhà văn nhà thơ n như Đoàn Th Đim, Nguyn Th L… cũng rt ni tiếng. Vy thì bà Trnh Th Ngc Trúc, con chúa Trnh Tráng, li là Chính cung Hoàng hu ca vua Lê Thn tông (1619-1662), người hai ln làm vua và hai ln làm Thái Thượng hoàng, cho nên bà được hc rng, hc sâu và có tài cao là điu d hiu.

Có thuyết cho rng: “Ch Nam Ngc Âm gii nghĩa” ra đời t thế k XV, li có thuyết bo ra đời cui thế k XVIII. Tuy nhiên c hai thuyết này đều không đưa ra tên tác gi mà ch da vào kiu ch đơn, chp hoc da vào loi hình gi tá hay hình thanh hoc vay mượn ch Hán…để đoán định b T đin này phi ra đời sm hay mun hơn so vi thi bà Trnh Th Ngc Trúc. Chúng ta đều biết rng ch Nôm được ra đời khá sm. Nó là sn phm ca nhng nhà túc nho có lòng yêu nước và t hào dân tc cao. Ch Nôm chính là ch ca tiếng nói m đẻ. Có mt nhà văn nói, đại ý: Khi mt dân tc b mt nước mà h gi được tiếng m đẻ ca mình thì sm mun h cũng giành được độc lp. H Quý Ly và Hoàng đế Quang Trung ch trương phát trin mnh m ch Nôm có l cũng vì lý do đó. Chúng ta li cũng biết ch Hán có hai cách viết là viết đơn và viết kép. Ngoài ra còn có cách chép thư pháp. Ngay như ch quc ng hin nay cũng nhiu ch viết tt.Vic mượn ch Hán thì ngày nay ta cũng đã Vit hoá đi nhiu…Vy thì vic bà Trnh Th Ngc Trúc dùng ch đơn, ch kép hay mượn ch Hán… là tu vào ng cnh c th trong khi viết. Song chúng ta có th khng định rng bà có lòng yêu nước, t hào dân tc và yêu tiếng m đẻ nên bà mi viết được b t đin Hán-Nôm ln như vy, công phu như vy.

Li có người cho rng h Trnh ghét ch Nôm. Thế thì ti sao các chúa Trnh li làm nhiu bài văn, bài thơ ch Nôm đến thế? Ví như chúa Trnh Kim có rt nhiu bài văn bài thơ bng ch Nôm, chúa Trnh Căn có 90 bài thơ Nôm ln Hán, Trnh Doanh có tp 240 bài thơ Nôm. Trnh Cương cũng có tp thơ Nôm “Ng chế thi tp”(3). Th xem, các v vua chúa thi phong kiến, ngoài vua Lê Thánh tông ra, có ai làm nhiu thơ văn ch Nôm hơn các chúa Trnh? Hơn na, b đẻ ca Trnh Th Ngc Trúc là chúa Trnh Tráng đã làm nhà th đô Thăng Long cho A-lếch-xăng Đơ- rt lin trong ba năm (1627-1630) để viết cun t đin Vit-B Đào Nha(4). V ý nghĩa, cun t đin này cũng đề cao tiếng m đẻ ca dân tc Vit.

T phân tích trên, chúng tôi nht trí như lp lun ca c Trn Văn Giáp cho rng cun T đin Hán-Nôm c nht nước ta có tên “Ch Nam Ngc Âm gii nghĩa” là ca tác gi Trnh Th Ngc Trúc.

Theo cun “Ch Nam Ngc Âm gii nghĩa” do tiến s Trn Xuân Ngc Lan phiên âm và gii nghĩa, NXB KHXH, Hà Ni, năm 1985 thì đây là b T đin Hán-Nôm c nht nước ta, có ti 3.394 mc t được xếp thành 59 chương đủ các lĩnh vc hot động xã hi như thiên văn, địa lý, công nghiệp, nông nghip… chia thành hai quyn:

Quyn thượng gm 30 chương: Thiên văn, địa lý, nhân luân, thân th, tng ph, thc b, m b, binh b, y quan, cm tú, cung tht, chu xa, nông canh, hoà cc…

Quyn h gm 29 chương: Vũ trùng, mao trùng, lân trùng, giáp trùng, mc b, hoa b, qu b, căn đằng, nam dược, nhc khí, binh khí, pháp khí…

C mi mc t là mt câu thơ gii nghĩa mc t đó; mi chương là mt bài thơ lc bát, cui chương li có phn b di để gii nghĩa c th ca nhng mc t mà câu thơ chưa tht rõ nghĩa. Theo Tiến s Trn Xuân Ngc Lan thì xếp b t đin Hán-Nôm này vào loi trung, nhưng theo thin ý chúng tôi thì nên xếp vào c ln, độc đáo, vì:

Cách đây gn 400 năm, t ng ca chúng ta chưa nhiu, mà b t đin “Ch Nam Ngc Âm gii nghĩa” đã có 59 chương đầy đủ các loi hot động ca xã hi t thiên văn, địa lý, công nghip, nông nghip, thương nghip, giao thông vn ti… cho đến chính tr, quân s, pháp lut. Đặc bit, bà để hn mt chương để gii thiu “Nam dược tr Nam nhân” chng t bà là mt người có tinh thn dân tc, tính t ch rt cao.

Tính độc đáo ca b t đin này ch: T đin mà viết bng thơ vi 3.394 mc t, bình quân mi mc t là mt câu thơ để gii thích mc t đó. Ví d:

- Hin thê- khôn khéo v hin.

- Tiu nhi- con mn, tui còn lên ba.

Cũng có mt mc t phi đến hai câu để gii nghĩa. Ví d:

Sánh ngôi Hoàng hu nguyên phi

Sm hôm la giúp năng dè b trong

Nhĩ kiu là hai l tai

Gm nghe thiên h mi li Thiu Ung (5)

Tâm tng hiu là quả tim

Nng mười hai lng chng h có lông

Vân vân…

Như vy có th xem b t đin như mt tp thơ gm 59 bài tng cng 3.394 câu thơ lc bát, có th gi là tp trường thi.

T khi b t đin Hán- Nôm “Ch Nam Ngc Âm gii nghĩa”ca bà Trnh Th Ngc Trúc ra đời đến nay đã gn 400 năm chưa có b t đin nào bng thơ đầy đủ mi hot động xã hi như thế. Vy bà Trnh Th Ngc Trúc tht xng đáng là mt người ph n Vit Nam đi trước thi gian.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác