Trịnh Bửu Hoài và mối lương duyên với thơ



(Toquoc)- Theo Vũ Quần Phương, để thơ bớt khó và dễ cảm thì mỗi khi viết thơ, nhà thơ nên cân nhắc mình sẽ viết cho người khác hay chỉ là viết nhật ký; bởi mỗi con người là một vũ trụ và muôn đời chúng ta luôn hoài vọng, khao khát “làm sao biết những nỗi đời riêng, để yêu thêm yêu cho nồng nàn” (Như một lời chia tay - Trịnh Công Sơn); và “Trong hành trình đi vào bản thể, hướng tới con người cá nhân ấy, nhiều nhà thơ chúng ta đã lạc bước vào những cái tôi tủn mủn, nhỏ nhặt... họ tung hô chủ nghĩa cá nhân, ca tụng cái riêng tư không đại diện, không liên quan đến ai”. Hiện tượng Trịnh Bửu Hoài với Thơ trong nhật ký là một ngoại lệ, hay nói nói đúng hơn là sự lộn trái ý kiến trên của Vũ Quần Phương. Thơ trong nhật ký không những “xuất thân” từ nhật ký mà còn đạt đến lãnh địa của triết lý về thơ mang tính phổ quát, ở đó có cuộc hôn phối tưng bừng giữa tâm hồn chàng thi sĩ tài hoa và nàng thơ kiều diễm.

Sự ra mắt tập thơ là một kỳ duyên như lời tâm sự của chính tác giả, như là sự kỳ ngộ của đôi tình nhân, do chiến tranh, di tản mà để thất lạc nhau với biết bao nuối tiếc khôn nguôi... Hôm nay tình cờ gặp lại, khó mà nói cho hết sự ngỡ ngàng sửng sốt như sự hân hoan của thi nhân tìm lại được đứa con tinh thần của mình!

Trịnh Bửu Hoài và mối lương duyên với thơ - ảnh 1

Trịnh Bửu Hoài đã xuất bản 23 tập thơ, nhưng Thơ trong nhật ký là tập thơ đầu tay của tác giả khi đương thì tuổi đôi mươi, đầu tay theo cái nghĩa khởi đầu, khi chàng chưa phải là nhà thơ, chỉ toan tính trở thành thi sĩ. 79 bài thơ được viết khi nhà thơ còn rất trẻ, trẻ tuổi và trẻ lòng: “Những bài thơ này là những giọt máu từ trái tim, là kỷ niệm của một thuở ban đầu, ban đầu của thơ và ban đầu của tình yêu”.

Không ít nghệ sĩ đến với nghệ thuật, thơ ca chỉ như một quán nhỏ mời gọi hay một bóng mát tình cờ, hiếm người có được cơ duyên gặp gỡ và nguyện thề gắn bó thủy chung với thơ như Trịnh Bửu Hoài. Ai cũng có tuổi trẻ và những bước chập chững đầu tiên trên con đường sự nghiệp, nhưng mấy ai ngay từ đầu đã quả quyết xác định cho mình một lối đi riêng giữa biết bao mê lộ biến thiên của thời cuộc? Trịnh Bửu Hoài dường như không một giây khắc đắn đo, bởi anh sinh ra cùng với sứ mệnh là thi sĩ. Nhà thơ vui mừng loan báo niềm tin yêu vĩnh cửu và sự bất tử của nàng thơ trong huyết quản và linh hồn mình:

Những vần thơ cho em

Chảy từ máu tim anh

Nhẹ nhàng

Trong xanh

Như tình anh

Dưới bóng mặt trời

(Làm thơ)

Hầu hết, những bài thơ Thơ trong nhật ký đều ngắn gọn, dung dị, tự nhiên mang tính triết lý, chứa đựng một niềm tin chắc nịch và sự mạnh mẽ của tuổi trẻ đầy đam mê và nhiệt huyết. Dù còn rất mộc mạc, song nhiều bài, ý thơ sắc sảo mà Yên Uyên Sa gọi đó là “tia chớp loáng sáng rực trên bầu trời tối”.

Tập thơ là những nhận định mang tính chất nguyên lý về sứ mệnh của thi sĩ, về thơ. Sứ mạng của thi sĩ là Viết,Làm thơ, Tiên tri... Nhựa sống của thi nhân là Viết, Yêu và đó cũng là Tuyệt lộ của đời chàng, nhiều niềm vui song cũng nhiều đớn đau trong tột cùng của sự sáng tạo:

Ôi hồn lẩy bẩy trong từng hơi thở

Ta dính vào thơ rồi

Thơ hút máu ta

Đêm nay

Sung sướng đến rợn người...

(Thơ của ta)

Tình cảm đối với thơ không chỉ thường trực cần thiết, nồng nàn như anh đối với người tình “lúc làm thơ là lúc yêu em tột đỉnh” mà trước hết làm thơ là xác định sự tồn tại của anh trên mặt đất này với tư cách là nhà thơ:

Viết

Viết suốt ngày

Suốt tháng, suốt năm

Suốt đời

Vẫn chưa hết những gì muốn viết

 

Viết

Mới biết còn no

Viết

Mới biết còn sống

(Viết)

Anh xem Viết là nhu cầu, mục đích là nguồn sống suốt đời của mình:

Viết

Là nhựa sống

Viết

Là châm cho hồn cháy bỏng

Trong ngọn gió ban mai.

(Nhựa sống)

Nếu Xuân Diệu đặt chân vào địa hạt thơ ca với quan niệm thăng thiên của một nhà thơ lãng mạn: Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây (Cảm xúc) thì Trịnh Bửu Hoài dù tụng ca hay nguyện cầu cũng đều hướng về cuộc sống trên mặt đất đầy tươi đẹp và đau thương này:

Thi sĩ là kẻ trời sai xuống

Làm đẹp cho đời

Hay là người từ trên trời trốn xuống

Khóc cho đời...

(Thi sĩ)

Anh nhận thấy, chất liệu của thơ ca cũng mọc lên từ cuộc sống này, đặc biệt là nỗi đau khổ khốn cùng, niềm đắng cay tuyệt vọng, hay những tội lỗi ở mỗi chúng ta - những người trần mắt thịt,... nhưng bằng trái tim nhạy cảm, bao dung, trí lực sáng tạo phi phàm, và ngôn từ phù thủy, thi sĩ sẽ tái tạo cuộc sống theo quy luật của cái đẹp:

... Thi sĩ là kẻ đến nhận những tội lỗi đó

Để có những vần thơ đẹp...

(Người đẹp)

hay:  Thi sĩ ơi

Nỗi đau khổ tột cùng của chàng

Là sự nghiệp vĩ đại

(Nỗi đau)

Chàng thi sĩ trẻ ấy tự nguyên Hiến dâng và bình thản chấp nhận trọn vẹn nỗi đau để lắng lọc và thăng hoa nguồn thơ:

Tình yêu như con dao nhọn

Đâm vào trái tim ta

Và máu chảy

Em ơi

Lênh láng nguồn thơ...

(Tình yêu em)

Quan điểm đó như “mặt trời chân lý” không chỉ soi sáng đường thơ mà còn là Tuyệt lộ của đời anh như sự cao cả của thiên chức người nghệ sĩ. Có được yếu tính đó là bởi, xuyên suốt trong thơ Trịnh Bửu Hoài cắm rễ một niềm tin mang màu sắc huyền thoại:

- Thi sĩ là sứ giả của Thượng đế

- Nhà thơ là kẻ tiên tri

Hay: Thi sĩ là kẻ trời sai xuống

.... nên trong tâm thế là thi sĩ Trịnh Bửu Hoài mang khát vọng “Cái đẹp cứu vớt thế giới” (Dostoievski):

Thi sĩ

Viết là vẽ bùa niệm chú

Cho trái tim quả đất hồi sinh...

(Tuyệt lộ)

Thi sĩ trong quan niệm Trịnh Bửu Hoài vừa lớn lao, cao cả, vĩ đại như vị thần ở đỉnh Olympe, vừa đời thường như một con người trần thế. Vì thế, quan niệm về thơ của anh cũng có một biên độ rộng khôn cùng: từ một ngày thường với niềm vui, đau khổ, tuyệt vọng... đến những vấn đề nhân sinh của cõi đời và kiếp người. Thơ là thiên đường giữa địa ngục (Thiên đường); là Yêu, là Tình, là Tơ tình; là Rêu, là Mưa chiều; Hồn, Hư, Nhảm; là Tuyệt Tuyệt vọng; Khoái Cô đơn; Em Ta;Tuổi trẻ  Nhan sắc, Ngôn ngữ Hạnh phúc; Thơ Thiền... Tất cả hòa quyện trong Máu tim, tinh huyết vũ trụ:

Đừng để trái tim này vỡ tung

Máu tung tóe ba vạn tầng xanh

Máu là thơ

Vô lượng năm sau

Loài người vẫn còn ngợi ca

Những giọt máu ấy...

(Rêu)

Ở đó cũng chứa đựng suy ngẫm về thơ, thơ là Hoa đời, Nàng thơ Kết tinh vẻ đẹp của tạo hóa. Một mình nhà thơ không thể tô vẽ nên cái đẹp mà đó là một quá trình giao hợp chuyển hóa:

Một mình nhà thơ không thể sinh ra thơ

Nhà thơ phải giao cấu

Không giao cấu với tình nhân

Thì giao cấu với thiên nhiên

Giao cấu với cái đẹp

Kết tinh ra thơ...

(Kết tinh)

Nhà thơ dành nhiều đặc ân cho Em, Người tình, Người đẹp... Nàng dù cụ thể hay vô hình, dù mang lại hạnh phúc hay khổ đau, dù tình yêu nàng mang lại là mật ngọt hay trái đắng thì nhà thơ đều xưng tụng, cho đến hôm nay và cả mai sau, trước sau, chàng vẫn một niềm tri ân sâu sắc, bởi đó là tình yêu, lẽ sống khắc tạc nên “dáng hình” Trịnh Bửu Hoài.

Tôi hiểu vì sao Trịnh Bửu Hoài trân trọng trích dẫn Kahlil Gibran - kẻ tự cho mình là thi sĩ ngôn sứ mà tình yêu là mực long lanh trên nét chữ: “là con trai không thể đắm đuối trong tình yêu, nhưng hỡi ôi, tôi chỉ là một con người...”, bởi trước hết anh là con người trần tục, và hơn nữa, anh tìm thấy sự nghiệp trong tình yêu. Đó là sự nghiệp thơ ca. Song không phải là “trái tim anh chia ba phần tươi đỏ” kiểu Tố Hữu mà sự say mê, đắm đuối trong tình yêu để thăng hoa và bất tử nghệ thuật. Thơ và người tình, từ ban sơ đã có một sự tương ngộ, đồng nhất, bất biến:

Thơ

Người tình

Nỗi nhớ đầu tiên trong ngày

Và trước khi đi ngủ...

(Thơ)

Thơ đẹp như một nữ thần lõa thể là em, mà ta khó lòng tách bạch đâu là thơ, đâu là em trong hình hài nguyên nhất:

Ta ôm thơ trắng nõn

Hôn lên làn da thơm

Cắn vào môi thắm

Ngậm miết vú hồng

(Thơ của ta)                

Đặc biệt, với Trịnh Bửu Hoài, thơ là người vợ - người cùng xương thịt, tâm phúc tương tri. Còn hơn tất thảy mọi người vợ, thơ không chỉ cứu vớt mạng sống mà còn liên tục tái sinh bản thể thi nhân là sáng tạo:

Có người vợ nào có thể

Cứu vớt mạng sống của chồng

Mà thơ

Đang và đã và sẽ

Hồi sinh ta từng giây từng phút...

(Người vợ thơ)

Với Trịnh Bửu Hoài, cái đẹp - nàng thơ là tôn giáo, chàng tôn vinh và kính ngưỡng nó như chúa tể của mình, nên nàng hiển hiện trong sự toàn mỹ của tạo vật, và cái đẹp cũng là phần thưởng xứng đáng cho kẻ chiêm nghiệm và tôn thờ nó.

Vượt qua sự bào mòn nghiệt ngã của thời gian, thơ ca nói riêng và sáng tạo nghệ thuật nói chung không sừng sững như Kim tự tháp song vẫn bất tử vĩnh hằng. Nghệ thuật lưu giữ quá khứ song hành cùng thời gian, sự ra đời của Thơ trong nhật ký là minh chứng điển hình cho quan niệm đó.

Quá khứ

Là những bông hoa nở không bao giờ tàn

Ta làm thơ chiêm nghiệm quá khứ

(Quá khứ)

Tôi vui niềm vui của nhà thơ may mắn tìm lại được tập bản thảo, tìm lại tuổi trẻ của mình, tìm lại cả những mối tình ngày xưa... Tập thơ ra đời như là niềm tri ân mà đời dành cho anh bởi lòng thủy chung trọn vẹn với niềm tin, lý tưởng mà anh đã chọn. Mối lương duyên của Trịnh Bửu Hoài với thơ không chỉ là tiền định, tiên thiên mà quan trọng hơn, gần nửa thế kỷ trôi qua vẫn nồng đượm, thắm thiết nghĩa tình.

Nguyễn Thị Tuyết

-------------------------

1. Trịnh Bửu Hoài (2012), Thơ trong nhật ký, Nxb Hội Nhà văn, Tp Hồ Chí Minh.

2.Vũ Trọng Quang, Thơ trong nhật ký của Trịnh bửu Hoài nguồn: http://nhavantphcm.com.vn

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác